NGƯỜI VIỆN TRƯỞNG VỚI TRÁI TIM NHÂN HẬU.

4 tháng trước - Bởi Admin
Bình luận - 3.031 lượt xem

NGƯỜI VIỆN TRƯỞNG VỚI TRÁI TIM NHÂN HẬU.                                      

                        

Sau khi điều trị vết thương, tôi được chuyển ngành về Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Tham gia khóa đào tạo, nghiên cứu lý luận và thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, chúng tôi được điều về Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Lúc bầy giờ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có hai đơn vị làm nhiệm vụ kiểm sát điều tra: Vụ Kiểm sát điều tra án kinh tế (Vụ 2A) và Vụ Kiểm sát điều tra án trị an và an ninh (Vụ 2B). Tôi được điều về công tác tại Vụ 2B. 

Đến nay cuộc đời vẫn ghi đậm trong tâm khảm tôi là các vụ án điển hình mà tôi từng được chứng kiến, từng góp phần nhỏ bé của mình vào việc giải quyết các vụ án đó. Một trong những dấu ấn mà tôi không bao giờ quên về người Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Hoàng Quốc Việt. Ông không những là người có tinh thần đấu tranh không khoan nhượng với các loại tội phạm mà còn là người luôn hướng đến những công dân lương thiện bị vướng vào vòng lao lý với trái tim nhân hậu. Câu chuyện sau đây phần nào lý giải nhận xét trên.

Vào một ngày cuối năm 1975, bầu trời Hà Nội u ám, rét giữa đông như cắt. Tôi đang cắm cúi nghiên cứu tài liệu thì được phân công xuống Phòng Thường trực để tiếp công dân. Đến nơi, tôi đã thấy một người đàn ông trạc tuổi 65 đang ngồi co ro ở góc phòng. Đôi mắt ông sâu hoắm, vết rạn chân chim tràn đầy khuôn mặt vốn dĩ đã nhàu đi vì tuổi tác, vì thời gian. Trời rét căm căm mà ông chỉ mặc phong phanh chiếc áo bộ đội cũ kỹ, không khăn và cũng không mũ ấm. Khi tôi và người đàn ông ngồi đối diện vào bàn làm việc, tôi tự giới thiệu tên, chức vụ, đơn vị làm việc, có nhiệm vụ tiếp nhận đơn và ghi lời đề nghị của ông để báo cáo lãnh đạo…Nghe tôi giới thiệu xong, người đàn ông nhọc nhằn lên tiếng. Giọng ông run run, thỉnh thoảng bị đứt quãng bởi những cơn ho húng hắng:

-Xin chào cán bộ. Tôi là Nguyễn Thế Bưu, giáo viên trường cấp II, Trường Lý Thường Kiệt, Hà Nội, bị cáo trong vụ án 15 ngõ Yên Thế…

Ông nói càng lúc càng nhanh hơn, cứ như sợ bị người khác cắt ngang. Tôi phải cắm đầu tốc ký, không bỏ sót một từ nào. Nỗi oan khuất của vụ kỳ án xảy ra hơn 3 năm trước diễn ra rành rọt qua lời kể khó nhọc của người đàn ông khắc khổ Nguyễn Thế Bưu. Ông Bưu kể xong và chuyển cho tôi đơn kêu oan và Bản án sơ thẩm của vụ án trên đây. Tôi nhận đơn và nhìn ông Bưu:

-Bây giờ ông cứ về. Có gì chúng tôi sẽ thông báo cho ông về ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhé. Sau đó ông Bưu, bước đi chầm chậm ra khỏi cổng 44 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm Hà Nội.

Tôi cầm đơn và Bản án sơ thẩm lên báo cáo với bác Đặng Huy Phúc, Phó Vụ trưởng Vụ 2B và anh Hạ Bá Đoàn, tổ trưởng của tôi. Nghe tôi báo cáo xong, ông Phúc chỉ đạo:

-Trên cơ sở tài liệu này, đồng chí xây dựng báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đề xuất rút hồ sơ vụ án lên để nghiên cứu nhé.

Mấy ngày sau đó, tôi tập trung dự thảo báo cáo: Tóm tắt nội dung vụ án, kết quả phiên tòa sơ thẩm và nội dung khiếu nại của ông Bưu. Trong đó, anh Đoàn và tôi thống nhất nhận định: Bản án sơ thẩm có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng về tố tụng và sai lầm khi kết tội ông Bưu. Trên cơ sở này, báo cáo đề xuất xin rút hồ sơ vụ án lên nghiên cứu. Sau đó ít hôm, tại cuộc họp của Vụ, bác Phúc thông báo:

-Đồng chí Viện trưởng và tập thể lãnh đạo Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã nghe các đơn vị báo cáo kết quả xác minh và những vi phạm nghiêm trọng của bản án sơ thẩm số 59/HS2 ngày 26/4/1973 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt ông Nguyễn Thế Bưu và anh Nguyễn Văn Khánh về tội Cố ý hủy hoại tài sản riêng của công dân và tội Cố ý gây thương tích. Sau khi nghe báo cáo, đồng chí Viện trưởng đã kết luận: Qua thảo luận, tập thể lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao thấy rằng bản án sơ thẩm số 59/HS2 có nhiều vi phạm nghiêm trọng, quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án thiếu khách quan, toàn diện, có biểu hiện bao che kẻ phạm tội. Bác Phúc còn kể cho chúng tôi nghe, Viện trưởng Hoàng Quốc Việt rất bức xúc về quá trình điều tra, truy tô, xét xử cấp sơ thẩm có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng, xâm phạm quyền dân chủ cơ bản của công dân. Bác phúc kể: Khi nói đến đây, Viện trưởng Hoàng Quốc Việt nhìn mọi người:

-Tôi cũng nhận được một số thông tin về vụ án này. Trong đó việc điều tra, truy tố và xét xử cấp sơ thẩm là không khách quan. Người bị oan chính là ông giáo Bưu. Do vậy, tôi đề nghị, đối với vụ án này, tôi sẽ ký kháng nghị Bản án số 59/HS2 để yêu cầu xét xử lại theo hướng hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra lại từ đầu. Nếu phiên tòa phúc thẩm sắp tới hủy án mà giao cho các cơ quan tư pháp Hà Nội tiếp tục điều tra, truy tố, xét xử sẽ không khách quan và như vậy, nỗi oan của công dân không được giải quyết dứt điểm. Vì vậy, đề nghị giao hồ sơ cho cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiến hành điều tra lại từ đầu.

 Ngày 12/10/1973, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao đã tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án trên đây. Sau một ngày làm việc, Hội đồng xét xử ban hành quyết định số 396 ngày 12/10/1973, tuyên hủy bản án sơ thẩm số 59/HS2 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, giao hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra lại toàn bộ. Phòng điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã trực tiếp tiến hành điều tra vụ án này.

Trong cuộc họp của lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghe Vụ 2B và một số đơn vị báo cáo vụ án, tôi được tháp tùng bác Phúc dự họp, có nhiệm vụ ghi biên bản. Sau khi bác Đặng Huy Phúc báo cáo, các đồng chí lãnh đạo Viện kiểm sát tối cao phát biểu với nội dung nhất trí phải điều tra lại từ đầu theo kết luận của Bản án phúc thẩm. Kết luận hội nghị, đồng chí Viện trưởng Hoàng Quốc Việt, nhìn mọi người, chậm rãi:

-Chúng ta vừa nghe Vụ 2B và các đơn vị báo cáo vụ án Nguyễn Thế Bưu. Các đồng chí lãnh đạo cơ bản nhất trí báo cáo và đề xuất. Bản thân tôi cũng nhận được nhiều phiếu chuyển đơn của một số đồng chí lãnh đạo Đảng, nhà nước, yêu cầu giải quyết vụ án này một cách khách quan. Chúng ta không thể để giữa Thủ đô lại xẩy ra vụ án oan sai nghiêm trọng như thế này. Tôi cũng đề nghị vụ án này giao cho Cơ quan điều tra Viện kiểm sát tối cao trực tiếp điều tra. Vụ 2B có nhiệm vụ kiểm sát điều tra. Trong đó chú ý làm rõ trách nhiệm của những người có liên quan tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và một số lãnh đạo của Ủy ban Hành chính khu Đống Đa, Hà Nội trong việc đồng lõa với thị Hợi để chiếm đoạt nhà của ông giáo Bưu. Cần lưu y, vụ án đã giao cho các cơ quan thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện thì nhất thiết không được để xảy ra oan sai.

Cuộc điều tra vụ án ông giáo Bưu tại 15 ngõ Yên Thế được tiến hành một cách khẩn trương, khách quan, thận trọng. Sau khi kết thúc điều tra, tôi được bác Phúc giao nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ vụ án, dự thảo bản cáo trạng và ghi chép lại những lời khai mâu thuẫn của các bị cáo của vụ án trước đây và lời khai sau này, ghi chép các kết luận giám định vết thương, giám định thiệt hại, trích lục các tài liệu làm chứng cứ buộc tội theo cáo trạng. Theo bác Phúc, đây là những tài liệu phục vụ cho Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa.

Nội dung vu án tóm tắt như sau: Ông Nguyễn Thế Bưu là giáo viên trường cấp II Lý Thường Kiệt, Hà Nội có vợ là bà Nguyễn Thị Chuyên. Năm 1961, ông Bưu có ký hợp đồng với Sở Quản lý nhà đất Hà Nội thuê hai phòng 32m2 và 16m2 nhà tại 15 ngõ Yên Thế. Năm 1965, chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ xảy ra, ông Bưu đi sơ tán theo trường, bà Chuyên ở lại trông nom nhà cửa.

Cũng vào thời gian này, Nguyễn Thị Hợi, là nhân viên bán hàng thực phẩm hay lui tới chơi. Bà Chuyên thương hoàn cảnh khó khăn của thị Hợi, con còn quá nhỏ mà đi làm thì xa nên đã đồng ý cho thị Hợi mượn căn phòng 32 m2. Tháng 10/1965, chồng Hợi là Trần Trung Phúc cũng chuyển đến ở tại đây.

Sau khi được vào ở nhờ, thị Hợi đã tìm mọi cách chiếm đoạt căn nhà của vợ chồng ông giáo Bưu. Năm 1969, khi gia đình ông Bưu đi sơ tán về, yêu cầu Nguyễn Thị Hợi trả lại căn phòng 32m2 để lấy chỗ ở thì Nguyễn Thị Hợi đã chây ỳ, khất lần. Vì vậy, gia đình thị Hợi và gia đình ông giáo Bưu thường xuyên nảy sinh xích mích, va chạm. Mâu thuẫn giữa hai gia đình ngày càng sâu sắc, trầm trọng. Thị Hợi làm đơn gửi chính quyền địa phương. Chính quyền khu Đống Đa đã giải quyết việc tranh chấp trên, theo đó gia đình thị Hợi được ở căn phòng 32 m2, còn gia đình ông Bưu chỉ được ở phòng 16m2.

Ngày 7/3/1972, anh Nguyễn Văn Khánh (cháu gọi bà Chuyên bằng cô ruột) đi bộ đội, đang an dưỡng về thăm gia đình ông Bưu. Anh Khánh rất bất bình với cách giải quyết không khách quan của chính quyền khu phố Đống Đa đối với gia đình ông Bưu nên đã rủ 4 người bạn cũng là thương binh đến 15 ngõ Yên Thế. Anh Khánh và những người bạn này đã chuyển đồ đạc của gia đình Nguyễn Thị Hợi ra ngoài hè phố để lấy chỗ cho con cháu ông Nguyễn Thế Bưu chuyển đồ đạc từ phòng 16m2 sang phòng 32m2.

Sự việc trên tưởng dừng ở đó, nhưng Nguyễn Thị Hợi và chồng là Trần Trung Phúc lại cho rằng hành vi chuyển đồ đạc của Nguyễn Thế Bưu và Nguyễn Văn Khánh đã gây thiệt hại cho Nguyễn Thị Hợi 3.000 đồng. Đồng thời, Trần Trung Phúc còn tố cáo ông Nguyễn Thế Bưu và Nguyễn Văn Khánh đã đánh y sưng mặt mũi. Vì vậy, vụ án trên đây được cơ quan pháp luật thành phố Hà Nội khởi tố điều tra, truy tố và xét xử. Trong vụ án này, ông Bưu và anh Khánh trở thành bị can, bị truy tố, xét xử và kết tội tù giam. Thị Hợi và Phúc trở thành người bị hại…

 Sau khi Viện kiểm sát nhân dân tối cao vào cuộc thì tình hình ngược lại. Qúa trình xác minh, Cơ quan điều tra thấy: Phúc và Hợi đã có hành vi chiếm giữ trái phép tài sản của gia đình ông giáo Bưu. Vết thương trên khuôn mặt của Trần Trung Phúc là do tự y gây nên. Cơ quan Điều tra cũng phát hiện Trần Văn Khai cán bộ Tòa án thành phố Hà Nội đã tiếp tay, bày mưu, tính kế cho thị Hợi trong việc chiếm đoạt nhà của ông giáo Bưu. Đồng thời, Cơ quan Điều tra cũng phát hiện Nguyễn Đức Luật, Phó Chủ tịch UBHC khu Đống Đa, thành phố Hà Nội đã có hành vi làm trái chế độ chính sách gây hậu quả nghiêm trọng.

Dự thảo Bản cáo trạng đề nghị truy tố Nguyễn Thị Hợi về hai tội Lừa đảo để chiếm đoạt quyền sử dụng nhà ở của công dân” và tội Vu cáo người khác phạm tội; Trần Trung Phúc về hai tội Vu cáo và tội Lừa đảo. Ngoài ra, bản kết luận điều tra còn đề nghị truy tố Trần Văn Khai, nguyên cán bộ Tòa án thành phố Hà Nội cộng phạm với Nguyễn Thị Hợi và Trần Trung Phúc tội Lừa đảo; đề nghị truy tố Nguyễn Đức Luật, nguyên Phó Chủ tịch khu phố Đống Đa, thành phố Hà Nội về tội Cố ý làm sai công việc mình phụ trách gây hậu quả nghiêm trọng. Dự thảo Bản cáo trạng được gửi các đơn vị có liên quan góp ý kiến. Theo chỉ đạo của bác Phúc, Bản cáo trạng được tu chỉnh và gửi lãnh đạo Viện xin ý kiến. Vì đây là vụ án phức tạp, kết quả điều tra hoàn toàn ngược với Bản án sơ thẩm nên các đồng chí lãnh đạo Viện, nhất là Viện trưởng Hoàng Quốc Việt tham gia rất chi tiết cụ thể. Sau  khi hoàn thành, bác Đặng Huy Phúc ký cáo trạng truy tố các bị can ra Tòa án để xét xử.

          Trong các ngày 3, 4, 5, 7, 8, 9 và 11 tháng 3 năm1977 tại Hà Nội, Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã tiến hành xét xử theo thủ tục sơ thẩm đồng thời chung thẩm vụ án kể trên.

Tôi có cơ may là được bác Phúc cho giấy mời và cử đi theo dõi phiên tòa. Đến nơi, tôi thấy ngồi ghế bị cáo không chỉ có vợ chồng Nguyễn Thị Hợi, Trần Trung Phúc mà còn có hai nhân vật được mọi người chú ý là Trần Văn Khai, cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Nguyễn Đức Luật, Phó Chủ tịch UBHC khu Đống Đa, Hà Nội. Mới đầu giờ mà hội trường xét xử tầng 2 trụ sở Tòa án nhân dân tối cao đã kín chỗ. Tôi cũng cố chen, kiếm một chỗ ngồi tại hành lang hội trường xét xử.

Nữ kiểm sát viên cao cấp Hoàng Thị Tâm ngồi ghế công tố. Bà Tâm lúc đó trạc 45 tuổi, dáng thon thả, đôi mắt sáng, nụ cười luôn nở trên môi. Ai cũng nắc nỏm khen chất giọng sang sảng, trầm bổng, truyền cảm của người Kiểm sát viên trông bề ngoài rất duyên dáng nhưng có tố chất rắn rỏi khi bà thay mặt Viện kiểm sát nhân dân tối cao đọc bản cáo trạng. Cả hội trường im phăng phắc. Mọi người như bị thôi miên, lắng nghe như nuốt từng câu, từng chữ.

Sau khi Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng, phần xét hỏi bắt đầu. Hội đồng xét xử lần lượt xét hỏi các bị cáo theo nội dung cáo trạng truy tố. Trong đó bị cáo Hợi được xét hỏi trước, y thị đứng trước vành móng ngựa nhưng vẻ mặt vẫn nhâng nhâng, trâng tráo, khai báo quanh co.

Chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo Hợi có thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng do đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình bày không thì bị cáo Hợi nguýt một cái sắc lẹm, khai rằng:

-Ông Bưu đã nhường cho gia đình tôi phòng 32m2 và tôi đã trả nhà 19B Nguyễn Khuyến. Phòng Quản lý nhà đất đã cho phép tôi được di chuyển vào nhà 15 ngõ Yên Thế. Thời gian ở căn phòng 32m2 tôi đã nộp thuế đầy đủ. Gia đình tôi đã được công an cho chuyển hộ khẩu vào 15 ngõ Yên Thế. Do vậy, gia đình tôi có toàn quyền sử dụng căn phòng 32m2 tại 15 ngõ Yên Thế. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao truy tố tôi về tội chiếm đoạt căn phòng 32m2 là không khách quan! Bị cáo Hợi phát biểu xong, tôi thấy ông Chủ tọa nhìn xuống ghế nhân chứng:

-Xin mời anh Trịnh Văn Đô, cán bộ ghi biên lai thu tiền thuê nhà đứng lên trình bày những vấn đề mà bị cáo Hợi vừa khai. Anh Đô đứng lên, nhìn ông Chủ tọa:

-Thưa quý tòa. Trước đây, khi đến thu tiền nhà tại 15 ngõ Yên Thế tôi thường gặp bà Nguyễn Thị Chuyên đứng tên nộp tiền và ký biên lai trả tiền. Nhưng sau này, mỗi khi đến thu tiền nhà, người mà tôi hay gặp là Nguyễn Thị Hợi. Chị ta tự xưng là cháu bà Chuyên và đang ở chung với bà. Chị ta nói, hàng tháng đều góp tiền cùng với bác Chuyên để trả tiền nhà. Do vậy, chị ấy đề nghị ghi cả tên Nguyễn Thị Hợi vào biên lai để tiện cho việc thanh toán với bác Bưu. Trên cơ sở đề nghị này mà cán bộ thu tiền nhà có ghi tên Nguyễn Thị Hợi vào biên lai. Sau đó, bà Hợi đề nghị viết thành 2 biên lai cho dễ thanh toán. Lúc đó tôi tưởng bà Chuyên và bị cáo Hợi đã thống nhất rồi nên cũng chấp nhận theo đề nghị của bị cáo. Tôi ghi thành hai biên lai thu tiền thuê nhà: Biên lai thu tiền thuê phòng 32m2 do bà Hợi đứng tên, biên lai thu tiền thuê phòng 16m2 do bà Chuyên đứng tên. Ông Chủ tọa nhìn sang bị cáo Hợi, hỏi:

-Tại sao bị cáo lại yêu cầu ghi hai hóa đơn như vậy. Thị Hợi cúi mặt, không nói gì. Ông Chủ tọa tiếp:

-Có phải bị cáo hy vọng từ việc đánh lừa việc ghi tên mình vào biên lai thu tiền rồi sẽ chiếm được phòng 32m2 của bà Chuyên chứ gì? Thị Hợi vẫn đứng im lặng, cúi gằm mặt xuống vành móng ngựa. Ông Chủ tọa hỏi tiếp:

-Bị cáo Hợi khai cụ thể số tiền bị mất như thế nào? Thời gian, địa điểm bị mất tiền? Thị Hợi liếc nhanh về phía chồng mình như ra ám hiệu cầu cứu, đáp:

-Thưa quý Tòa. Lúc người nhà ông Bưu khiêng tủ ra ngoài hè đường thì tôi kiểm tra mất số tiền 950 đồng để ở phía trái trong tủ của nhà tôi ạ! Ông Chủ tọa quay người về phía Trần Trung Phúc:

-Yêu cầu bị cáo Phúc đứng lên. Chờ cho Phúc đứng yên trước vành móng ngựa, ông Chủ tọa lên tiếng:

-Bị cáo Phúc bị mất bao nhiêu, ở đâu? Phúc lấm lét nhìn Hội đồng xét xử:

-Thưa quý Tòa. Tôi mất 900 đồng ạ. Số tiến đó tôi để bên phải tủ nhà tôi. Mất vào thời gian lúc tủ bị khiêng ra ngoài hè!. Ông Chủ tọa nhìn hai bị cáo, vẻ mặt nghiêm:

-Tại sao hai vợ chồng mà mỗi người lại có tiền riêng và để mỗi người một bên tủ?  Bị cáo Phúc lấy tay quệt mép, nhìn sang thị Hợi:

-Thưa quý Tòa. Đây là số tiền riêng của mỗi người. Tôi không biết số tiền của vợ và vợ tôi cũng không biết tiền của tôi. Ông Chủ tọa nhìn hai vợ chồng bị cáo lập luận:

-Tôi cũng không hiểu tại sao hai vợ chồng có số tiền lớn như vậy lại để hai phía tủ mà người này chẳng hề biết của người kia. Vợ chồng như hai bị cáo kể cũng lạ!

Dưới hội trường, rộ lên những tiếng cười chế diễu. Ông Chủ tọa tiếp tục yêu cầu bị cáo Hợi đứng lên:

-Như vậy, theo các bị cáo thì việc mất tiền xảy ra trưa ngày 7 tháng 3 năm 1972. Đó là ngày xảy ra sự việc chuyển đồ đạc của gia đình bị cáo ra hè phố mà không hiểu sao trong đơn của bị cáo Hợi gửi Tòa án ngày 7 tháng 3 năm 1972 lại không hề nói đến việc mất tiền. Mãi đến 13 ngày sau khi sự việc xảy ra bị cáo mới kêu mất tiền. Bị cáo giải thích nội dung này? Bị cáo Hợi nhìn ông Chủ tọa ấp úng:

-Dạ, dạ…thưa quý Tòa. Vào thời điểm đó chồng tôi bị thương tích do bị đánh nên không kịp kiểm tra, không biết được tiền mất à. Ông Chủ tọa nhìn bị cáo Hợi, lắc đầu và yêu cầu bị cáo Phúc trả lời:

-Tại sao trong lời khai với cơ quan Công an lúc xẩy ra sự việc, bị cáo không khai việc mất tiền?. Phúc cũng ấp úng, khai lí nhí:

-Thưa quý Tòa. Lúc đó tôi quên ạ!

Nghe hai bị cáo ấp úng trả lời, ông Chủ tọa vừa hỏi vừa tiếp tục giải thích:

-Căn cứ lời khai của bị cáo Phúc và đơn của bị cáo Hợi và biên bản kiểm kê tài sản ngày 7/3/1972 của cơ quan Công an có thể khẳng định là không có chuyện mất tiền như các bị cáo khai. Bởi vì, căn cứ biên bản do Công an lập hôm đó đã yêu cầu bị cáo Hợi kiểm tra kỹ xem còn tài sản gì nữa không thì bị cáo Hợi thừa nhận tài sản đã kiểm kê đầy đủ, không mất mát gì. Đồng thời, đây là số tiền tương đối lớn, vợ chồng mỗi người để một nơi mà sau sự việc xảy ra tại sao không ai kiểm tra xem có mất mát gì không để còn báo cáo với chính quyền. Như vậy, với các tài liệu, chứng cứ trên đây đủ cơ sở để khẳng định các bị cáo Hợi và Phúc khai mất tiền là không đúng. Rõ ràng, đây là sự bịa đặt để vu cáo gia đình ông giáo Bưu!

Ông vừa dứt lời thì cả hội trường như muốn vỡ òa bằng hàng loạt tiếng vỗ tay của người dự phiên tòa. Tôi cũng hào hứng vỗ tay phụ họa. Gương mặt ông Chủ tọa nhẹ nhõm, ông nhìn sang Kiểm sát viên, hạ giọng:

-Bây giờ chuyển sang nội dung đập phá tài sản, đề nghị Kiểm sát viên hỏi tiếp.

Tôi thấy, cả hội trường hồi hộp, im phăng phắc theo dõi. Bà Hoàng Thị Tâm đứng dậy, nhìn bị cáo Hợi:

-Bị cáo Hợi khai rõ, việc tài sản của bị cáo bị đập phá như thế nào? Ai là người đập phá? Hợi nhanh nhảu đáp ráo hoảnh:

-Thưa quý Tòa. Khi sự việc xảy ra, tôi thấy ông Bưu và anh Khánh đã dùng xè beng cậy cửa và đập phá tài sản của gia đình tôi. Kiểm sát viên đánh mắt sang Phúc:

-Bị cáo Phúc có thấy chiếc xè beng mà bị cáo Hợi khai không? Phúc nhìn sang Hợi, hai môi mím chặt, ngước mắt nhìn lên bà Tâm, lúng túng:

-Thưa quý Tòa. Tôi không tận mắt thấy ai dùng xè beng đập phá tài sản mà chỉ sau khi sự việc xảy ra rồi nghe vợ tôi nói lại là có một số người đã dùng xè beng đập phá đồ đạc của nhà mình nên tôi khai thế ạ!  Kiểm sát viên nhìn sang bị cáo Hợi hỏi:

-Bị cáo thấy ông Bưu cầm xè beng hay anh Khánh cầm xè beng?

Thị Hợi ngắc ngứ không nói gì được nữa, im lặng đứng như trời trồng, môi mím chặt, mặt cúi xuống vành móng ngựa tránh ánh mắt của Kiểm sát viên.

Kiểm sát viên mời Nguyễn Thế Bưu đứng lên trả lời. Ông Bưu đứng đậy nhưng đôi chân cứ run run như muốn ngã. Ai cũng xót thương trước dáng vẻ tiều tụy, khắc khổ của ông giáo già. Vào tháng 3 rồi mà trời hôm ấy vẫn rét đậm, nhưng ông chỉ mặc phong phanh một tấm áo. Nhìn ông Bưu tôi thầm hỏi: Tại sao trớ trêu vậy, người ở hiền lại không được gặp lành? Có phải vụ việc này đã làm cho ông giáo khuynh gia bại sản? Khi ông là thầy giáo, biết bao những lời hay ý đẹp được ông truyền cho thế hệ trẻ về tư cách con người dưới chế độ mới, đến đây coi như sụp đổ. Kiểm sát viên hắng giọng, cắt dòng suy nghĩ của tôi:

-Ông Bưu có thể ngồi xuống và trả lời nội dung sau. Ông cho Tòa biết, hôm đó có ai dùng xè beng đập đồ đạc của gia đình bị cáo Hợi không?

Ông Bưu nhìn Kiểm sát viên, gật đầu, ngồi xuống hàng ghế nhân chứng, chớp mắt:

-Thưa quý Tòa. Hôm đó anh em thương binh chỉ chuyển đồ đạc của gia đình Trần Trung Phúc và Nguyễn Thị Hợi từ phòng 32m2 ra ngoài hè để lấy chỗ cho con cháu của tôi chuyển đồ đạc từ phòng 16m2 sang đó mà thôi. Nhà tôi không có xè beng đâu mà bảo chúng tôi dùng xè beng. Chúng tôi cam đoan với quý Tòa là hôm đó không có ai dùng xè beng đập phá tài sản như các bị cáo này nói đâu ạ! Nói đến đây, ông Bưu chỉ tay về phía bị cáo Hợi và Phúc:

-Tại sao các người lại độc ác, đặt điều vu oan cho người khác như vậy? Các người làm điều bất nhân mà không sợ ông Trời trừng trị à? Các người không muốn để phúc đức lại cho con cháu mai sau hay sao mà làm như vậy? Ông Bưu ôm ngực sặc sụa ho. Kiểm sát viên nhìn xuống anh Khánh, người tham gia phiên tòa với tư cách nhân chứng:

-Anh Khánh thấy lời khai của ông Bưu thế nào? Anh Khánh nhìn bà Kiểm sát viên:

-Tôi thấy lời khai của ông Nguyễn Thế Bưu là chính xác.  Kiểm sát viên nhìn ông Bưu và anh Khánh gật đầu.

Tiếp đó, Kiểm sát viên công bố lời khai của các nhân chứng, gồm: Ông Cuông, cảnh sát khu vực; ông Nam, cán bộ hành chính khu Đống Đa; bà Bích, cán bộ Viện kiểm sát Đống Đa…Sau đó Kiểm sát viên nhìn mọi người, nhận xét:

-Những người làm nhiệm vụ hôm đó đều khai thống nhất rằng: Khi tiến hành kiểm tra sự việc xảy ra ngày 7 tháng 3 năm 1972 không thấy ai nói gì về xè beng và trong biên bản được lập cũng không ghi tại hiện trường có xè beng. Các nhân chứng cũng khai như vậy. Còn các bị cáo khai ông Bưu và anh Khánh dùng xè beng đập phá tài sản của mình cũng chỉ nghe nói lại, không trực tiếp nhìn thấy chiếc xè beng ở đâu, ai cầm xè beng để cạy cửa hoặc đập phá. Như vậy có đầy đủ căn cứ để khẳng định chiếc xè beng mà các bị cáo khai ra là không có thực. Việc các bị cáo khai ông Bưu và anh Khánh đã dùng xà beng để đập phá tài sản của gia đình bị cáo Hợi là không có căn cứ!

 Nghe Kiểm sát viên viện đưa ra chứng cứ để chứng minh sự bịa đặt, vu khống cho ông giáo Bưu tôi chợt thấy chạnh lòng. Một người thầy giáo chỉ biết làm việc dạy người, dạy chữ, bổng dưng không những bị mất nhà, mà còn mất cả những quyền lợi hợp pháp của mình, ông và người cháu cũng bị tù đầy oan ức. Tôi đang xót xa nghĩ về thân phận ông giáo Bưu thì giật mình bị cắt ngang khi Kiểm sát viên Hoàng Thị Tâm gọi Hợi và Phúc đứng dậy, giọng bà rắn rỏi:

-Bị cáo Hợi và bị cáo Phúc hãy khai trước Tòa về những thiệt hại tài sản của mình”. Bị cáo Hợi nhìn bà Tâm trả lời:

-Thưa quý Tòa. Hôm đó ông Bưu và anh Khánh cùng các anh thương binh chuyển đồ đạc của gia đình tôi ra hè đường rồi dùng xè beng đập phá. Tài sản của tôi bị thiệt hại là 2.887,60 đồng ạ. Kiểm sát viên nhìn bị cáo Phúc:

-Bị cáo Phúc thấy lời khai của bị cáo Hợi như thế nào? Bị cáo Phúc nhìn bà Tâm:

-Thưa quý Tòa. Tôi đồng ý ạ. Đề nghị ông Bưu phải bồi thường cho gia đình chúng tôi về thiệt hại như chúng tôi đề nghị trên đây.

Nghe đến đây, Kiểm sát viên yêu cầu thư ký phiên tòa công bố biên bản của Hội đồng giám định về thiệt hại do cơ quan điều tra Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trưng cầu. Ông thư ký đứng lên đọc nguyên văn bản kết luận của Hội đồng giám định ngày 1/11/1973 về những thiệt hại của gia đình thị Hợi: “Bề ngoài hai cửa chính của căn phòng 32m2 nguyên vẹn, không có dấu vết gì nghi ngờ sự đập phá. Mặc dù những đồ đạc của gia đình thị Hợi có bị hư hỏng như bàn, tủ bị gẫy chân, long mộng, một ghế tựa bằng gỗ dán bị thủng hai lỗ nhưng không cho phép khẳng định đó là những thiệt hại do xè beng gây ra. Trên cơ sở xem xét thực tế những vấn đề nêu trên, Hội đồng giám định kết luận: Công sửa chữa hư hỏng từng khoản tài sản của Trần Trung Phúc và Nguyễn Thị Hợi chỉ hết 208 đồng. Như vậy, việc Trần Trung Phúc và Nguyễn Thị Hợi khai báo tài sản của họ bị thiệt hại 2.887,60 đồng là không có cơ sở”. Kiểm sát viên nghe xong gật đầu, nhìn về phía hai bị cáo Phúc và Hợi, hỏi:

-Các bị cáo nghe rõ chưa và có ý kiến gì về kết luận của Hội đồng giám định không? Hai vợ chồng bị cáo nhìn nhau, Phúc lí nhí đáp:

-Thưa quý Tòa. Chúng tôi đã nghe rõ, không có ý kiến gì ạ!

Con tim tôi bổng trào dâng cảm xúc sung sướng khi các bị cáo đã phải khuất phục trước những lập luận sắc sảo của bà Kiểm sát viên. Sau đó Kiểm sát viên yêu cầu bị cáo Trần Trung Phúc đứng lên, khai rõ về vết thương trên mặt mình, thời gian và nguyên nhân xảy ra như thế nào…

Bị cáo Phúc đứng lên nhưng đầu vẫn cúi xuống nền nhà, sắc mặt tái nhợt, không dám nhìn Kiểm sát viên, y đưa lưỡi liếm vành môi khô ráp giọng khàn khàn:

-Thưa quý Tòa. Trưa ngày 7/3/1972, ông Bưu và anh Khánh chuyển đồ đạc của gia đình tôi ra hè phố. Tôi cự lại thì bị những người này dùng tay đấm vào mặt làm hai mắt tôi tối sầm lại. Chiều hôm đó, mặt tôi bị sưng tấy, đau nhức, hai bên gò má máu tụ bầm tím. Đến 21 giờ cùng ngày, gia đình đưa tôi vào bệnh viện Xanh Pôn cấp cứu. Sau khi khám, bác sĩ có tiêm thuốc trợ lực, trợ tim và sáng hôm sau bệnh viện lại cho tôi về. Khai đến đây, y nhìn Kiểm sát viên, tiếp:

-Sáng ngày 9/3/1972, tôi thấy đau quá nên trở lại bệnh viện Xanh Pôn. Bác sỹ đã khám cho tôi và ghi trong bệnh án: Hai bên gò má đều bị đau, bầm tím nhiều, sưng to. Sau đó tôi được chuyển sang bệnh viện Việt Nam-Cu Ba. Bệnh án của tôi được bác sĩ ghi: Mặt sưng to, tím đỏ, hai bên má sưng tím cân đối, tụ máu từ mu mắt dưới qua gò má xuống vùng xương hàm và sát cổ. Vết thương đỏ nông hai bên mặt, giống hệt nhau, trừ trán, mũi, mồm, cằm. Răng không gẫy, xương hàm trên không tổn thương…Chờ cho bị cáo trình bày hết nội dung, Kiểm sát viên nhìn bị cáo Phúc:

-Bị cáo khai tình trạng vết thương vẫn như trước đây ở cấp sơ thẩm. Để làm rõ vết thương trên mặt bị cáo Phúc, tôi xin công bố lời khai các nhân chứng nguyên là các cán bộ trước đây đã trực tiếp giải quyết vụ án này để bị cáo và mọi người rõ. Anh Trần Cuông, cảnh sát khu vực, người trực tiếp lập biên bản vụ việc xảy ra ngày 7/3/1972 khẳng định: Khi tiến hành lập biên bản vụ việc không thấy Phúc khai bị thương tích do đánh. Đồng thời những người có mặt lúc đó cũng không có ai khai về việc đánh nhau nên biên bản không ghi việc Phúc bị đánh. Biên bản đó đã được đọc lại cho mọi người nghe và nhất trí ký tên. Trong đó, Nguyễn Thị Hợi và Trần Trung Phúc cũng ký tên và không có ý kiến gì về việc Phúc bị đánh. Kiểm sát viên dừng giây lát, nhìn bị cáo Phúc hỏi:

-Theo lời khai của bị cáo Phúc thì hôm xảy ra sự việc, bị cáo bị đánh rất đau. Vậy tại sao trong biên bản do Công an lập, bị cáo không đề nghị viết thêm nội dung bị đánh vào biên bản hả?

Nghe đến đây, cả hai vợ chồng bị cáo cúi mặt xuống tránh ánh mắt bà Kiểm sát viên Hoàng Thị Tâm. Phúc lặp lại động tác đưa lưỡi liếm môi và lấm lét nhìn vành móng ngựa. Kiểm sát viên truy vấn tiếp:

-Hơn nữa, lời khai của bị cáo Phúc về việc bị đánh không thống nhất. Lúc đầu, bị cáo Phúc khai bị ông Bưu và anh Khánh đánh bằng tay vào mặt. Nhưng sau đó lại khai bị anh thanh niên mắt lé (tức anh Khánh) và 2 người nữa cùng đấm vào mặt. Có lúc Phúc khai chỉ một mình anh Khánh đánh. Đề nghị bị cáo xác định lại một lần nữa, ai là người đánh vào mặt bị cáo hôm đó?

Chẳng biết vì câu hỏi khó quá hay do việc khai báo không đúng sự thật mà Phúc đứng ngây người như phổng. Kiểm sát viên truy vấn tiếp:

-Nội dung này bị cáo không khai à? Tôi hỏi lại, bị cáo khai rõ bị đánh vào chỗ nào? Phúc vội nhìn sang Hợi như muốn cầu cứu vợ:

-Thưa quý Tòa. Trưa ngày 7/3/1972, nghe tiếng gõ cửa, tôi ra mở thì bị đánh ngay trong phòng 32m2 ạ! Kiểm sát viên lắc đầu:

-Tại sao có lúc bị cáo lại khai bị đánh trong nhà tắm? Phúc lại nhìn qua Hợi, lặng câm như hến. Kiểm sát viên chuyển sang nội dung khác:

-Bị cáo Phúc khai bị đánh vào mặt, cụ thể là vào chỗ nào? Phúc đưa tay sờ lên mặt, phản ứng rất nhanh:

-Thưa quý Tòa. Tôi bị đấm vào bên trái mặt ạ! Kiểm sát viên hỏi tiếp:

-Bị cáo khai bị đánh vào bên trái mặt. Nhưng theo bản ảnh chụp lúc bị cáo vào viện thì hai bên mặt bị phù nề hầu như tất cả diện tích, trừ các bộ phận môi, mũi, mắt. Vậy, tại sao bị đánh vào bên trái mà bên phải cũng sưng đều như thế? Nghe xong, Phúc lại đứng im. Kiểm sát viên gọi bị cáo Hợi đứng lên nhưng vẫn giữ vẻ mặt câng câng, lạnh lùng. Kiểm sát viên nhìn bị cáo Hợi:

-Bị cáo khai cho rõ việc thấy chồng mình bị đánh như thế nào? Thị Hợi nhìn Hội đồng xét xử:

-Thưa quý Tòa. Tôi không trực tiếp nhìn thấy chồng tôi bị đánh nhưng sau sự việc xẩy ra tôi có hỏi anh có bị đánh không? Chồng tôi trả lời: Không bị đánh. Nhưng sau đó, chồng tôi bảo có bị đánh nhẹ, về sau càng đau và buốt, nên tôi khai là chồng tôi bị đánh! Kiểm sát viên nhìn bị cáo Hợi và Phúc:

-Như vậy, lời khai của bị cáo Phúc và Hợi về việc Phúc bị đánh thì có rất nhiều mâu thuẫn. Bị cáo Hợi chỉ nghe bị cáo Phúc nói lại là có bị đánh. Còn bị cáo Phúc thì khai không thống nhất về các vị trí trên mặt bị đánh, về nơi xảy ra, và số người đánh. Bây giờ tôi xin công bố lời khai các nhân chứng về việc bị cáo Phúc có bị đánh hay không bị đánh để các bị cáo rõ hơn. Kiểm sát viên nhìn xuống tập hồ sơ, lấy các tài liệu đã chuẩn bị sẵn, đưa lên khỏi mặt bàn cho mọi người xem:

-Trong vụ án này có nhiều người là nhân chứng ở cùng số nhà 15 ngõ Yên Thế như các ông Nguyễn Khải, Nguyễn Văn Thiệp, Nguyễn Văn Chức, và các bà Trần Thị Gái, Nguyễn Thị Ngam và Hồ Ngọc Trâm. Những nhân chứng này đều khai thống nhất là: Sau khi sự việc xảy ra không thấy mặt Phúc có vết thương mà chỉ thấy hơi tái đi. Lúc đó, ở đây không nghe ai nói về Phúc bị đánh vào mặt. Mọi người sống xung quanh ngõ 15 Yên Thế thấy Phúc vẫn sinh hoạt, đi lại bình thường. Trong đó, bà Trần Thị Gái khai có ra xem sự việc xẩy ra và hỏi Phúc có làm sao không? Phúc lắc đầu bảo không sao cả. Kiểm sát viên, nhấp ngụm nước lấy giọng: 

-Các nhân chứng như Bùi Ngọc Châu, Nguyễn Chính Quốc khai rằng: Sau sự việc xảy ra một ngày, tối ngày 8/3/1972, tại cuộc họp tổ dân phố ở đình Văn Tân, mọi người rất ngạc nhiên khi thấy Phúc ra trình diện với chiếc khăn trùm kín đầu như một người bị đau nặng. Khi Phúc cởi khăn trùm đầu ra, mọi người rất bất ngờ vì hôm qua, khi sự việc xảy ra mặt Phúc bình thường mà hôm nay lại sưng to, mắt sưng húp như vậy. Nhiều người đã mạnh dạn phát biểu nghi ngờ về vết thương trên mặt của Phúc. Nói đến đây, Kiểm sát viên dừng lại, nhìn các bị cáo Hợi và Phúc:

-Các bị cáo có ý kiến gì về lời khai của các nhân chứng mà tôi vừa công bố không? Cả hai bị cáo đều cúi mặt xuống, không một lời nho nhe. Kiểm sát viên nhìn hai bị cáo, hạ giọng:

-Các bị cáo không có ý kiến phản bác gì về lời khai các nhân chứng? Các bị cáo vẫn đứng im. Bất chợt tôi cảm thấy nhẹ nhõm vì đây là nội dung rất quan trọng của vụ án coi như đã được Kiểm sát viên tranh luận rõ ràng, thuyết phục. Sau đó tôi thấy ông Chủ tọa tiến hành xét hỏi các bị cáo khác. Ông nhìn thẳng vào Trần Văn Khai, yêu cầu bị cáo bước lên vành móng ngựa rồi ông cất giọng:

-Bị cáo hãy trình bày cụ thể các hành vi phạm tội của mình mà Bản cáo trạng đã đề cập. Bị cáo Trần Văn Khai nhìn ông Chủ tọa:

-Thưa quý Tòa. Trong thời gian công tác tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, tôi được lãnh đạo Tòa án Hà Nội phân công làm nhiệm vụ thụ lý đơn khiếu nại, tố cáo. Có lần thị Hợi đưa đơn đến khiếu nại và tôi đã sắp xếp để thị Hợi vào gặp lãnh đạo Tòa án. Khi thị Hợi đưa hồ sơ, tôi xem thấy có giấy di chuyển chỗ ở đến 15 ngõ Yên Thế. Đồng thời thấy thị đã được chuyển hộ khẩu và đã có biên lai nộp tiền nhà ở 15 ngõ Yên Thế thì nghĩ rằng thị Hợi được ký hợp đồng là phải, chứ không biết thị ở nhờ rồi tìm cách chiếm đoạt! Nghe đếm đây, ông Chủ tọa nhìn bị cáo Khai:

-Bị cáo còn dẫn bị cáo Hợi đến những nơi nào để nhờ vả nữa không? Có viết thư nhờ ai giải quyết việc thuê nhà cho bị cáo Hợi không? Bị cáo Khai nghĩ một chốc rồi chậm rãi:

-Thưa quý Tòa. Tôi có dẫn thị Hợi đến nhà bà Hiền, Phó Chánh án Tòa án nhân dân khu Đống Đa để nhờ can thiệp nhưng bà Hiền đã từ chối. Tôi có viết thư cho ông Hạnh, lãnh đạo khu Đống Đa đề nghị giải quyết nguyện vọng cho thị Hợi!

Ông Chủ tọa nhìn sang bị cáo Nguyễn Đức Luật – nguyên Phó Chủ tịch UBHC khu Đống Đa - yêu cầu đứng lên. Khi bị cáo Luật đứng lên, ông Chủ tọa:

-Bị cáo hãy khai rõ việc báo cáo cấp trên về giải quyết tranh chấp nhà giữa ông Bưu và bị cáo Hợi như thế nào? Bị cáo Luật vuốt hai ống tay áo, trả lời:

-Thưa quý Tòa. Về việc giải quyết tranh chấp nhà tại 15 ngõ Yên Thế thì tôi có ký 2 công văn số 38 ngày 05/07/1972 và số 263 ngày 03/09/1972 gửi Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội! Ông Chủ tọa hỏi tiếp:

-Trong hai công văn đó, bị cáo có nhận thấy sai sót như thế nào không? Bị cáo Luật:

-Thưa quý Tòa. Tôi thấy sai sót là báo cáo không rõ ràng về thực trạng nhà 15 ngõ Yên Thế nên làm cho nhiều người hiểu sai ạ!

Đến đây, phần xét hỏi kết thúc, phiên tòa chuyển sang phần tranh luận. Ông Chủ tọa đề nghị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình bày bản luận tội. Vẫn chất giọng truyền cảm, Kiểm sát viên Hoàng Thị Tâm đứng lên, sửa lại chiếc kính, đưa mắt nhìn khán phòng và dõng dạc:

-Thưa Hội đồng xét xử. Thay mặt Viện kiểm sát nhân dân tối cao, tôi xin công bố Bản luận tội đối với các bị cáo. Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Nguyễn Thị Hợi và Trần Trung Phúc đã lợi dụng lòng tốt của ông bà Bưu vốn là người dân lương thiện. Trong hoàn cảnh phòng không sơ tán, ông bà Bưu đã cho gia đình thị Hợi ở nhờ với tinh thần tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách. Nhưng vì lòng tham, thị Hợi đã có những thủ đoạn xảo trá, lừa dối có tính toán không chỉ đối với gia đình ông bà Bưu mà còn đối với các cấp chính quyền để thực hiện âm mưu chiếm đoạt nhà của người đã cho bị cáo ở nhờ. Trần Trung Phúc và Nguyễn Thị Hợi đã tìm mọi cách, thực hiện từng bước có tính toán kỹ, từ việc lừa dối gia đình ông giáo Bưu, đến việc mua chuộc cán bộ có chức, có quyền, thậm chí cả cán bộ trong ngành luật pháp để chiếm đoạt nhà của người có lòng tốt cho mình mượn…

Bà Tâm vừa đọc xong câu cuối của Bản luận tội, tôi cảm thấy thật phấn khởi về những lập luận sắc sảo và với giọng văn khá kiên quyết. Đó đây trong khán phòng trầm trồ vang vọng: “Bà Kiểm sát viên quá sắc sảo! Chế độ ta phải có những cán bộ pháp luật như vậy mới nghiêm minh được”. Ông Chủ tọa phiên tòa tuyên bố chuyển sang phần tranh luận thì tiếng ồn ã mới lặng dần.

Có lẽ, đây là phần hấp dẫn nhất đối với người dự. Được ông Chủ tọa nhất trí, Luật sư bào chữa cho hai bị cáo Hợi và Phúc đứng lên. Ông ta giương mục kính, nhìn mọi người rồi mới ra nhời, giọng không kém phần đĩnh đạc:

-Thưa quý Tòa! Đây là một vụ án rất phức tạp. Từ một vụ án trước đây thị Hợi và Phúc là bị hại nay trở thành bị cáo. Trong lúc đó ông Bưu và anh Khánh trước đây là bị cáo nay trở thành bị hại. Do vậy, với tư cách là người bảo vệ cho thân chủ, chúng tôi chỉ muốn Hội đồng xét xử phải rất công tâm, không được vội vàng kết luận mà để xảy ra oan sai cũng như lọt tội...Luật sư phát biểu đến đây thì cả hội trường im phăng phắc, chờ đợi. Sau mấy lời mào đầu trôi chảy, luật sư nhìn vào tờ giấy đã chuẩn bị sẵn, lớn giọng tiếp tục:

-Việc bị cáo Hợi ở phòng 32m2 là xuất phát từ sự cho phép của bà Chuyên. Việc gia đình bị cáo Hợi chuyển về 15 ngõ Yên Thế đã được các cơ quan công quyền cho phép, bằng chứng là hộ khẩu đã được nhập vào khu vực này và gia đình họ cũng đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. Khi tranh chấp thì đã được các cơ quan có thẩm quyền cho phép gia đình thị Hợi được ở căn phòng 32m2. Như vậy, căn cứ vào thực tiễn của Hà Nội thì gia đình bị cáo Hợi ở căn phòng 32m2 là hợp pháp. Nếu sai thì đó là thuộc trách nhiệm các cơ quan Nhà nước. Còn bị cáo Hợi chỉ là người dân đã làm hết trách nhiệm, nghĩa vụ công dân…

Vừa phát biểu luật sư vừa nhìn vào Kiểm sát viên Hoàng Thị Tâm. Một số cử tọa lắc đầu. Trong khi đó, bà Tâm vẫn bình tĩnh ghi chép. Thỉnh thoảng, bà lại ngẩng đầu nhìn xuống phía dưới, mỉm cười với mọi người. Luật sư tiếp tục bào chữa:

-Về vết thương trên mặt của bị cáo Phúc. Vết thương này là có thật. Bác sỹ xác nhận là do bị đánh. Bởi vì giấy chứng thương của bệnh viện Xanh Pôn ngày 8/3/1972 ghi rõ là Phúc bị đánh -Vừa nói luật sư vừa đưa ra đơn thuốc cùng giấy ra viện do bệnh viện Xanh Pôn cấp cho Phúc - Ông đọc to: Đơn thuốc ngày 9/3/1972 có ghi ở mục Căn bệnh là bị đánh. Còn giấy ra viện ngày 17/3/1972 còn ghi bị đánh tụ máu ở mặt. Về mặt chuyên môn thì các tài liệu của bệnh viện trên đây là căn cứ khẳng định Phúc bị đánh. Chúng ta phải tôn trọng ý kiến của các nhà chuyên môn. Hơn nữa, vụ việc xẩy ra đã lâu mà Viện kiểm sát lại xác định vết thương trên mặt của Phúc là do bị cáo tự gây nên. Tôi thấy kết luận của Kiểm sát viên như vậy là không khách quan, thiên vị. Xin hết!

Hội trường xì xào. Có người gật gật đầu khen luật sư cãi rất có lý. Người khác bác lại: Nhưng tại sao thầy cãi lại lờ đi lời khai của các nhân chứng? Chủ tọa phiên tòa đề nghị Kiểm sát viên phát biểu. Bà Hoàng Thị Tâm khoan thai đứng lên, đưa mắt nhìn luật sư và nhìn khắp hội trường, giọng sang sảng:

-Thưa Hội đồng xét xử! Về hành vi của bị cáo chiếm đoạt căn phòng 32m2 của gia đình ông Bưu thì chúng tôi đã đề cập kỹ trong bản cáo trạng và luận tội. Thiết nghĩ như vậy là đã quá rõ. Nhưng luật sư biện hộ như vậy thì tôi cũng xin phát biểu thêm. Qúa trình điều tra, truy tố cũng có ý kiến đặt ra là gia đình bị cáo Hợi ở căn phòng 32m2 có hợp pháp hay không?

 Để giải quyết nội dung này, cần căn cứ vào ý kiến các cơ quan chuyên môn về quản lý nhà đất. Đây là những nội dung thuộc kiến thức chuyên ngành. Vấn đề này đã được Cơ quan điều tra trưng cầu giám định về việc gia đình bị cáo Hợi ở trong căn phòng 32m2 có hợp pháp hay không? Kết luận của Hội đồng giám định về thủ tục di chuyển nhà của bị cáo Hợi đã khẳng định – Vừa nói, bà Tâm vừa lấy tờ giấy để sẵn trên bàn và đọc nguyên văn: Ông Nguyễn Thế Bưu là chủ hợp đồng thuê 2 phòng 48m2 nhà 15 ngõ Yên Thế. Bởi vì, hồ sơ, giấy tờ thể hiện nhà 15 ngõ Yên Thế đã được ông Bưu ký hợp đồng thuê nhà với cơ quan Nhà nước từ ngày 1/3/1961. Trường hợp gia đình thị Hợi được di chuyển đến ở chung tại nhà 15 ngõ Yên Thế không có nghĩa thị Hợi được thuê căn phòng 32m2. Bởi vì, trong quyết định di chuyển bị cáo về đây chỉ xác định ở nhờ trong thời gian phòng không sơ tán, đồng thời không xác định di chuyển vào ở phòng cụ thể nào. Do vậy, việc thị Hợi được chuyển đến ở nhờ nhà 15 ngõ Yên Thế không đồng nghĩa với việc được thuê nhà, việc thị Hợi tự đóng góp tiền nhà là nghĩa vụ của người sử dụng nhà, việc công an cho chuyển hộ khẩu thị Hợi đến 15 ngõ Yên Thế là thuộc phạm vi quản lý hộ khẩu của ngành Công an. Như vậy, về mặt pháp lý cũng như thực tiễn, không thể xác định vợ chồng Nguyễn Thị Hợi đã được ông bà Nguyễn Thế Bưu nhường cho diện tích phòng 32m2. Vì vậy, vợ chồng thị Hợi không có quyền sử dụng căn phòng 32m2 tại 15 ngõ Yên Thế”

Khi nghe Kiểm sát viên đọc đến đây cả hội trường thở phào. Kiểm sát viên nhìn bị cáo và mọi người rồi tiếp tục:

-Mặc dù chỉ được ở nhờ, nhưng thị Hợi đã có nhiều thủ đoạn gian dối, đầy tính toán, khước từ mọi sự nhân nhượng của ông Bưu để chiếm đoạt căn phòng 32m2. Đây là hành vi có đủ dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt quyền sử dụng nhà ở của công dân!

Khán phòng vang lên tràng pháo tay cỗ vũ động viên Kiểm sát viên. Bà Tâm nhìn xuống hội trường gật gật đầu như thầm cảm ơn người nghe và tiếp tục:

-Về vết thương trên mặt của bị cáo Phúc thì cần lưu ý, giấy ra viện, đơn thuốc mà luật sư cũng như bị cáo Phúc đưa ra tại phiên tòa hôm nay, thực chất đó là giấy ra viện được bác sĩ ghi theo ý kiến của bệnh nhân chứ không phải bệnh án. Bệnh án không hề ghi bị cáo bị đánh. Đây là vấn đề rất phức tạp của vụ án. Bị cáo thì khai có bị đánh. Bị hại và các nhân chứng thì xác định là không. Sự việc xảy ra cũng đã lâu. Thiết nghĩ, bản kết luận giám định y khoa mới là căn cứ khẳng định bị cáo có bị đánh hay không. Vấn đề này Cơ quan điều tra đã thận trọng trưng cầu giám định pháp y của Quân đội về vết thương trên mặt của Phúc. Đây là tài liệu kết luận đã được thực hiện theo đúng thủ tục, trình tự theo quy định của pháp luật. Tôi xin công bố toàn bộ bản kết luận của Hội đồng giám định y khoa ngày 21/11/1973: “Chúng tôi không được khám đối tượng lúc bị thương, chỉ nhận định qua hồ sơ, giấy tờ để lại, tính chất của tổn thương trên mặt anh Phúc, nếu thực sự như hình ảnh mô tả trong các tài liệu của bệnh viện Xanh-Pôn và Việt Nam-Cu Ba, mặt sưng cả hai bên theo kiểu hai mặt húp, má xị, môi không vều, màu đỏ đều giống nhau, từ mi mắt dưới, qua gò má, xuống vùng xương hàm và xuống sát cổ, trừ trán và mũi, môi, răng lợi vẫn nguyên vẹn. Như vậy, vết thương trên không thể hiện tính chất của một bộ mặt bị nhiều vết bầm máu do đánh bằng vật tày. Bộ mặt tả trong các bệnh án cũng như trên tấm ảnh của hồ sơ vụ án (má  xị, mắt húp đều, màu đỏ đều và nông ở cả vùng lồi, vùng lõm xuống sát cổ, trừ trán, mũi, mồm, cằm. Màu đỏ dịu dần và nhanh mà không đổi màu theo kiểu vết bầm máu, niêm mạc môi, lợi nguyên vẹn) cho phép chúng tôi nghĩ rằng nhận xét ghi trong bệnh án của bệnh viện Việt Nam-Cu Ba “hai bên má đỏ như bỏng cháy mặt” và ý kiến của y sĩ chính trong biên bản ghi lời khai “vết đen như bỏng” là có cơ sở. Chúng tôi cho rằng, trong những yếu tố gây thương tích trên mặt anh Phúc có thể có một tác nhân vật lý hoặc hóa học nào đó cần tìm hiểu thêm. Nội dung ghi chép trong các bệnh án không cho phép chúng tôi nhận định gì thêm nữa”

Một tràng pháo tay lại nổ giòn giã, kéo dài. Kiểm sát viên Hoàng Thị Tâm như được tiếp thêm sức mạnh. Những tiếng vỗ tay biểu lộ thái độ tình cảm của đông đảo người dự phiên tòa. Kẻ gieo gió phải gặt bão. Sớm hay muộn đều phải trả giá. Xưa nay đều như thế cả, và bây giờ cũng vậy, khó ai thoát khỏi lưới trời lồng lộng.

Phiên tòa tiếp tục với phần bào chữa của luật sư cho các bị cáo Khai, Luật. Luật sư đứng dậy:

-Thưa quý Tòa. Đối với hành vi phạm tội của Trần Văn Khai thì qua xét hỏi thấy: Khi làm ở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Khai tạo điều kiện cho thị Hợi vào gặp ông Nguyễn Thành Chương để trình bày sự việc cũng là bình thường. Trần Văn Khai công nhận có dẫn vợ chồng thị Hợi đến gặp một số cán bộ Tòa án và chính quyền nhưng lại cho biết là để trao đổi về nhiều việc chứ không phải để can thiệp cho thị Hợi như cáo trạng nêu. Việc Khai viết thư cho ông Trần Hạnh, Chủ tịch khu Đống Đa cũng là để đề nghị xem xét chứ không phải gây áp lực để thị Hợi được ký hợp đồng thuê nhà như cáo trạng quy kết. Khi bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức Luật, luật sư phát biểu:

-Thưa quý Tòa. Bi cáo Luật thừa nhận các báo cáo gửi cấp trên có sai sót nhưng đó là y viết theo báo cáo của Phòng Nhà đất. Sau khi nghe luật sư phát biểu, Kiểm sát viên tranh luận:

-Với tư cách là cán bộ làm công tác nghiên cứu đơn khiếu nại như Trần Văn Khai thì không thể không biết điều kiện để được ký hợp đồng thuê nhà của thị Hợi là chỉ mới được di chuyển đến 15 ngõ Yên Thế trong thời gian phòng không sơ tán và mới được chuyển hộ khẩu vào đây. Còn nội dung quan trọng, mang tính quyết định là chủ hợp đồng thuê 2 căn hộ là ông Bưu. Bà Hiền, Phó Chánh án khu Đống Đa đã khai rằng: Khai có dẫn thị Hợi đến nhà bà nhờ can thiệp nhưng bà thấy không có cơ sở pháp lý nên đã từ chối. Còn trong thư của Khai gửi ông Trần Hạnh với động cơ cá nhân nhưng Khai lại lấy danh nghĩa là Tòa án nhân dân TP Hà Nội thúc ép UBHC khu phố Đống Đa cho thị Hợi ký hợp đồng. Điều chú ý nữa, trong thư này Khai đã bênh vực một cách công khai thị Hợi và bóng gió đe dọa rằng, thị Hợi đang kiện ông Trịnh Văn Đô, cán bộ Phòng Quản lý nhà đất vì có liên quan đến ông Bưu. Đây là thủ đoạn của Khai gửi thông điệp cho cơ quan chính quyền nhằm gây áp lực để bao che cho bị cáo Hợi. Như vậy thị Hợi thực hiện hành vi lừa đảo để chiếm đoạt quyền sử dụng căn phòng 32m2 là có sự giúp sức của Trần Văn Khai. Hay nói cách khác, Trần Văn Khai là cộng phạm giúp sức cho Trần Trung Phúc và Nguyễn Thị Hợi phạm tội lừa đảo.

 Đối với nội dung mà luật sư phát biểu về bị cáo Nguyễn Đức Luật thì Kiểm sát viên tranh luận:

-Ông Trịnh Văn Độ khai rằng, các báo cáo do ông Độ dự thảo đúng với thực tế của việc tranh chấp giữa thị Hợi và ông Bưu, nhưng khi đưa sang bị cáo Luật duyệt thì được sửa chữa gần hết. Trong đó có nhiều nội dung phản ảnh không đúng với thực tế, thiên lệch, bênh che cho thị Hợi. Đồng thời, những nội dung sửa chữa này là xuất phát từ động cơ cá nhân của Luật.

Khi tiến hành các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ của Phó Chủ tịch, Luật đã làm sai chế độ, chính sách. Sau đó, Luật còn báo cáo sai sự thật với cấp trên nhằm bảo vệ thị Hợi. Như vậy, với cương vị là Phó Chủ tịch UBHC phụ trách công tác nhà đất, Nguyễn Đức Luật đã vì động cơ cá nhân mà có những hành vi cố ý làm trái công việc mình phụ trách. Hành vi đó đã phạm tội cố ý làm trái công việc mình phụ trách gây hậu quả nghiêm trọng!

Ngồi nghe Kiểm sát viên tranh luận với Luật sư tôi thở phào và đến đây thì tiếng vỗ tay vang lên như sấm dậy. Cuối cùng, Hội đồng xét xử đã tuyên bản án sơ thẩm đồng thời chung thẩm. Điều đặc biệt của bản án này là: Nếu như bản án sơ thẩm số 59/HS2 ngày 26/4/1973 của TAND thành phố Hà Nội xác định Nguyễn Thị Hợi và Trần Trung Phúc là bị hại và tuyên phạt ông Nguyễn Thế Bưu và anh Nguyễn Văn Khánh mỗi người 30 tháng tù giam về hai tội Cố ý hủy hoại tài sản riêng của công dân và tội Cố ý gây thương tích và liên đới bồi thường cho Nguyễn Thị Hợi 4.857,25 đồng thì bản án này đã xác định rất rõ ràng ông Nguyễn Thế Bưu và anh Nguyễn Văn Khánh là bị hại của vụ án. Tòa tuyên phạt Nguyễn Thị Hợi hai năm tù về hai tội Lừa đảo để chiếm đoạt quyền sử dụng nhà ở của công dân và tội Vu cáo người khác phạm tội; Trần Trung Phúc một năm sáu tháng tù về hai tội Vu cáo và tội Lừa đảo. Ngoài ra, bản án còn phạt Trần Văn Khai một năm tù vì đã cộng phạm với Nguyễn Thị Hợi và Trần Trung Phúc tội  Lừa đảo; phạt Nguyễn Đức Luật 6 tháng tù về tội Cố ý làm sai công việc mình phụ trách gây hậu quả nghiêm trọng.

Về thiệt hại tài sản của Nguyễn Thị Hợi và Trần Trung Phúc do phía ông Bưu gây ra thì bản án cho rằng thiệt hại ấy không đáng kể so với những thiệt hại mà thị Hợi và Phúc đã gây cho gia đình ông Bưu. Mặt khác, Nguyễn Thị Hợi và Trần Trung Phúc đã có lỗi trong việc chiếm nhà trái phép của gia đình ông Bưu làm cho họ uất ức nên mới xảy ra sự việc ngày 7/3/1972. Vì vậy, Tòa án cũng không đặt vấn đề bồi thường do thị Hợi và Phúc yêu cầu.

Sau phiên tòa ít hôm, trong cuộc họp rút kinh nghiệm với Cơ quan điều tra, Vụ 2B và Viện phúc thẩm về vụ án này, đồng chí Hoàng Quốc Việt biểu dương: Vụ án đã được Tòa án tuyên với tinh thần tâm phục khẩu phục, được dư luận đồng tình ủng hộ. Lãnh đạo Viện biểu dương các cơ quan thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã làm hết trách nhiệm của mình, đi đến tận cùng của sự thật. Là cán bộ Kiểm sát, phải sâu sát, cẩn trọng, vừa đấu tranh với các loại tội phạm, vừa bảo vệ quyền dân chủ của công dân.

Gần bốn mươi năm đã qua, vậy mà những chi tiết của vụ án vẫn còn in dấu đậm nét trong tâm trí tôi. Từ vụ kỳ án đó, tôi càng thấm thía hơn những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đối với cán bộ ngành Kiểm sát, là phải: Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn. Đây cũng là vụ án thể hiện sự chỉ đạo kiên quyết, thận trọng của tập thể lãnh đạo Viện kiểm sát tối cao, trong đó có vai trò quan trọng của đồng chí Viện trưởng Hoàng Quốc Việt. Ông là Viện trưởng có  trái tim nhân hậu với người dân, nhất là những người bị oan. Thiết nghĩ đây cũng là bài học về bản lĩnh vững vàng đi đến tận cùng của sự thật, bảo vệ quyền dân chủ của công dân.

 

 

        

 

 

 

Chia sẻ cảm nhận của bạn

Tin liên quan

Thương nhớ Viện trưởng Hà Mạnh Trí

Thương nhớ Viện trưởng Hà Mạnh Trí

Bình luậnNgười đăng: Admin

                 Trái tim anh Hà Mạnh Trí,nguyên Viện trưởng VKSNDTC đã ngừng đậpHôm nay thật sự bàng hoàng khi nghe tin Anh Hà Mạnh Trí, nguyên Viện trưởng VKSTC... Xem thêm

Vì sao VKSND Cấp cao tại TPHCM kháng nghị huỷ án sơ thẩm vụ VN Pharma?

Vì sao VKSND Cấp cao tại TPHCM kháng nghị huỷ án sơ thẩm vụ VN Pharma?

Bình luậnNgười đăng: Admin

https://dantri.com.vn/xa-hoi/vi-sao-vksnd-cap-cao-tai-tphcm-khang-nghi-huy-an-so-tham-vu-vn-pharma-20170926145638151.htmVì sao VKSND Cấp cao tại TPHCM kháng nghị huỷ án sơ thẩm vụ VN Pharma?Dân trí TS Dương Thanh Biểu - nguyên Phó Viện trưởng VKSND Tối cao - phân tích kỹ lý do VKSND Cấp... Xem thêm

CÂU CHUYỆN MAI TÁNG TỬ SĨ

CÂU CHUYỆN MAI TÁNG TỬ SĨ

Bình luậnNgười đăng: Admin

                    CÂU CHUYỆN MAI TÁNG TỬ SĨSau những ngày chiến đấu chống quân Mỹ đổ bộ xuống Động Nóc (bộ đội gọi là đồi cháy) ở phía... Xem thêm

Đại tá tình báo Trần Hiệu, nguyên Phó Viện trưởng VKSNDTC, trợ thủ đắc lực của Viện trưởng VKSNDTC Hoàng Quốc Việt     Hiến pháp năm 1959 có quy định hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân, có chức năng “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan

Đại tá tình báo Trần Hiệu, nguyên Phó Viện trưởng VKSNDTC, trợ thủ đắc lực của Viện trưởng VKSNDTC Hoàng Quốc Việt Hiến pháp năm 1959 có quy định hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân, có chức năng “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan

Bình luậnNgười đăng: Admin

Đại tá tình báo Trần Hiệu, nguyên Phó Viện trưởng VKSNDTC, trợ thủ đắc lực của Viện trưởng VKSNDTC Hoàng Quốc ViệtHiến pháp năm 1959 có quy định hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân... Xem thêm

“Hãy đến thăm mẹ đi”:

“Hãy đến thăm mẹ đi”:

Bình luậnNgười đăng: Admin

“Hãy đến thăm mẹ đi”: Câu chuyện lấy đi nước mắt của triệu người conỞ một gia đình nọ, saᴜ khi Bố qᴜa đời, người con tɾai có gia đình ɾiêng đã đưa Mẹ đến ở... Xem thêm