Chương 3 MAI TÁNG TỬ SĨ. NỐI NIỀM NGƯỜI LÍNH

4 tháng trước - Bởi Admin
Bình luận - 2.849 lượt xem

Chương 3 MAI TÁNG TỬ SĨ




Sau ba tháng huấn luyện cấp tốc, chúng tôi được lệnh hành quân vào Nam chiến đấu. Để chuẩn bị hành quân

đi xa, người lính chúng tôi phải chuẩn bị nhiều thứ. Mấy ngày nay chỉ vật lộn với chiếc ba lô mà không xong. Chiếc ba lô thì căng phồng mà vẫn còn nhiều thứ chưa đóng vào được… Rồi còn những lá thư của gia đình và Thoa thì nhất thiết phải mang đi cùng. Mình đã hứa với Thoa là có chết cũng mang thư bên người cơ mà. Tối nay, nhớ Thoa, tranh thủ viết thư cho em:

Em yêu. Mấy hôm nay anh và đơn vị rất bận rộn vì phải chuẩn bị hành quân đi B em ạ. Ôi biết bao việc phải làm. Có em bên cạnh lúc này chắc anh sẽ đỡ được nhiều việc. Em ơi. Chỉ còn thời gian rất ngắn nữa thôi là anh và đơn vị phải hành quân vào Nam rồi. Thế là khoảng cách giữa anh và em lại càng dài hơn. Không hiểu lúc nào chúng mình lai được gần nhau em? Anh tưởng chỉ vào bộ đội vài tháng là Nam Bắc sẽ thống nhất, anh và em sẽ được gần nhau, sẽ được hồn nhiên bên nhau của tuổi học trò. Thế mới biết đời học sinh đẹp biết nhường nào. Vào đây mới biết còn gian lao và ác liệt lắm em ạ. Dù sao anh sẽ cố gắng hoàn thành nhiệm vụ như đã hứa với em. Anh biết dạo này máy bay ném bom quê mình dữ dội lắm. Anh cầu mong cho em học tập tốt và bình an. Anh nhớ em, nhớ lớp học vô cùng. Cầu mong cho sự đoàn tụ của chúng mình.

16 giờ chiều ngày 3 tháng 6 năm 1968, chúng tôi được lệnh hành quân đi B. Sau tiếng còi báo động, đơn vị trong tư thế hàng ngũ chỉnh tề, ba lô căng phồng, dập dìu dưới cành lá ngụy trang.


Đồng chí nào cũng cầm gậy trông rất vững trãi. Mệnh lệnh hành quân được phát ra. Đơn vị tập hợp thành hàng dọc. Đi đầu là đại đội trưởng Nguyễn Trọng Ê. Ông là người chỉ huy có tài với nét mặt nghiêm khắc mà mỗi lần tôi gặp đều thấy sờ sợ. Ông cũng đã từng trải qua chiến trường nên có nhiều kinh nghiệm trong hành quân. Hành quân vào Nam mà có người chỉ huy như Đại đội trưởng Nguyễn Trọng Ê thì ai cũng yên tâm.

Đoàn quân, dập dìu, rung lá ngụy trang, trải dài tít tắp. Đi trong hàng quân hôm nay mình cảm thấy đã lớn lên rất nhiều. Mảnh đất Nghĩa Thọ gắn bó với đời chiến sĩ chúng tôi chưa đầy ba tháng nhưng đã để lại bao kỷ niệm buồn vui trong thời gian huấn luyện. Chúng tôi hành quân gần sáng thì nghỉ. Nơi đơn vị dừng chân chỉ cách nhà có vài cây số, nhưng vì cuộc hành quân được coi là bí mật nên không ai được về thăm nhà. Mất ngủ suốt đêm mà tôi không sao chợp mắt được. Nhớ gia đình, nhớ em, nhớ thầy cô da diết. Tối hôm đó, đồng chí Đại đội trưởng, tập hợp anh em phổ biến:

- Từ đây vào chiến trường, trên đường hành quân máy bay Mỹ bắn phá rất ác liệt. Vì bí mật của cuộc hành quân và để bảo đảm an toàn, từ hôm nay, tất cả phải hành quân đêm!

Tiếng bom nổ ầm ầm phía thị trấn, những loạt pháo cao xạ nổ lốp bốp trên bầu trời cũng không cắt đứt dòng suy nghĩ miên man về quê hương, về tuổi thơ trong trẻo của tuổi học trò. Đêm đó chúng tôi vượt sông Lam để sang Nam Hoành. Ngắm dòng Lam nước mênh mông, in bóng những vì sao tuyệt đẹp, chợt những kỷ niệm gắn với dòng sông tuổi thơ cũng chập chờn hiện về. Thế là ta phải xa sông Lam mãi mãi. Không hiểu đến bao giờ mới được về lặn ngụp trong làn nước mát trong của dòng sông yêu dấu. Tất cả sông nước, quê hương và biết bao con người từng tần tảo vật lộn với cuộc sống nơi bến đậu yên bình cứ xa dần, xa dần trong bóng đêm


dày đặc. Đoàn quân rung lá nguỵ trang vẫn lầm lũi miệt mài theo hướng Nam thẳng tiến…

Chúng tôi hành quân qua đất Nam Đàn thì đến Hà Tĩnh. Từ đây, bộ đội hành quân theo đường giao liên xuyên qua rừng núi Trường Sơn hùng vĩ. Được dãy Trường Sơn che giấu nên bộ đội hành quân ban ngày. Ngày đi, đêm nghỉ. Những ngày đầu hành quân, chân anh nào cũng sưng to. Tối đến phải thay nhau bóp chân. Có đồng chí còn bị loét chân, có đồng chí bị thối chân do đi giày không quen. Chiều đến, tiểu đội ngồi ăn cơm mà gặp phải đồng chí nào thối chân lười rửa thì mùi thum thủm như cóc chết thật kinh khủng.

Hành quân qua Hà Tĩnh thì đến Quảng Bình. Sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh càng hiện rõ hơn. Tiếng gầm rú của máy bay Mỹ, tiếng bom nổ từ phía cầu, phà… cứ vọng về mồn một. Nhìn về phía đồng bằng có nhiều cột khói bom đen kịt cuồn cuộn bốc lên. Tròn nửa tháng vượt núi băng sông, chúng tôi đến miền tây Quảng Trị, đúng vào dịp mùa mưa.

Hành quân vào đến nơi thì chúng tôi được bổ sung cho Tiểu đoàn K8A của Mặt trận B5. Tôi được bổ sung vào Đại đội 4. Đây là Đại đội hỏa lực của Tiểu đoàn K8A. Tôi được biên chế vào Khẩu đội đại liên Côlinốp do anh Vương Tử Hoàng làm Tiểu đội trưởng. Anh Hoàng quê ở Thanh Hóa, nhập ngũ năm 1964. Anh là người đã kinh qua nhiều trận đánh nên có khá nhiều kinh nghiệm xử lý tình huống trong chiến đấu. Buổi đầu vào tiểu đội, được anh Hoàng kể rất nhiều chuyện chiến đấu ở Mặt trân B5. Sau khi củng cố nơi ăn, ở, chúng tôi bắt đầu huấn luyện sử dụng súng đại liên Côlinốp. Lúc này Mặt trận B5 đang tập trung vây lấn cứ điểm Khe Sanh. Huấn luyện được hai tuần thì chúng tôi được giao nhiệm vụ chi viện cho lực lượng vây lấn cứ điểm Khe Sanh.


Khe Sanh là thị trấn thuộc huyện Hướng Hóa, miền Tây Quảng Trị, cách biên giới Việt - Lào khoảng 20km. Từ Đông Hà ngược theo đường số 9, chừng 80 km sẽ đến Khe Sanh, một vùng đất đỏ bazan lãng đãng mù sương. Khe Sanh với địa hình đồi núi rậm rạp, trập trùng. Khe Sanh lúc này trở thành một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ “ngăn cản sự xâm nhập của Cộng quân vào Nam” do Macnamara, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ lúc bấy giờ vạch ra. Đây là căn cứ quân sự của Mỹ có nhiệm vụ chốt chặn bước tiến của quân ta chi viện cho chiến trường miền Nam. Hơn nữa chúng muốn tạo thế mạnh ở miền Nam để uy hiếp miền Bắc. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 của ta đã giáng một đòn bất ngờ, làm thất bại Chiến lược Chiến tranh Cục bộ của Mỹ ở miền Nam.

Bị vây ép, địch tổ chức nhiều cuộc hành quân nống ra hòng chiếm lại những khu vực đã bị mất xung quanh thị trấn Khe Sanh đẫm máu này. Đơn vị chúng tôi hành quân chiếm lĩnh trận địa tại đồi Cháy phía Nam sông Bến Hải có nhiệm vụ tiêu diệt quân Mỹ nhảy dù đánh vào phía sau hậu cứ. Quả đồi mà Tiểu đội đại liên chúng tôi được giao nhiệm vụ chốt giữ là Động Nóc, anh em thường gọi là đồi Cháy. Vì toàn bộ quả đồi bị bom đạn cày xới, cây, cỏ bị cháy thui. Mấy ngày nay máy bay B52 thi nhau rải thảm, pháo bầy của giặc từ Tà Cơn, Dốc Miếu thi nhau trút bão lửa xuống trận địa. Rừng già tan hoang, đồi trọc bị cày xới bởi hàng trăm hàng nghìn hố bom, hố pháo. Chỉ cần một đợt bom rải thảm của B52 là cánh rừng bị tan hoang, điêu tàn. Sau những trận bom, pháo cây cối đổ nghiêng ngả, hầm hào sạt lở tùm lum, địa hình địa vật đổi thay lạ hoắc. Đêm và ngày ùng oàng tiếng bom rơi đạn nổ, không gian sặc sụa mùi thuốc bom, đạn. Có những trái pháo, quả bom nổ đúng hầm. Đồng đội tôi có người bị thương, hy sinh. Chúng tôi phân công nhau người trực chiến đấu, người vận chuyển thương binh, người chôn cất tử sĩ. Người lính ngoài mặt trận như cái máy, công việc suốt ngày, suốt


đêm. Có khi vài ngày không được ngủ. Mỗi người được tiếp tế ba nắm cơm vắt với muối cho ba bữa sáng, trưa và chiều.

Sau một trận chiến đấu, đơn vị nhận được lệnh tiếp tục hành quân đêm sang trận địa khác để chốt giữ đánh địch nống ra. Vừa đến trận địa mới lại phải bắt tay đào hầm trú ẩn ngay. Rồi lại tiếp tục canh gác và chiến đấu, ngày cũng như đêm, căng như dây đàn. Những ngày đầu vào chiến đấu, gặp những cảnh căng thẳng và ác liệt như thế này tôi lo lắng đủ mọi thứ, nhất là khi nhìn thấy những đồng đội ngã xuống do mảnh bom, đạn. Có lúc tôi đã giật mình ghê sợ vì cái chết nhìn thấy thật thảm hại. Trong hoàn cảnh như vậy chỉ biết im lặng nén đau thương, căm thù và gạt nước mắt. Những lần mai táng đồng đội của mình, anh em ghi vội thông tin để trong túi áo chỉ vẻn vẹn với những dòng tên tuổi, địa chỉ ngắn gọn và chiếc nilong để cuốn, bó xác tử sĩ. Nhìn nấm mồ tử sĩ mà thấy cuộc đời người lính thật mong manh, mỗi người nằm xuống có biết bao nhiêu người đau, đâu phải chỉ có người chôn cất như chúng tôi mà có cả người thân, gia đình mà cả xóm làng đang ở xa tít tắp.

Mấy hôm sau, khẩu đại liên được lệnh hành quân quay lại chiếm lĩnh đồi cháy (Động Nóc) để làm nhiệm vụ đánh địch đổ bộ hòng cắt đứt đường tiếp viện cho Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh. Tiểu đội đại liên chúng tôi quần nhau suốt ngày với máy bay địch. Từ sáng sớm, máy bay và pháo tầm xa thi nhau bắn xối xả vào đồi Cháy. Cả quả đồi trong chốc lát đã bị khói bụi bao phủ mịt mù. Những tiếng rít của bom và pháo nghe như xé vải và tiếp đó là những tiếng nổ đinh tai nhức óc, thật rợn người. Quả đồi như rung lên bần bật. Đất đá bắn tứ tung, khói bụi mù mịt. Những đám lửa cháy bập bùng để lại những cột khói nghi ngút, đen quạch. Không khí hầm hập, oi bức và ngạt thở. Đầu tóc, mặt mũi, áo quần người lính nào cũng nhoem nhuốc, lấm láp, nhếch nhác.


Sau đợt ném bom của máy bay và bắn phá của pháo tầm xa thì máy bay trinh sát VO10 quần đảo, ngó nghiêng khắp khu vực đồi cháy. Có lẽ chúng nghĩ trên đồi cháy này không thể có một sinh linh nào sống nổi dưới sức mạnh của hỏa lực Hoa Kỳ, huống hồ bộ đội. Chiếc VO10 hai thân bay vè vè, lượn vài vòng xung quanh quả đồi và sau đó tập trung bắn chỉ điểm vào các lùm cây ven suối dưới chân đồi. Có lẽ chúng nghĩ, chỉ ở nơi đó mới có bộ đội đóng quân. Sau những quả pháo bắn chỉ điểm của VO10 là mấy chiếc phản lực bổ nhào ném bom xuống ven suối. Đồi Cháy lại rung lên sau những loạt bom.

Tiếp đó là từng đàn máy bay trực thăng từ phía Cồn Tiên, Dốc Miếu túa ra như chuồn chuồn. Tiếng động cơ máy bay trực thăng nghe phành phạch. Chúng bay lượn một vòng xung quanh quả đồi rồi một chiếc tách khỏi đội hình từ từ hạ thấp độ cao để đáp xuống trận địa. Anh Hoàng hô to át cả tiếng trực thăng:

- Toàn khẩu đội chuẩn bị đánh địch đổ bộ.

Phương án đánh địch đổ bộ đã được anh em luyện tập chu đáo. Dưới cái nóng hầm hập nhưng anh em vẫn dán mắt vào chiếc máy bay đi đầu đang hạ cánh. Chiếc máy bay từ từ hạ cánh xuống khoảnh đất trống, phẳng. Tôi thấy nó đã hạ thấp lắm rồi mà chưa nghe Tiểu đội trưởng ra lệnh bắn. Nó càng hạ thấp độ cao thì sức gió của cánh quạt máy bay càng lớn. Nó có thể thổi cuốn hết các vật gì trên mặt đất, bụi bay mịt mù. Hơi gió cánh quạt thổi cả vào hầm như trận cuồng phong. Cũng rất may là cửa hầm được chúng tôi ngụy trang rất khéo léo và chặt chẽ. Trên miệng hầm chúng tôi cắm rất nhiều cành cây đã cháy sém đen, tất cả mặt đất, cửa hầm chỉ rạch một màu xám đen của than, tro, miệng hầm cũng không bị lộ ra. Tôi thấy chiếc máy bay càng ngày càng xuống thấp. Làn gió của cánh quạt thổi như bão. Trên thân cửa máy bay có mấy thằng Mỹ đội mũ


sắt, mặt đỏ au đang ngồi lố nhố. Chúng lăm lăm trong tay khẩu tiểu liên Ar15, đôi mắt chúng ngó nghiêng, quan sát khắp trận địa, hình như nó đã nhìn thấy chúng tôi thì phải. Tôi nóng ruột quá. Tại sao lúc này Tiểu đội trưởng chưa cho bắn? Nếu được bắn, chắc chắn loạt AK sẽ trúng đầu mấy tên Mỹ đang ngồi trên cửa sổ máy bay. Tôi nhìn sang hầm chỉ huy, thấy anh Hoàng và mấy anh em vẫn hướng nòng súng đại liên theo chiếc máy bay. Chiếc trực thăng HU1A vẫn từ từ hạ cánh. Quan sát chiếc máy bay đang hạ cánh, tôi nghĩ đến phương án tối qua của Tiểu đội trưởng đưa ra là phải bằng mọi giá, bắn rơi chiếc đi đầu. Muốn vậy phải ngụy trang cửa hầm thật kín đáo, chờ cho máy bay hạ thật thấp mới được bắn. Chiếc máy bay tiếp tục hạ thấp và chuẩn bị tiếp đất. Chỉ cần nghe khẩu lệnh của Tiểu đội trưởng là khẩu súng AK của tôi sẽ nhả đạn.

Đúng lúc này, tiếng đạn đại liên nổ giòn giã. Tôi xiết cò. Nòng súng AK rung lên bần bật. Chiếc trực thăng dính đạn, hốt hoàng bốc lên. Nó chòng chành bay khỏi trận địa và rơi xuống quả đồi bên cạnh. Khói đen bốc lên cuồn cuộn. Mấy chiếc trực thăng bay sau thấy vậy liền nhao khỏi trận địa. Một chốc sau pháo tầm xa bắn cấp tập xuống đồi Cháy.

Sau mỗi đợt bắn phá, máy bay trực thăng lại tiếp tục đổ bộ xuống đồi Cháy. Từ đó đến chiều, khẩu đại liên bắn trả quyết liệt và đánh bật ba lần đổ bộ bằng trực thăng của địch. Khẩu đại liên đã bắn rơi ba chiếc máy bay và đã làm thất bại cuộc đổ bộ xuống đồi Cháy. Cả tiểu đội có 1 đồng chí hy sinh và hai đồng chí bị thương.

Trời đã gần tối, đói bụng quá, tôi bẻ nắm cơm ra ăn. Vỏ ngoài nắm cơm đã khô như vỏ dừa. Đang ăn thì Tiểu đội trưởng Vương Tử Hoàng gọi lên hầm chỉ huy. Anh Hoàng hút một hơi thuốc dài và nhả ra làn khói xanh, thơm bay theo chiều gió, nhìn tôi âu yếm nói:

Bây giờ cậu chuẩn bị cùng tớ đi làm nhiệm vụ đặc biệt của Tiểu đoàn. Nhớ chuẩn bị mang theo dao găm, cuốc, xẻng nhé.


Tiểu đội trưởng Hoàng có đôi mắt sâu hoắm, mặt mày lem luốc, bước đi nhanh nhẹn. Anh là người chỉ huy dũng cảm, linh hoạt nhưng rất thương anh em. Đêm đêm trước giờ ngủ, anh đều đi kiểm tra chiến sĩ có mắc màn và ngủ đúng giờ hay không. Tiếp đó, lại đi một vòng kiểm tra việc gác xách của lính ta thế nào. Có lần anh nói với tôi:

Vốn quý nhất của con người, nhất là đối với bộ đội là sức khỏe. Một đồng chí ốm là mất một tay súng. Mất một tay súng là kẻ địch có lợi hơn mình. Do vậy, chăm lo sức khỏe của chiến sĩ là nhiệm vụ hàng đầu của người chỉ huy.

Tôi lao nhanh về hầm và chuẩn bị các dụng cụ cần thiết. Lúc này tôi cũng chưa hiểu đi làm nhiệm vụ đặc biệt là nhiệm vụ gì. Chập choạng tối, chúng tôi đến Ban chỉ huy Đại đội mới biết nhiệm vụ đặc biệt đó là đi mai táng, chôn cất tử sĩ. Mấy hôm nay âm mưu của địch là dùng sư đoàn “Kỵ binh bay” đổ bộ, chặn đường tiếp tế của ta cho mặt trận Khe Sanh. Đại đội trong đội hình của Tiểu đoàn K 8A đã tập trung đánh địch đổ bộ đường không nên rất ác liệt. Tiểu đoàn đã tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đánh bật cuộc đổ bộ đường không của chúng. Tuy nhiên, chúng ta cũng có nhiều thương vong.

Đi làm nhiệm vụ đặc biệt lần này có nhiều đồng chí. Ngoài anh Hoàng ra còn có các anh Lê Xuân Trữ, Hoàng Ngọc Loan, Nguyễn Văn Lệ, Lê Văn Ngọ… Mới xa nhau mấy ngày mà trông cậu nào cũng hốc hác, đen sạm, mệt mỏi. Chúng tôi tay bắt mặt mừng nhưng nhìn ai cũng đượm vẻ lo âu. Trữ vừa cười vừa nói với giọng khảng khái, coi cái chết chẳng là gì, phá đi không khí căng thẳng, mệt mỏi này:

Sống chết cũng có số phận của nó các cậu ạ. Bom đạn tránh mình chứ mình làm sao mà tránh nó được. Chỉ có điều, sau này nhỡ ra, có làm sao thì ai còn lại nhớ báo tin cho gia đình với nhé.


Tôi nhìn Trữ và mọi người rồi liếc nhìn các liệt sĩ đã được gói cẩn thận bằng vải ni lông được cho lên cáng và dựa thân cây. Nhìn các cáng tử sĩ mà lòng ái ngại, thông cảm cho các đồng đội. Anh em chúng tôi tập trung trước hầm Chính trị viên đại đội. Trực tiếp giao nhiệm vụ có anh Nguyễn Hữu Thu, Chính trị viên và anh Nguyễn Long Trọng, Đại đội trưởng. Anh Thu quê ở xã Dân Lực, Triệu Sơn, Thanh Hóa. Anh Trọng quê ở xã Quảng Yên, Quảng Xương, Thanh Hóa. Chúng tôi được bổ sung vào đơn vị hỏa lực của tiểu đoàn K8A, lại có các Thủ trưởng vừa đẹp trai, vừa tâm lý như anh Thu và anh Trọng thì thật vinh hạnh.

Sau khi mọi người dựa vào gốc cây, ổn định chỗ ngồi, anh Nguyễn Hữu Thu phổ biến nội dung của nhiệm vụ đặc biệt. Anh Thu trước đây là giáo viên cấp 2, nhập ngũ năm 1964. Anh có đôi mắt sáng với giọng nói sang sảng có sức thuyết phục. Anh Thu nhìn chúng tôi nói:

Hôm nay các đồng chí được cử làm nhiệm vụ đặc biệt. Theo mệnh lệnh của Thủ trưởng Mặt trận Đường 9 – Khe Sanh, vị trí nơi tác chiến là không an toàn nên phải bằng mọi giá, khẩn trương chuyển các tử sĩ ra bờ bắc sông Bến Hải để mai táng. Đây không chỉ là nghĩa tử mà còn là tình cảm đồng đội, đồng chí, sống chết có nhau, là trách nhiệm của người quân nhân cách mạng đối với người đã hy sinh vì Tổ quốc. Ngay trong đêm nay, chúng ta phải đưa thi hài các đồng chí đã hy sinh ra bờ Bắc sông Bến Hải. Do vậy, Đảng ủy Tiểu đoàn và Ban Chi ủy Đại đội rất tin tưởng và gửi trọn niềm tin vào các đồng chí và mong các đồng chí đoàn kết, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đặc biệt này. Anh Thu nói rất ngắn gọn và sau đó, anh Trọng, Đại đội trưởng phân công nhiệm vụ:

Để đảm bảo hành quân an toàn, chúng tôi phân công bốn đồng chí đảm nhiệm một cáng tữ sĩ. Hôm nay trời mưa, đường đi


đêm rất khó khăn. Các đồng chí bám sát với nhau, không được đi lạc, giữ bí mật, đề phòng thám báo, biệt kích mai phục. Trong trường hợp bị địch mai phục thì đánh địch, mở đường mà đi. Kiên quyết bảo đảm an toàn tuyệt đối thi hài tử sĩ. Nghe đến đây tôi thấy ghê cả người. Anh Trọng nói tiếp:

Tôi đề nghị các đồng chí đi làm nhiệm vụ đặc biệt lần này hãy vì tình thương yêu giai cấp, tình thương yêu đồng đội, các đồng chí không được khạc, nhổ trước anh linh đồng chí mình. Nghe đến đây tôi thấy rờn rợn, nổi gai ốc.

Sau đó tôi được phân công cùng anh Hoàng, Trữ, Lệ khiêng một cáng tử sĩ. Trữ quê ở xã Hưng Hòa, thành phố Vinh; Lệ quê ở Nam Cát. Chúng tôi cùng nhập ngũ một ngày, vào chiến trường B5 lại cùng đơn vị. Mọi người khoác áo mưa. Anh Hoàng đeo khẩu súng AK đi trước. Tôi và Trữ khiêng tử sĩ đi sau. Sau cùng là Lệ. Tử sĩ là anh Nguyễn Hồng Sơn, quê ở Hưng Lợi, Hưng Nguyên, cùng nhập ngũ với chúng tôi. Anh Sơn bị mảnh pháo xuyên ngực cách đây bốn hôm. Tuy được bó bằng vải ni lông nhưng vẫn bốc mùi rất nặng.

Mới gần sáu giờ chiều mà đường đi đã tối sẫm. Trời vẫn mưa ngày càng nặng hạt. Trữ người nhỏ hơn nên đi sau, tôi đi trước. Một tay tôi giữ cáng, tay kia chống gậy và đi theo anh Hoàng. Anh Hoàng vừa đi vừa dò dẫm. Có đoạn đi được một quãng nhầm đường phải quay lại. Những lúc xuống dốc, đường trơn, cáng tử sĩ khá nặng đè lên vai rất khó đi. Có lúc trượt chân, thế là cáng tử sĩ đè lên người. Những lúc đó phải có anh Hoàng và Lệ kéo lên mới đứng dậy được. Nước của xác tử sĩ theo cáng chảy vào người nhơn nhớt. Thật kinh khủng. Khoảng 3 giờ sáng thì chúng tôi đến bờ sông Bến Hải. Lúc này trời mưa như trút nước. Trời tối đen như mực. Nước sông dâng cao. Chúng tôi ai cũng mệt nhoài. Anh Hoàng cho anh em tạm nghỉ chờ nước rút mới khiêng tử sĩ sang sông được. Anh Hoàng vuốt nước mưa, nói:


Bây giờ ta tạm nghỉ tại đây. Mưa thế này có thể sáng mai tạnh, mới vượt sông được. Chúng ta thay nhau thức canh tử sĩ. Phải đề phòng thú rừng, tuyệt đối không được để mất tử sĩ.

Tối đó chúng tôi thay nhau đứng giữa trời mưa để canh tử sĩ. Tôi và Trữ được phân công gác trước. Chúng tôi đứng gác mà bụng đói cồn cào. Đứng dưới làn mưa bàng bạc, Trữ hỏi tôi:

Đói bụng quá. Tớ còn cơm đây. Cậu ăn với mình nhé. Vừa nói Trữ vừa móc nắm cơm trong túi ra đã ướt sủng. Trời tiếp tục mưa như trút nước. Tôi nhìn Trữ, nhìn mưa giăng giăng, nước sông chảy ầm ĩ mà lòng ngao ngán quá chừng. Chưa bao giờ tôi lại nghĩ đời bộ đội sao mà lắm gian nguy thế này. Khi còn là cậu học sinh có ai kể cho mình về sự gian nan vất vả của bộ đội như thế này đâu. Bụng thì đói mà hai lỗ mũi lúc nào cũng phảng phất mùi tử sĩ thật buồn nôn. Tôi nhìn Trữ, chép miệng:

Làm sao mà ăn nổi. Cậu ăn đi. Tôi vừa nhìn vừa chỉ tay ra bờ sông đang ào ào thác đổ:

Kiểu này có thể nước sông ngập lên đến đây chắc. Trữ vừa cố gắng nuốt trôi miếng cơm nắm, khoát tay nói:

Mặc nó, ăn đi mà lấy sức. Nước sông có lên đến đây ta lại tiếp tục chuyển tử sĩ lên cao hơn nữa.

Nói chưa xong Trữ đã ngoạm cả miếng cơm còn lại một cách ngon lành. Trời tiếp tục mưa giăng giăng. Sấm chớp xen lẫn tiếng pháo cầm canh nổ đì đoàng. Anh Hoàng thức dậy từ lúc nào đến bên tôi, vỗ vai:

Bây giờ để tớ gác cho. Các cậu tranh thủ ngồi ngủ một lát cho đỡ mệt. Tôi thấy ánh sáng đã le lói phía đông, bèn nói với anh Hoàng:

Trời gần sáng rồi anh a. Em cũng chẳng buồn ngủ nữa. Anh và Trữ cứ tranh thủ ngủ đi. Tôi chưa nói dứt thì Trữ đã vén áo mưa,


ghé mông vào gốc cây mục ngồi thụp xuống, trùm áo mưa và ngủ luôn. Còn anh Hoàng thì bật lửa hút thuốc.

Tôi bồng súng đứng gác bên thi hài Sơn trong làn mưa giăng giăng, bàng bạc. Không hiểu nước mắt hay nước mưa mà cứ lăn dài trên gò má. Nhìn thi hài tử sĩ được gói tròn trịa bằng áo mưa, nằm ngay ngắn trên chiếc cáng được dựa vào hai thân cây, con tim tôi bổng xốn xang. Cuộc đời lính trận đúng là sống rày chết mai. Trong mưa bom bão đạn này chẳng biết sao mà lần. Tôi nhìn trời vẫn mưa rơi trắng xóa, bắn vào cáng nghe lộp bộp. Càng nhìn bọc thi hài Sơn, càng thấy thương Sơn. Sơn ơi. Chỉ mới cách đây mấy hôm, chúng mình đang cùng nhau hút chung điếu thuốc lá Sa Lem lấy được của bọn lính Mỹ trên đồi Cháy, mà bây giò Sơn đã ra đi để lại nỗi mất mát, đau thương cho tiểu đội, cho bọn mình. Mình vẫn nhớ câu nói của Sơn dặn mọi người: Nếu trong chiến đấu có làm sao thì người còn lại phải báo ngay cho gia đình. Bây giờ người ra đi trước lại là Sơn. Thật đau xót trước cảnh mất mát đau thương này, Sơn ạ. Bọn mình đã vượt bao núi cao, dốc thẳm để đưa Sơn sang bờ bắc sông Bến Hải cho an toàn. Chúng mình sẽ làm mộ chí cẩn thận và sẽ báo cho gia đình biết, Sơn nhé!.

Sơn ơi. Hôm nay, tiễn biệt Sơn không hương, không nến cũng không hoa. Giữa mưa ngàn thác đổ, giữa trận địa đầy hiểm nguy này, tiễn Sơn về thế giới người hiền, với tấm lòng đồng đội thủy chung, luyến tiếc, sẻ chia. Sơn thông cảm cho bọn mình và ra đi thanh thản nhé. Chỉ một thời gian ngắn nữa thôi, bọn mình sẽ đưa Sơn đến nơi yên giấc ngàn thu.

Tôi đang nghĩ miên man về Sơn thân thương thì cơn mưa cũng ngớt dần. Mưa đầu nguồn có khác. Vừa mưa nước đã dâng cao; ngớt mưa nước cũng rút rất nhanh. Những hòn đá nhấp nhô ngày càng lộ dần lên mặt nước. Chúng tôi khẩn trương khênh cáng tử sĩ


vượt sông Bến Hải. Sông chảy cuồn cuộn. Chúng tôi vừa khênh tử sĩ vừa bám vào dây thừng mà các chiến sĩ giao liên đã làm sẵn để vượt sông. Nếu không có dây thừng này thì dòng nước có thể cuốn chúng tôi đi bất cứ lúc nào.

Chúng tôi vừa khênh xác tử sĩ qua sông thì cũng là lúc máy bay Mỹ bắn phá hai bên bờ sông Bến Hải. Thi hài Sơn được chúng tôi khênh đến xã Vĩnh Ô, Vĩnh Linh để mai táng. Mấy anh em hì hục đào huyệt chôn cất tử sĩ và ghi thẻ mộ chí cho Sơn. Mai táng tử sĩ xong, chúng tôi khẩn trương quay lại sông Bến Hải để về đơn vị. Trước lúc quay lại, anh Hoàng dặn mọi người:

- Bây giờ ta khẩn trương hành quân về đơn vị. Theo cấp trên cho biết, đoạn sông ta vừa qua, trưa nào máy bay cũng bắn phá ác liệt, cho nên yêu cầu các đồng chí ngụy trang cẩn thận, đi cách nhau 10 mét và hết sức khẩn trương để vượt sông trước 10 giờ sáng. Sau lời căn dặn của anh Hoàng, có thể nói là chúng tôi vừa đi vừa chạy để kịp vượt sông khi máy bay tới ném bom sông Bến Hải.

Sau đợt công tác đặc biệt này, lỗ mũi tôi lúc nào cũng thoang thoảng mùi tử sĩ, mặc dù luôn xức dầu con hổ nhưng vẫn không hết cái mùi thum thủm ấy.

Câu chuyện trên đây chỉ có người lính mới gặp phải. Khi còn là học sinh chẳng bao giờ tôi nghĩ tới. Với chiến trường, sự sống và cái chết gần nhau trong gang tấc. Cùng nhau giữa chiến hào nhưng chỉ giây phút sau, đồng chí của mình đã hy sinh bởi bom đạn địch, không một lời trăng trối. Thương tâm hơn, vừa ăn cơm xong có người đã dính mảnh đạn pháo của địch chết ngay. Có biết bao lời hẹn ước lúc lên đường dành cho ngày gặp lại, mà không thể thành hiện thực. Còn biết bao đồng đội, mặt búng ra sữa, chưa một ánh mắt trao nhau, chưa một lời hẹn ước… đã phải từ giã cuộc đời!


Nghĩ đến đây, tôi xốn xang nhớ tới Thoa. Gương mặt tròn, đôi mắt bồ câu đen lay láy, mái tóc thơm hương bưởi và nụ cười tươi tắn như hoa nở… cứ hiện lên trong tôi mỗi khi màn đêm buông xuống núi đồi đang khét lẹt mùi bom đạn. Mấy tháng nay tôi không nhận được thư em. Những lúc im tiếng súng đạn tôi lại mang thư Thoa ra đọc. Mỗi lần đọc, lại nhớ đến những kỉ niệm êm đềm bên em thuở học trò. Trái tim tôi vẫn ngân lên lời thủ thỉ của em: Anh yêu! Năm học gần hết rồi, sao anh lại bỏ em mà đi lúc này. Anh biết không, mấy ngày nay, em đứng ngồi không yên khi nghe tin anh đi bộ đội… Nghĩ đến đây, tôi thầm gọi em. Thoa ơi, em sẽ thế nào khi anh phải ngã xuống nơi chiến trường ác liệt này? Ngày anh đi bộ đội, cứ nghĩ rằng cuộc chiến tranh sắp kết thúc rồi, nào ngờ vào mặt trận mới thấy nó còn dài lâu, ác liệt vô cùng em thân yêu à. Trong những lúc này, anh lại nhớ lời nguyện thề của em: EM MÃI ĐỢI ANH VỀ!

Khẩu đội đại liên của chúng tôi chỉ có anh Vương Tử Hoàng lớn tuổi, còn lại sàn sàn như nhau. Ai cũng muốn đất nước chóng thống nhất để được cùng nhau về thăm gia đình đồng đội. Nghĩ đến đây, tôi thầm hứa sẽ đưa đồng đội của mình đi thăm ngôi nhà Bác ở làng Sen và ra sông Lam tắm mát, nghe những điệu hò ví dặm nặng nghĩa ân tình trên những con thuyền căng buồm no gió xuôi ngược. Rồi lúc đó, tôi được áp đầu vào ngực Cha, được ôm thân hình gầy guộc và được hít hà mùi mồ hôi mặn mòi quen thuộc của người sau khi cất lên tiếng nói: “Cha ơi, con đã trở về”. Nghĩ đến đây, tôi cảm thấy cay cay sống mũi. Tôi sẽ kể cho các chị, em của mình nghe những trận đánh ác liệt mà tôi đã trải qua, nhắc tên những đồng đội đã ngã xuống. Tôi sẽ thắp cho Mẹ nén hương và báo với Mẹ con đã trưởng thành. Và Thoa, tôi sẽ đến thăm em ngay, mặc cho quần áo lính đang khét lẹt mùi thuốc súng và gương mặt sạm đen, hốc hác. Tôi tưởng tượng rằng em sẽ gục đầu vào vai tôi mà quệt nước mắt, nước mắt của niềm vui, của sự chờ đợi sau bao


năm xa cách, của tình yêu em dành cho tôi. Hai đứa lặng im, trái tim tràn ngập yêu thương. Sau đó, tôi và em sẽ cùng thưa chuyện với gia đình hai bên về tình yêu của hai đứa.

Thú thực, có lúc tôi đã dao động, ân hận về sự chọn lựa của mình. Và trong tôi đã có những mảng tối trùm lên. “Tìm cách trở về ư?” Trở về? Quê hương, người thân và Thoa sẽ coi mình là kẻ như thế nào khi mình đào ngũ? Tên mình gắn liền với sự hèn nhát, kẻ nói thì hay nhưng cày thì dở. Chẳng có xấu hổ nào sánh bằng. Lúc đó chắc chỉ còn nước chui xuống đất. Không! Thà chết chứ không thể đánh mất danh dự như thế. Tôi cân bằng lại trạng thái tinh thần và chấp nhận cuộc sống chiến đấu ở chiến trường. Với người lính, thử thách lớn nhất là chiến đấu. Vượt qua trận đấu là vượt qua được ý nghĩ thấp hèn của bản thân mình. Đó mới là thử thách lớn nhất của một con người.

Có hôm, cả khẩu đội đang chốt giữ trên đồi Cháy, cạnh sông Bến Hải, thì nhận được lệnh hành quân. Tôi nghĩ chắc là hành quân đến địa điểm khác để đánh địch. Đêm nay lại tha hồ đào công sự. Khi vượt sông Bến Hải một quãng, đơn vị nghỉ giải lao. Tôi không hiểu đi đâu mà lại vượt sông Bến Hải. Hay đi chiến trường Lào… Tôi và Loan chung nhau rít điếu thuốc lá, đoạn hỏi anh Vương Tử Hoàng:

Hôm nay ta hành quân đi đâu vậy Thủ trưởng? Anh Hoàng rít hơi thuốc lá, nhìn tôi và anh em nhoẻn miệng cười rất tươi:

Ta đang trong đội hình của tiểu đoàn hành quân ra huyện Lệ Thủy, Quảng Bình để củng cố, rồi còn đi xa hơn. Nghe anh Hoàng nói vậy, Loan thầm thì bên tai tôi:

Kiểu này, ít hôm nữa đi B dài là cái chắc. Tôi còn nhớ, hôm đó là ngày 15 tháng 11 năm 1968.


Đang quần nhau chí tử với giặc, bỗng được trở ra Bắc. Có ai vui hơn như lính chiến chúng tôi. Tôi như mở cờ trong bụng, muốn nhảy lên mà hô thật to cho sướng đời. Đã lâu rồi, cánh lính chiến quen với những cánh rừng già âm u, ẩm ướt của miền tây Quảng Trị nên ai cũng thèm được ngắm nhìn bầu trời thoáng đãng của đồng bằng. Bởi thế, ra khỏi rừng, ai cũng ngửa mặt lên trời, ngắm nhìn cái khoảng không gian bao la muôn thuở như ùa vào lòng mọi người. May sao, ngày hành quân hôm nay thời tiết thật đẹp, đợt mưa dầm dề vừa chấm dứt hôm qua, bầu trời trong xanh vời vợi. Khuôn mặt ai cũng bừng sáng, phơi phới, lâng lâng.

Chúng tôi đi qua những quả đồi lúp xúp, cây sim, cây mua xung quanh đường phất phơ trước gió như vẫy chào đoàn quân chiến thắng trở về. Xa xa là cánh đồng lỗ chỗ hố bom lở loét, thưa vắng bóng người. Vết thương chiến tranh do giặc Mỹ để lại in đậm trên từng thửa ruộng, từng con đường, lối xóm. Bộ đội hành quân rung lá nguy trang. Khi đi qua đoạn đường, cánh lính gặp đơn vị thanh niên xung phong đang san lấp hố bom. Mấy tay lính thấy cô nào cũng xinh đẹp nên nhanh miệng chào hỏi, cười nói vui vẻ. Có cô gái xung phong ném cả nắm đất lên áo anh bộ đội, thế là nhiều anh nhặt sỏi ném lại, tiếng cười như lại giòn hơn. Có mấy anh lính vẻ táo tợn định xông vào nắm tay chị em. May có anh Hoàng đứng đó canh chừng, nếu không đã xảy ra cảnh lính tráng sẽ chọc ghẹo các cô thanh niên xung phong.

Đoàn quân càng đi xuống đồng bằng càng thấy dấu vết sự ác liệt của chiến tranh phá hoại bằng máy bay của giặc Mỹ. Cây cối, đường sá và nhà cửa hai bên đường bị cháy nham nhở, nhiều nhà bị đốt cháy trụi chỉ còn mấy cái cột đen thui xiêu vẹo, không một bóng người. Người lính chúng tôi nhìn cảnh tượng tiêu điều, xơ xác vậy nên ai cũng xót xa, thương cảm với nỗi khổ của người dân


Quảng Bình trong chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Đến chiều tối thì chúng tôi tới nơi tập kết. Đó là xóm Tân Đa, xã Thái Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Ít ngày sau, chúng tôi được bổ sung thêm quần, áo, tăng, võng, chăn, màn, lương khô và đường sữa. Quân trang cũ cùng với giấy tờ, sổ sách, thư từ, tiền đồng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa… được cấp trên cho gửi về nhà. Tôi gửi về tất cả những thứ tổ chức quy định, chỉ giữ lại một thứ duy nhất, đó là những bức thư của Thoa gửi cho tôi. Tôi xem đó là kỉ vật bất ly thân của cuộc đời mình. Thấy tôi đang sắp xếp ba lô, anh chàng Nam, nói nhỏ:

Kiểu này chúng ta sắp đi B dài rồi cậu à. Tôi và Nam cùng quê, cùng học và cùng đi bộ đội với nhau. Gặp nhau lúc nào Nam hay thở dài và kêu nhớ nhà. Tôi gật đầu:

Chắc chắn lần này chúng mình sẽ hành quân đi xa, thật xa chứ không còn thuộc lính “Ăn cơm Bắc, đánh giặc Nam” nữa. Nam nhìn tôi hỏi:

Lâu nay cậu có nhận được thư Thoa không? Nghe Nam hỏi câu này, lòng tôi thấy quặn buồn:

Có tin tức gì đâu. Còn cậu? Nam xoa đầu:

Nghe tin Hồng của mình sẽ thi vào sư phạm. Không hiểu đến khi xuất ngũ về có gặp được cô giáo không? Nghe vậy, tôi mở to mắt:

Sao cậu lại nghĩ vậy? Hai thằng đang tếu táo thì anh Hoàng đi họp giao ban về, tập hợp khẩu đội phổ biến:

Trong thời gian ở đây, cấp trên sẽ thành lập Trung đoàn 28. Đây là đơn vị chủ lực, cơ động của Bộ. Chúng ta vừa học tập chính trị vừa huấn luyện quân sự chuẩn bị sẵn sàng hành quân cơ động.


Thời gian đóng quân tại đây, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải làm tốt công tác dân vận, tuyệt đối không được để xảy ra điều gì ảnh hưởng đến tình quân dân như cá với nước…

Nghe Tiểu đội trưởng Hoàng phổ biến, mấy thằng lính chúng tôi biết chắc chắn sắp phải hành quân đi B dài rồi. Tối đến, lính chúng tôi lại tranh thủ viết thư cho gia đình. Dạo này tạm ngừng bắn phá nên đèn đóm cũng thoải mái hơn. Kèm theo những hiện vật gửi về gia đình là những bức thư mới viết của người lính chúng tôi. Ai cũng tranh thủ ghi vài dòng thư cho gia đình. Có cậu vừa viết thư cho gia đình, cho người yêu mà nước mắt ướt nhòe.

Tôi ngồi viết thư gửi gia đình vì biết mọi người cũng rất mong ngóng và chờ đợi thư tôi. Một mình tôi đi lính nhưng ở nhà có biết bao nhiêu người chờ đợi và nhắc đến tôi, mọi người chắc cũng mong thư tôi nhiều lắm.

Thư tôi viết cho Thoa:

Em yêu quí. Lâu lắm rồi anh chẳng nhận được tin em. Hành quân vào đến Quảng Trị là choảng nhau với lính Mỹ ngay em à. Cũng thật may, lúc này anh vẫn bình an. Em biết không, lúc nào đứng gác, anh vẫn nhìn về quê để nhớ em. Ôi. Sao lại nhớ em đến thế. Hiện nay đơn vị anh đang củng cố ở Quảng Bình để chuẩn bị đi xa, đi xa hơn nữa em yêu à. Đến bây giờ anh mới biết các chiến sĩ ở ngoài mặt trận phải chịu đựng gian khổ và ác liệt biết nhường nào và sức chịu đựng của các anh không gì sánh nổi. Mọi cái đều không đơn giản như trước đây anh em mình thường nghĩ mỗi khi tranh luận về cuộc chiến đấu này. Thực tế đều nằm ngoài sức tưởng tượng của anh và em. Nói thật với em yêu, trong bom đạn các liệt, có lúc anh tỏ ra mềm yếu. Em ơi, sắp tới anh càng xa em hơn và thời gian chúng mình được gặp nhau chắc phải chờ đợi lâu lắm đấy. Anh biết em rất buồn và nhớ anh lắm, đúng không? Anh cũng vậy, anh rất nhớ em, chỉ mong cho cuộc chiến kết thúc càng sớm càng tốt để anh trở về bên em, để được em chạy ào ra đón


 

anh trong nụ cười vui ấm áp, với đôi mắt đẹp nhìn anh rưng rưng. Anh chỉ biết cầu nguyện những điều tốt lành nhất cho em và cho cả hai chúng ta. Ao ước lớn nhất anh hằng ấp ủ là đất nước sớm chấm dứt chiến tranh, hai miền thống nhất để anh được trở về với em. Hãy đợi anh về em nhé…”!

Thực lòng, tôi muốn tâm sự với Thoa nhiều điều thầm kín, kể cả nói cho em biết sự hy sinh của người lính ở mặt trận có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nhưng tôi không muốn nỗi buồn ấy cứ dày vò trái tim em, tôi không muốn em ở nhà phải lo lắng phiền muộn vì tôi.

Những ngày ở Thái Thủy là thời gian bận rộn của lính chúng tôi. Ngoài việc chuẩn bị quân trang, quân dụng, học tập chính trị, chúng tôi khẩn trương huấn luyện thêm kĩ thuật bắn máy bay, bắn bộ binh và các chiến thuật đánh vận động, đánh vây lấn. Để chuẩn bị cho cuộc hành quân đi B dài sắp tới, tôi được phân công vác càng súng đại liên Côlinốp. Cộng với ba lô, ruột tượng gạo và các thứ lặt vặt khác nặng chừng từ 45 đến 50 kg. Lúc này tôi cũng chỉ cân nặng khoảng 45 kg. Tuổi trẻ, sức dài vai rộng nhưng gùi được từng ấy cân để trèo đèo, lội suối vượt qua trăm đỉnh Trường Sơn không phải là chuyện dễ dàng. Nhiều anh lính cựu binh nói với chúng tôi rằng, có lúc leo núi mệt quá, những thứ gì chưa thực sự cần thiết đều muốn quẳng đi cho nhẹ. Có lúc tôi cũng nghĩ vậy.

Mấy hôm sau, tôi nhận được thư Thoa. Cầm lá thư của em trên tay, ngỡ như mình đang mơ. Tôi hồi hộp trong lòng và nhanh chóng bóc thư đọc. Những dòng chữ quen thuộc của em hiện ra trước mắt tôi:

Anh thương yêu của em! Em đang học bài thì nhận được thư anh. Em vội vàng chạy ra nhận thư, em biết chỉ có thư của anh gửi cho em mà thôi. Ôi chẳng có gì vui hơn đối với em lúc này là được đọc thư anh. Anh có biết trái tim em đập rộn ràng khi tay em cầm bức thư của anh? Anh ơi, em đã viết cho anh rất nhiều thư, tuần nào em cũng viết và đều gửi cùng địa


 

chỉ cũ của anh, nhưng sao anh không nhận được? Những lúc không nhận được thư anh, em cứ lo lắng nghĩ về điều gì đó đã xảy ra với anh. Hôm nay, em vui lắm”.

Đọc đến đây tôi thấy hối hận với em. Thôi chết rồi. Địa chỉ cũ vẫn là nơi huấn luyện ở Nghĩa Đàn. Mình thật có lỗi với em. Tôi tiếp tục đọc thư em:

Anh yêu ơi. Nam Đàn mình dạo này máy bay bắn phá ác liệt lắm. Trường cấp 3 của chúng mình đã phải sơ tán lên Nghĩa Đàn học. Em phải đi học xa và vất vả hơn nhiều. Nhưng em sẽ cố gắng học để nay mai trở thành cô giáo nữa anh nhỉ? Anh vào chiến trường chắc vất vả nhiều hơn thế, đúng không? Càng xa anh, em càng phải phấn đấu hơn nhiều. Anh là tấm gương để em học tập noi theo.

Bây giờ có ai hỏi em, điều ước gì lớn nhất? Chắc chắn em sẽ trả lời không chút ngần ngại là anh sớm được về bên em. Anh biết không, trong lớp ta, có người cùng đi bộ đội với anh, vừa rồi đã có giấy báo tử của Anh Việt và anh Sơn rồi. Anh phải hết sức cẩn thận đấy nhé. Mỗi một lần nghe tin báo tử, em lại lạnh người, con tim nhói đau. Bà con làng xóm quê mình ai cũng buồn thương cho những người con trai, vừa mới ra chiến trường chưa được bao lâu đã hi sinh khi tuổi đời còn quá trẻ. Trong những lúc đó, em càng lo nghĩ. Có lúc nghĩ về anh mà không sao chợp mắt nổi, rồi có lúc em khóc vì chợt nghĩ một ngày nào đó, anh phải hy sinh, cuộc sống của em không có anh thì em sống bằng cách nào. Anh ơi, em định không báo tin buồn cho anh nhưng…

Trời ơi. Sao lại thế này, tôi như không tin vào mắt mình nữa. Mắt tôi bổng nhạt nhòa. Tôi cố đọc nhanh:... nhưng nếu không báo thì không được, mà khi nghe em báo tin thì anh nên giữ bình tĩnh nhé. Em biết anh là con người có nghị lực mà. Cha anh bị bom mất lúc 1 giờ chiều ngày 9 tháng 9 năm 1968. Em viết thư báo tin cho anh mấy lá rồi mà không thấy anh trả lời… Đây là nỗi đau, buồn vô cùng lớn với anh. Em mong anh cố gắng vượt qua anh nhé!”.


 

Đọc đến đây tôi nghe như có tiếng sét đánh ngang tai, cơ thể mất hết cảm giác. Con tim nhói đau, khó thở. Một tiếng kêu “Cha ơi” bật lên ai oán, nước mắt tôi giàn giụa. Tôi nằm vật xuống phản, khóc nức nở không cần giữ ý giữ tứ gì nữa cả. “Cha ơi, sao Cha lại bỏ con ra đi, con vẫn chưa về thăm Cha được mà, Cha có tội tình gì mà máy bay Mỹ giết chết? Bây giờ còn có ai bên con, Mẹ đã mất rồi, Cha lại ra đi… chị em chúng con yêu quý Cha nhiều thì lại càng đau xót bấy nhiêu khi Cha không ở lại với chúng con. Chúng con biết trông cậy vào ai?...

Thấy tôi khóc, tất cả anh em trong tiểu đội chạy ùa đến, có người cầm thư của Thoa đọc. Anh em ôm lấy tôi, gục đầu thương xót. Tất cả mọi người đều buồn và không cầm được được nước mắt. Anh Hoàng ngồi cạnh làm chỗ cho tôi ngồi dựa. Anh cũng khóc nức nở. Tôi chẳng còn biết trời đất xung quanh ra sao nữa, nước mắt dàn dụa chảy. Nghe tiếng Trữ, Ngọ, Xuân, Loan và Dung bên cạnh mà cứ nhắm tịt mắt để khóc. Có ai đó sụt sùi và lau nước mặt cho tôi. Tôi mở mắt ra mới biết là Dung. Còn Trữ đang dùng chiếc quạt mo cau để quạt mát cho tôi. Ai cũng xót xa và tìm lời an ủi, chia sẻ động viên tôi. Có người đọc thư xong, cứ sụt sùi. Cả người tôi tê dại, cảm giác cô đơn hơn bao giờ hết. Tôi như đứa trẻ bơ vơ, không còn ai để nương tựa trước dòng đời. Kể từ nay mình phải mồ côi Cha, Mẹ. Sao cuộc đời con lại éo le vậy hả Cha. Cách đây mấy hôm, con nằm ngủ mơ thấy Cha về. Linh hồn Cha hiện về báo điềm chẳng lành cho con. Cha nhìn con âu yếm rồi lặng lẽ ra đi. Lúc con đi chiến trường Cha luôn luôn lo lắng cho con, thế mà con ở chiến trường không sao, Cha ở hậu phương lại bị chúng giết chết. Con mong chiến tranh nhanh chóng kết thúc, được trở về bên Cha và gia đình yêu dấu của mình, điều ấy vẫn chưa thành thì Cha đã bỏ con mà đi.

Tôi muốn gào lên thật to cho trời đất thấu tỏ nỗi đau thương mất mát này, nhưng cổ cứ nghẹn lại. Trong cuộc đời mình, tôi chưa bao giờ khóc với nỗi đau như thế. Tôi đã mồ côi Mẹ khi còn nhỏ,


nay lại mất Cha. Thằng Mỹ thật độc ác. Cha tôi có làm nên tội tình chi mà lại bị chúng giết chết thế này?

Những ngày đầu nhận được tin dữ về Cha, hầu như tôi không làm gì được cả, mọi việc đều do Dung, Loan, Trữ, Ngọ, mấy thằng bạn nối khố cùng học cấp ba, cùng nhập ngũ lo liệu. Mấy ngày nay, với hoàn cảnh éo le nên mọi người đã động viên tôi. Tuy vậy, tôi thực sự bị suy sụp về tinh thần, hình ảnh người Cha hiền lành bị bom giặc giết chết, luôn ám ảnh tâm trí tôi. Nhiều lần tôi thầm nghĩ: Không biết mình có chịu đựng nổi những đau khổ này và đủ sức hành quân vượt Trường Sơn cùng đơn vị vào chiến trường xa hay không? Nỗi đau đó cả đời tôi cũng không vơi hết. Tôi muốn trở về gia đình để thắp cho Cha nén hương, để san sẻ, giúp gia đình gánh vác công việc.

Nhìn chiếc ba lô con cóc căng phồng, chiếc càng đại liên Cô- li-nốp nặng trịch, tôi càng cảm thấy mệt mỏi vô cùng. Kiểu này thì không thể theo kịp chúng bạn hành quân vượt núi cao, vực sâu được. Làm gì cũng thấy buồn chán khi nghĩ rằng mình trở về nhà không còn Cha. Bao nhiêu hy vọng, bao nhiêu ước ao về với Cha sau chiến tranh thế là tan theo mây khói. Với tâm trạng buồn đau nặng nề, u uất, tôi quyết tâm về thăm gia đình chịu tang Cha cho trọn hiếu làm con. Đã mấy lần tôi lên xin phép chỉ huy về quê thắp hương cho Cha nhưng đều bị từ chối. Lý do thật đơn giản là ngày hành quân vào chiến trường đã quá gần nên đơn vị không thể giải quyết được. Tôi càng buồn hơn. Một bên là sự báo hiếu với Cha, một bên là nhiệm vụ cần kíp của người lính. Tôi tính, nếu đơn vị không cho về thì mình liều về vài ngày vậy. Tôi hỏi thăm đường đi thì được biết, từ khi ngừng bắn đến nay, đường về quê tôi cũng không khó khăn lắm. Đi ô tô một ngày là về đến Vinh. Tôi cũng chỉ cần về thắp cho Cha một nén hương là quay lại đơn vị ngay mà. Vị


chi cũng chỉ mất 2 đến 3 ngày là cùng. Tiểu đội trưởng Vương Tử Hoàng thì đồng ý cho tôi về nhưng Ban chỉ huy Trung đội và Đại đội không cho. Tôi định đánh liều, dẫu có bị kỷ luật cũng mặc. Như đoán được suy nghĩ của tôi, một buổi tối, tôi được đồng chí Chính trị viên Đại đội Nguyễn Hữu Thu gọi lên. Khi tôi có mặt và chào các Thủ trưởng, đồng chí Chính trị viên kéo ghế mời tôi ngồi. Đồng chí Chính trị viên nhìn tôi nói:

Ban chỉ huy Đại đội biết đồng chí có tin rất buồn. Đó là người Cha của mình đã mất do bom đạn Mỹ. Bố mất ai mà chẳng buồn. Chi ủy và Ban chỉ huy Đại đội xin chia sẻ đau thương và mong đồng chí cố gắng vượt qua thử thách này để hoàn thành nhiệm vụ ngày càng nặng nề hơn. Chúng ta cũng không vì mất mát mà sinh tiêu cực, bi quan, chán nản, vi phạm kỷ luật người quân nhân cách mạng, ảnh hưởng đến công tác học tập và chiến đấu…

Nghe đến đây tôi thấy như mình bị xúc phạm nên lơ đễnh, câu được, câu chăng. Các vị biết mình có cha bị bom giặc giết chết mà cứ lên giọng lý luận… Có lẽ các vị Chỉ huy đã biết ý định của tôi sẽ liều mình về quê vài ngày. Không hiểu ai lại thối mồm, lấy chuyện làm quà và đã vội đưa tin. Chết rồi. Bây giờ tôi mới sực nhớ. Thảo nào, mấy hôm nay tôi được ở nhà mà tiểu đội cũng cử người ở nhà canh chừng mình. Chắc họ lại sợ mình chuồn rồi. Thế là mình đã bị theo dõi. Kiểu này có mà trốn đằng giời. Khi Chính trị viên Thu ngừng lời, tôi thỏ thẻ:

Báo cáo Thủ trưởng. Tôi tự xác định được ạ. Ngày mai tôi ra thao trường tập. Tôi quyết tâm biến đau thương thành hành động, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ ạ!

Tốt. Đồng chí rất tốt. Quân nhân cách mạng phải như thế chứ. Chúc đồng chí huấn luyện tốt nhé! Tôi chưa kịp uống nước thì Thủ trưởng đứng dậy bắt tay nên tôi xin phép ra về.


Vậy là chẳng còn cách nào khác, tôi phải ở lại đơn vị, ngậm nỗi buồn đau đớn khôn nguôi. Tôi biết rằng ở nhà, mọi người sợ tôi buồn nên đã không cho tôi biết, hoặc có thể các chị, em đã gửi thư nhưng tôi không nhận được.

Năm tháng cứ lặng lẽ trôi qua. Nỗi buồn cứ lắng sâu vào trong tâm khảm. Đau thương này đành để nước mắt chảy vào trong, không dám khóc trước mặt mọi người. Có như vậy vào chiến trường mới dám làm tất cả. Giờ nghĩ lại, tôi vô cùng biết ơn tấm lòng đồng đội, bạn bè. Nếu như không có những lời động viên an ủi chí tình và sự chăm sóc giúp đỡ của đồng đội, bạn bè thì chắc tôi đã “B quay” rồi.

Mấy hôm nay đơn vị báo động, tập mang vác nặng, leo lên mấy ngọn núi, đưa ra các tình hưống có máy bay đánh phá đội hình lúc hành quân, hoặc đang hành quân thì gặp thám báo mai phục, đang hành quân thì có đồng đội bị sốt rét không đi được… Nghĩa là tập dượt các tình huống khi hành quân đường dài.

Tôi còn nhớ sau gần một tuần, kể từ khi nhận được thư Thoa báo tin Cha tôi mất, đơn vị báo động hành quân. Tôi tranh thủ viết thư gửi gia đình và Thoa. Trong thư tôi không giấu giếm tâm trạng của mình về nỗi đau buồn mất Cha nhưng được đồng đội động viên nên dần dần vực dậy với hy vọng sẽ góp phần nhỏ bé của mình trong cuộc chiến trường chinh này.

Chia sẻ cảm nhận của bạn

Tin liên quan

TÌNH YÊU KHÔNG CHIẾN TUYẾN

TÌNH YÊU KHÔNG CHIẾN TUYẾN

Bình luậnNgười đăng: Admin

TÌNH YÊU KHÔNG CHIẾN TUYẾNTrái tim yêu thương sẽ chiến thắng sự hận thù, dù ở bên kia chiến tuyến!Trần Hoài Lam - Tác giả của bài viết này từng là một sĩ quan Quân lực... Xem thêm

Người đi Tây Tiến mùa xuân ấy: Tạ Đình Đề tên tuổi trùm thiên hạ

Người đi Tây Tiến mùa xuân ấy: Tạ Đình Đề tên tuổi trùm thiên hạ

Bình luậnNgười đăng: Admin

Người đi Tây Tiến mùa xuân ấy: Tạ Đình Đề tên tuổi trùm thiên hạTạ Đình Đề theo nhận định của các cựu chiến binh Tây Tiến là một người không cấp bậc, chức vụ, không hề... Xem thêm

VỊ TƯỚNG LỪNG DANH NƠI TRẬN MẠC   VÀ GIÀU LÒNG THƯƠNG, NHÂN HẬU

VỊ TƯỚNG LỪNG DANH NƠI TRẬN MẠC VÀ GIÀU LÒNG THƯƠNG, NHÂN HẬU

Bình luậnNgười đăng: Admin

                                 VỊ TƯỚNG LỪNG DANH NƠI TRẬN MẠC         NHƯNG CŨNG GIÀU LÒNG THƯƠNG, NHÂN HẬUTôi may mắn được làm... Xem thêm

6 ɫác dụпg ɫᴜƴệɫ vời пếᴜ ᵭặɫ qᴜả chaпh cạпh giườпg khi пgủ: Ai cũпg пêп ɫhử áp dụпg

6 ɫác dụпg ɫᴜƴệɫ vời пếᴜ ᵭặɫ qᴜả chaпh cạпh giườпg khi пgủ: Ai cũпg пêп ɫhử áp dụпg

Bình luậnNgười đăng: Admin

Chanh là loại quả được chúng ta vô cùng ưu ái vì những tác dụng tuyệt vời cho sức khỏe. Nếu đặt một quả chanh ở đầu giường còn mang lại 6 tác dụng tuyệt vời... Xem thêm

Trời rét đậm, cẩn thận nguy cơ đột quỵ và đột tử: Bác sĩ mách 9 cách phòng ngừa

Trời rét đậm, cẩn thận nguy cơ đột quỵ và đột tử: Bác sĩ mách 9 cách phòng ngừa

Bình luậnNgười đăng: Admin

Trời rét đậm, cẩn thận nguy cơ đột quỵ và đột tử: Bác sĩ mách 9 cách phòng ngừa74Nhiệt độ xuống thấp, nguy cơ đột quỵ não, nhồi máu cơ tim có thể xảy ra bất... Xem thêm