Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm

24 ngày trước - Bởi Admin
Bình luận - 3.552 lượt xem

Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm

                                TS. DƯƠNG THANH BIỂU.

                   

                        TRANH LUẬ N TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM

 

 

                                  NHÀ XUẤT BẢN TƯ PHÁP.

                                                HÀ NỘI - 2007

 

                                     

                                   LỜI GIỚI THIỆU

 "Tranh luận tại phiên toà sơ thẩm" do TS. Dương Thanh

Biểu hiện đang công tác tại Viện Kiểm sát nhân dân tối cao biên

soạn là một cuốn sách có nội dung phong phú và đa dạng, tìm hiểu,

phân tích và làm rõ quy trình tranh luận tại phiên toà sơ thẩm.

Bằng lập luận chặt chẽ, kết hợp và vận dụng nhuần nhuyễn kiến

thức pháp luật, quy định pháp luật và các ví dụ minh hoạ sinh

động, nội dung cuốn sách được thể hiện sống động với thực tại,

đồng thời qua đó cũng chuyển tải những kinh nghiệm, kiến thức

nghiệp vụ tích luỹ lâu năm đến những người đang làm công tác

thực tiễn pháp luật, chia sẻ và thấu hiểu tâm trạng của những cán

bộ làm công tác pháp luật trong quá trình phát huy vai trò đấu

tranh chống tội phạm bằng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ và áp

dụng các quy định pháp luật vào giải quyết vụ án.

Cuốn sách được bô' cục thành 4 Chương. Chương I, tập trung

làm rõ khái niệm, bản chất của tranh luận tại phiên toà trên cơ sở

quan điểm của Đảng và Nhà nước, các quy định pháp luật về tranh

luận, mà nổi bật lên là vai trò của Kiểm sát viên - với trách nhiệm

là người thực hành quyền công tố tại phiên toà sơ thẩm. Chương

II, tập trung làm rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của kỹ năng chuẩn bị

thực hành quyển công tố như: kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án; kỹ

năng xây dựng bản cáo trạng, bản luận tội, xây dựng đề cương xét

hỏi, kế hoạch xét hỏi v.v, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm

quý báu cho cán bộ làm công tác tư pháp nói chung và Kiểm sát

viên, cán bộ trong ngành Kiểm sát nói riêng trong quá trình tác

nghiệp. Chương III, tập trung phân tích, chứng minh bằng những

vụ án đã từng xảy ra đê làm nổi bật tầm quan trọng của kỹ năng

thực hành quyền công tố tại phiên toà hình sự sơ thẩm như: Kỹ

 

năng đọc cáo trạng; kỹ năng xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên

toà; kỹ năng tranh luận tại phiên toà của Kiểm sát viên và kỹ năng

đối đáp của Kiểm sát viên.Chương IV, tập trung phân tích làm rõ

ý nghĩa quan trọng của kỹ năng thực hành quyền công tố tại phiên

 

toà hình sự sơ thẩm như: Kỹ năng đọc cáo trạng; kỹ năng xét hỏi

của Kiểm sát viên tại phiên toà; kỹ năng tranh luận tại phiên toà

của Kiểm sát viên.

Nhà xuất bản Tư pháp trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng

bạn đọc và mong nhận được những ý kiến đóng góp để cuốn sách

được hoàn thiện trong lần tái bản.

 

                                                 Hà Nội, tháng 8/2007 

                                              NHÀ XUẤT BẢN Tư PHÁP

                          Chú thích từ viết tắt

1 . Bộ luật Dân sự - BLDS

2. Bộ luật Tố tụng dân sự - Bộ luật TTDS

3.' Bộ luật Tố tụng Hình sự - Bộ luật TTHS;

4. Bộ luật Hình sự - BLHS;

5. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngàỳ 02.6.2005 của Bộ Chính trị về

chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 - Nghị quyết số 49-NQ[TW;

6. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02.01 .2002 của Bộ Chính trị về

một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp - Nghị quyết số 08-

NQ/TW;

7. Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 của

Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hường dẫn một số quy

định của Bộ luật Dân sự năm 2005 - Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP;

8. Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT - VKSTC - BCA - BQP - BTP

ngày 10 tháng 8 năm 2005 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công

an, Bộ Quốc phòng hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố

tụng Hình sự năm 2003 về khiếu nại, tố cáo - Thông tư liên tịch số

02/2005/TTLT - VKSTC - BCA - BQP - BTP

9. Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT - VKSTC - BCA - BQP ngày

07 tháng 9 năm 2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bô Công an,

Bộ Quốc phòng hường dẫn về quan hệ hợp tác giữa cơ quan điều tra và

Viện Kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng

Hình sự năm 2003 - Thông tư liên tịch số 05/2005/TTư - VKSTC -

BCA - BQP;

10. Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT - TATC - VKSTC - BCA - BTP

ngày 25.12.2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân

tối cao, BỘ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại

Chương XIIV "Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật Hình sự năm 1999"

- Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT - TATC ' VKSTC - BCA - BTP;

1 1 . Quyết định số 1 21 /2004/QĐ-VKSTC ngày 16  tháng 9 năm 2004

của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành kèm theo Quy chế tạm thời

về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình

sự - Quy chế số 121/2004/QĐ~VKSTC;

1 2. Quyết định số 1 20/2004/QĐ-VKSTC ngày 14 tháng 9 năm 2004

của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành kèm theo Quy chế tạm thời

về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp

luật trong điều tra các vụ án hình sự - Quy chế số 121/2004/QĐ-VKSTC;

13. Nghị quyết số 509~2004/NQ-UBTVQHII ngày 29.4.2004 của

UBTVQHII hướng dẫn thi hành Bộ luật TTHS - Nghị quyết số

509/2004/NQ-UBTVQHII.

 

                                         Chương I

                               CƠ SỞ CỦA VẤN ĐỀ

I. TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TOÀ, KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT

Trên thế giới hiện nay có nhiều mô hình tố tụng khác nhau, mỗi

mô hình tố tụng phụ thuộc vào truyền thống pháp luật của mỗi quốc

gia. Một số học giả cho rằng cần phân chia mô hình tố tụng theo ba

truyền thống pháp luật: án lệ, châu âu lục địa và xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, sự phân chia trên đây chỉ mang tính tương đối, xét về

cách thức tiến hành tố tụng phổ biến trên thế giới hiện nay thì nhiều

người thường tiếp cận trong việc phân chia mô hình tố tụng theo các

kiểu tố tụng: kiểu tô ltụng tranh tụng, kiểu tô tụng thẩm vấn và kiểu

tô tụng thẩm vấn có đan xen một sô ýêú tô của tranh tụng.

Tố tụng tranh tụng là kiểu tố tụng có sự phân định rạch ròi

giữa ba chức năng: Chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và

chức năng xét xử. Kiểu tố tụng này được áp dụng tại các nước

như Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Australia...Quá trình tranh tụng

giữa các đại diện thực hiện ba chức năng này là điều kiện tiên

quyết bảo đảm sự bình đẳng giữa các bị can, bị cáo, người bào

chữa với Điều tra viên, Công tố viên với tính cách là những người

buộc tội thường đối lập với quyền bào chữa. Kiểu tố tụng tranh

tụng này có ưu điểm là quá trình tố tụng diễn ra dân chủ, các

quyền con người của cá nhân người phạm tội được bảo đảm; việc

buộc tội, gỡ tội rõ ràng, minh bạch. Luật sư có quyền thu thập

chứng cứ về vụ án để phục vụ cho việc bào chữa ngay từ đầu,

được có mặt từ khi người tình nghi bị bắt giữ; người bị bắt giữ có

quyền im lặng khi không có luật sư của họ. Tòa án không biết trước

về chứng cứ vụ án mà chỉ biết trước bản cáo trạng của cơ quan truy

tố và bản bào chữa của luật sư chuyển đến. Tại phiên tòa, Công tố viên

trình bày cáo trạng, đưa ra lời buộc tội đối với bị cáo; đối đáp, tranh luận

với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng về chứng cứ

buộc tội, gỡ tội cũng như việc áp dụng pháp luật. Tòa án không xét hỏi

mà chỉ nghe accs bên tranh tụng và đóng vai trò như trọng tài ra phán

quyết về bị cáo có tội hay vô tội, nếu có tội thì tội gì và áp dụng hình phạt

như thế nào. Quy trình buộc tội và gỡ tội đối kháng như vậy nên kiểu tranh

tụng này có tác dụng chống oan, sai có hiệu quả. Bởi vậy, không  ít người đã

phê phán đây là kiểu tố tụng vì lợi ích cá nhân người phạm tội hơn là lợi ích

xã hội. Những người ủng hộ kiểu tố tụng tranh tụng – Tòa án bồi thẩm – cho

rằng đây là thành quả lớn lao của dân chủ và văn minh bảo đảm quyền được

xét xử môt cách minh bạch và công bằng. Tòa án bồi thẩm thể hiện tính độc

lập của các đại diện nhân dân khi tham gia xét xử đậm nét hơn, tính tranh tụng

của phiên tòa cao hơn, các bên buộc tội và bào chữa hoạt động tích cực hơn.

Ở nhà nước Hy Lạp cổ đại, Tòa án nhân dân được hình thành từ

các Thẩm phán do nhân dân bầu ra. Theo sử liệu, vụ án xét xử Socrates

về tội bất kính với Chúa có sự tham gia của 501 Thẩm phán nhân dân và

60% trong số đó đã biểu quyết kết án ông.

Về sau đã xuất hiện Toàn án bồi thẩm. Đây là một hình thức tổ chức

 Toà án với hai thành phần tách biệt: Đoàn bồi thẩm bao gồm các bồi thẩm

là đại diện của nhân dân và Thẩm phán chuyên nghiệp, đại diện cho Nhà

nước. Đoàn bồi thẩm chỉ giải quyết những vấn đề về sự kiện vụ án, về

việc bị cáo có phạm tội hay không. Thẩm phán sẽ giải quyết những vấn đề

pháp lý của vụ án như quyết định về hình phạt, đình chỉ hay không đình chỉ

vụ án, chứng cứ có hợp pháp hay không …Tòa án bồi thẩm đã tồn tại

ở La Mã từ thế kỷ II đến thế kỷ I trước Công nguyên. Đến thời trung cổ,

 hình thức Tòa án bồi thẩm bị lãng quên và đến thế kỷ XIII nó được

khôi phục ở nước Anh. Đến thế kỷ XVIII - XIX, một số nước châu

Âu đã áp dụng hình thức tố tụng này.

Tuy nhiên, tiến trình thực hiện kiểu tố tụng tranh tụng đã bộc

lộ nhiều nhược điểm. Quá trình tố tụng tại phiên toà, nhất là đối

với những vụ án nghiêm trọng, phức tạp, thời gian tiến hành phiên

toà thường diễn ra rất dài, do việc tranh tụng về chứng cứ buộc tội,

gỡ tội và căn cứ áp dụng pháp luật giũa các bên buộc tội và bên bào

chữa. Có những phiên toà kéo dài vài ba năm chưa kết thúc, thậm

chí hàng chục năm, có người làm chứng, người bị hại, ngay cả bị

cáo cũng đã chết nhưng vụ án vẫn chưa kết thúc. Sau đây là một

số vụ án điển hình đề chúng ta nghiên cứu.

Ví dụ 1. Ngày 15. 9. 2006, Toà án tối cao Nhật Bản đã

bác bỏ đơn kháng cáo của các luật sư bảo vệ thân chủ

Axahara, thủ lĩnh giáo phái Aumsôcô có hành vi tấn công

bằng khí độc xain ở hệ thống tàu điện ngầm Tôkyô năm

1995, làm 12 người chết. Phán quyết này đã kết thúc

phiên toà kéo dài 1 1 năm (1)

Ví dụ 2, Vụ án buôn người ở Australia

Toà xử cho nạn nhân của bọn buôn người thắng kiện.

(1) Nguồn Báo tin tức ngày 16.9.2006

Cô Jetsadopphom Chaladone 13 tuổi người Thái Lan bị

đưa sang Australia từ năm 1995 để giúp việc trông trẻ.

Nhưng số phận của cô không may bị đưa vào phục vụ tại

một nhà chứa của bọn buôn người. Chúng đã tuyên bố với

cô là chúng đã mua cô giá 28.000 đôla. Và từ đó cô phải

đối mặt với những bức tường và những chiếc giường bẩn

thỉu của khu nhà chứa. Đặc biệt, trái tim non nớt của cô bé

1 3 tuổi bị tổn thương nặng nề khi bọn chủ chứa ép buộc cô

bán dâm. Sau một thời gian, nhờ có sự đấu tranh với bọn

buôn người của các cơ quan chức năng Australia mà cô gái

được cứu thoát và được đưa về Thái Lan. Sau khi nhận

được đơn kiện của nạn nhân Cha/adone, các cơ quan tư

pháp bang New South Wa/es tiến hành các thủ tục điều tra

và phải mất 10 năm mới có kết luận phán quyết cuối cùng

về việc cô Chaladone được bồi thường(1)

Ví dụ 3, Vụ án Ở nước Anh

Tháng 6 năm 1982, Roberto Calvi, được mệnh danh tà

"Chủ ngân hàng của Chúa" vì những mối liên hệ mật thiết

với Vatican - bị phát hiện treo cổ dưới cầu Blacifrias ở

London (Anh) với đá và tiền mặt trong túi áo. Vụ án này do

cảnh sát London diều tra. Ban đầu, cảnh sát London kết

luận đây tà một vụ tự tử, nhưng gia đình Calvi khiếu nại yêu

cầu tiến hành điều tra. Năm 2003, những nhân viên pháp

y đã kiểm tra giày và quần áo của Calvi nhưng không có

dấu hiệu cho thấy ông chủ ngân hàng này tự tử mà thực

ra bị giết ở đâu đó rồi mới mang đến treo ở cầu. Cuộc điều

tra được tiến hành theo nhận đinh này và sau một thời gian

khá dài cơ quan công tố đã kết luận: Calvi đã rửa tiền cho

Mafia và bị Giuseppe "Pippo" Calo (một thu ngân của

Mafia) ra lệnh giết do các ông trùm nghỉ ngờ ông chủ ngân

hàng này biển thủ một số tiền của chúng và vợ Calvi sẽ

công bố mọi chuyện khi ngân hàng của ông ta bị phá sản.

Tuy nhiên, sau 25 năm điều tra "cẩn thận, khách quan”, tại

phiên toà ngày 06. 6. 200 7, Toà án đã xét xử kỳ án này và

đã kết thúc với lời tuyên trắng án và tha bổng cho 5 bị cáo

do thiếu chứng cứ (2).

(1)Báo công lý ngày 07.6.2007.

(2) Báo pháp luật Việt Nam ngày 08.6.2007

 

Đặc biệt, kiểu tố tụng tranh tụng phụ thuộc rất lớn vào ý chí

của Bồi thầm đoàn. Ở một số nước châu Âu như: Pháp, Đức, sau

một thời gian áp dụng hình thức tố tụng tranh tụng thấy không

phù hợp nên đã chuyển sang hình thức thẩm vấn mà Hội đồng xét

xử gồm có các Hội thẩm nhân dân và Thẩm phán chuyên nghiệp.

Ở nước Nga, hình thức Toà án bồi thẩm đã được tồn tại trước

năm 1917. Sau Cách mạng tháng Mười thì hình thức này không

được chấp nhận. Vào những năm 90 của thế kỷ XX ở nước Nga có

xu hướng quay lại áp dụng hình thức Toà án bồi thẩm. Bộ luật

TTHS năm 2002 của nước Nga đã chính thức ghi nhận Toà án bồi

thẩm song song tồn tại bên cạnh Toà án chỉ gồm một Thẩm phán.

Như vậy, ở Nga không còn Toà án có sự tham gia của Hội thẩm

nhân dân nữa.

Ví dụ, Vụ án sát hại sinh viên Việt Nam Vũ Anh Tuấn

vào tháng 4.2004

Ngày 17 . 10. 2006, Hội đồng bồi thẩm Toà án St. Pêters-

beng, Nga kết luận 12 bị cáo không phạm tội giết hại Vũ

Anh Tuấn. Bà R. Vedenina đại diện Viện kiểm sát thành

phố St.Pêtersburg giữ quyền công tố nhà nước đã khẳng

đinh quá trình điều tra vụ án được thực hiện chặt chẽ,

khách quan, đúng luật. Tuy nhiên, sau khi kết thúc tranh

luận, Hội đồng bồi thẩm kết luận Viện kiểm sát không

chứng minh được tội trạng của các bị cáo. Theo Thông

tân xã Nga Ria-novôti ngày 18 . 1 0. 2006, đây không

phải lần đầu tiên Hội đồng bồi thẩm xoá án cho những bị

cáo trong các vụ án giết người nước ngoài. Chỉ riêng tại

St Petersburg, họ đã xoá án cho các bị cáo trong hai vụ

án giết hại sinh viên Congô và Tatgikixtan. Có lẽ không

đáng ngạc nhiên khi Hội đồng bồi thẩm, hoặc gọi là "Toà

án đường phố- theo định nghĩa của Luật gia Nga Anatôli

Côia - thường thể hiện lập trường của "đa số đường

phố”. Hội đồng bồi thẩm trong vụ án này gồm 12 thành

viên là người dân bình thường, miễn là không có tiền án,

tiền sự, có thể là thợ  uốn tóc, công nhân, thầy giáo . . . do

một người làm nghề lái xe điện đứng đầu. Theo nhà báo

Nga Anđrây Côlênicốp thì vấn đề đặt ra là liệu thiết chế

Bồi thẩm đoàn ra đời vào thời kỳ cải cách tự do có thích

hợp với xã hội Nga lúc này không. Tác giả viết: những

đánh giá không có chuyên môn của "Toà án đường phố"

đã cản trở Toà án đưa ra được phán quyết xác đáng về

pháp lý. Về vụ án này, các cơ quan chức năng Việt Nam

và đại diện Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga đã

tiến hành nhiều biện pháp tích cực giúp đỡ gia đình sinh

viên Vũ Anh Tuấn thực hiện các thủ tục kháng cáo phù

hợp với Luật Tố tụng Hình sự của Liên bang Nga và yêu

cầu phía Liên bang Nga quan tâm thoả đáng vụ việc

này Tuy nhiên, ngày 01.3.2007 Toà án Tối cáo Liên

bang Nga đã quyết định giữ nguyên phán quyết của Toà

án thành phố Sang Petersburg xử trắng án cho toàn bộ

12 bị cáo. Từ vụ án cụ thể này cho chúng ta thấy kiểu tố

tụng tranh tụng không phúc đáp được yêu cầu đấu tranh

đối với tội phạm có tổ chức, tội phạm xã hội đen (1).

 

Ngày 23.7.2006, nhân vụ án này, tạp chí Tin tức Quốc tế cho

rằng nếu như các vụ sát hại nhà báo, doanh nhân, chủ ngân hàng

hay người nước ngoài chỉ là một phần nhỏ của tình hình tội phạm ở

Nga thì sự bất lực của pháp luật trong các vụ việc này là rất rõ ràng.

Dư luận báo chí Nga cho rằng việc tuyên bố trắng án những kẻ đã

giết hại Vũ Anh Tuấn cho thấy mức độ tội phạm ngày càng tăng và

số vụ phán quyết và khoan hồng đến kỳ lạ chỉ làm tăng thêm tình

cảnh bất công trong lòng xã hội Nga. Cũng theo bài báo này,

tình hình tội phạm ở Nga hiện nay còn tồi tệ hơn những năm 90 của

thế kỷ XX. Trong giai đoạn 2000 - 2005, số vụ tội phạm tăng hơn

10% so với thời kỳ 1992 - 1999. Nếu như dưới thời Boris Eltsin, cứ

100 000 người thì có 19 người bị giết hại vì bạo lực thì nay con số đó

tăng lên 22 người. Ngoài ra, kiểu tranh tụng này còn gây bất lợi cho

bị can, bị cáo vì họ phải trả tiền để thuê luật sư, còn người nghèo thì

không có điều kiện. Tuy nhiên, hiện nay có một số học giả phương

Tây thường ca tụng kiểu tố tụng này, trong đó có ý kiến cho rằng

kiểu tranh tụng này là mẫu mực và không xảy ra oan sai. Thực ra,

kiểu tranh tụng không những kéo dài thời gian giải quyết vụ án

mà còn đang gây nhiều bất công, trước hết cho người dân lao động.

 

(1) Báo tuổi trẻ ngày 19.10.2006

 

 Ví dụ 1, Cách đây 22 năm, Toà án bang Newyork đã

tuyên 35 năm tù giam cho một người đàn ông Mỹ vì có

hành vi phạm tội hiếp dâm. Mặc dù bị cáo liên tục kêu

oan nhưng toà vẫn tuyên án. Gần đây, Viện kiểm sát

Buffalo thuộc bang Newyork - Hoa Kỳ cho hay, các bằng

chứng xét nghiệm ADN đã cho rằng thủ phạm của vụ án

hiếp dâm trên đây là một người đàn ông khác. Ngay lập

tức một Thẩm phán đã tuyên huỷ bản án 35 năm tù giam

oan đã tuyên cách đây 22 năm. Hiện bị cáo bị bệnh tâm

thần, đang được điều trị. Để có được diễm phúc này,

người đàn ông Mỹ 50 tuổi này cũng đã phải qua quãng

thời gian gần nửa đời người trong ngục tù và chỉ có kết

quả ADN mới đủ cơ sớ chứng minh rằng ông ta vô tội. Lá

đơn kêu oan này đã bị bác 5 lần trong suốt 10 năm kêu

oan, không nhận tội(1).

Ví dụ 2, Vụ án oan lịch sử của nước Mỹ. Tháng 6.1941,

cô gái Mỹ gốc Nhật lva Toguri rời San Pedor (Califomia) lên

tàu về cố hương với dự định thăm người dì đang bệnh nặng và học

nghề y. Cũng vào thời gian ấy, Mỹ bước vào cuộc chiến tranh Thế giới

lần thứ hai qua vụ Trân Châu Cảng ngày 07.12.1941, khiến Toguri mắc 

kẹt ở lại Nhật. Năm 1943, Toguri bị ép làm Phát thanh viên của Đài phát 

thanh Tokyo trong chương trình Không giờ (Zero Hour). Đây là chương trình phát thanh tâm lý của Nhật Bản nhằm làm giảm ý chí chiến đấu của quân đội Mỹ.

Tuy nhiên, các nhân vatạ của Mỹ cho rằng chương trình này chẳng hề có tác dụng

Tiêu cực nào, trái lại nhiều binh lính Mỹ lại rất yêu thích những bài hát do Toguri 

Giới thiệu. Sau khi Nhật Bản đầu hàng đồng minh vô điều kiện, quân đội Mỹ bắt 

Đầu mở chiến dịch truy lùng những tội phạm chiến tranh và những công dân Mỹ đã hợp tác với phía Nhật Bản. Sau đó kịch bản đã được soạn thảo và Toguri đã bị bắt vào thánh 9.1945. Tháng 10.1945, cuộc điều tra kết thúc với kết luận cố Toguri vô tội. Tuy nhiên ba năm sau cuộc điều tra được FBI tiếp tục và Toguri đã bị bắt.

(1) Nguồn Báo tuổi trẻ ngày 19.10.2006

 Cơ quan FBI đã gặp hàng trăm người làm chứng, lục tìm các hồ sơ tài liệu, nghe lại các băng ghi âm do Toguri thưc hiện. Đây được coi là cuộc điều tra tón kém nhất thời đó và tiến hành ròng rã 4 năm trời. Tuy nhiên, những chứng cứ thu được của FBI chưa vững chắc nhưng phiên tòa vẫn được tiến hành vào ngày 05.06 1949. Với những người làm chứng khai không đúng sự thật về Toguri đưa tin không chính xác, về việc hải quân Mỹ thua trân, trong một cuộc đụng độ trên biển Thái Bình Dương với quân đội Nhật Bản và đã tác động đến tinh thần chiến đấu của binh lính Mx. Tòa án đã phạt Toguri 10 năm tù về tội phản quốc kèm theo hình phạt 10.000USA.

Sau 2.250 ngày trong ngục tù, khi đó Toguri đã 40 tuổi, tháng 01.1955, Toguri đã được phóng thích với lý do “cải tạo tót”. Sau khi được ra tù, Toguri đã khiếu nại và thật may cho Toguri là những người làm chứng trước đây đã khai ra rằng các lời khai trước đây của họ về Toguri là do FBI đạo diễn, bắt buộc khai ra những điều không có thực để chống lại Toguri. Tháng 01.1997, Toguri đã được Tổng thống G.Ford tuyên bố vô tội và bà đã ra đi vào ngày 26.9.2006 vừa qua, đứng 50 năm sau ngày bị FBI bắt giữ (1).

Với những lý do đó, nhiều nước đã không coi kiểu tranh tụng là chìa khóa vạn năng , thậm chí có nước như Italia vốn theo truyền thống tố tụng tranh tụng nhưng đã lâm vào tình trạng bất lực trước tình hình xã hội đen mafia phạm tội, nay đã chuyển sang kiểu tố tụng thẩm vấn kết hợp với các yếu tố tranh tụng để đảm bảo yêu cầu xử lý tội phạm được nhanh chóng, kịp thời và bảo vệ các quyền cá nhân có hiệu quả.

Kiểu tố tụng thẩm vấn là kiểu tố tụng mà trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về Cơ quan điều tra, Công tố và Tòa án (đây là các cơ quan tiến hành tố tụng)), bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình có tội. Ưu điểm của kiểu tố tụng này là việc điều tra, truy tố, xét xử được nhanh chóng, khắc phục được sự chậm trễ của tố tụng tranh tụng, bởi vì công lý chậm trễ là công lý bất công. Theo đó, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án có trách nhiệm nghiên cứu trước hồ sơ chứng cứ; nếu không đủ chứng cứ thì Tòa án trả hồ sơ cho Cơ quan công tố để điều tra bổ sung, nếu đủ căn cứ thì quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử vẫn là người xét hỏi chính, Công tố viên và luật sư chỉ hỏi những điểm còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn. Ưu điểm của kiểu tố tụng này là tiến độ giải quyết vụ án được nhanh, trừng trị kịp thời kẻ phạm tội, góp phần gìn giữ trật tự xã hội, bảo vệ các quyền và lựoi ích hợp pháp của công dân. Nhược điểm của kiểu tố tụng này là không phân định rành mạch  giữa các chức năng: Chức năng buộc tội, chức năng xét xử và chức năng bào chữa. Vì thế, không ít người đã cho rằng đây là kiểu tố tụng truy kích tội phạm đến cùng và quá trình tố

-------------------------------  

(1) Nguồn Báo Thanh niên ngày 03.10.2006

tụng và quá trình tố tụng diễn ra khép kín, không bảo đảm dân chủ, bình đẳng giữa các bên buộc tội và bên gỡ tội, dễ dẫn đến oan sai.

Nhằm khắc phục những nhược điểm của kiểu tố tụng tranh

tụng và kiểu tố tụng thẩm vấn, nhiều quốc gia hiện nay đã áp dụng

kiểu tố tụng thẩm vấn đan xen một số yếu tố tranh tụng mà điển

hình như: Cộng hoà Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức, Italia và một

số nước có mô hình chuyển đổi như: Trung Quốc, Việt Nam, Lào,

Cu Ba. Theo đó, trách nhiệm chứng minh tội phạm vẫn thuộc về

Cơ quan điều tra, Công tố, xét xử, nhưng. vai trò của Luật sư được

coi trọng hơn trong các giai đoạn tố tụng. Toà án vẫn có trách

nhiệm tìm ra sự thật và cói phiên toà xét xử là giai đoạn điều tra

công khai mà Thẩm phán giữ vai trò chủ đạo. Vị trí của Công tố

viên không hẳn chỉ là người giữ vai trò buộc tội mà còn có trách

nhiệm đưa ra những chứng cứ gỡ tội cho bị cáo, do đó Công tố viên

không chỉ là một bên "đôi tụng, đối kháng" với bị cáo, với người bào

chữa mà Công tố viên còn là người bảo vệ các quyền và lợi ích hợp

pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng. Việc tranh tụng

tại phiên toà giữa bên buộc tội và bên gỡ tội như đưa ra chứng cứ,

tranh luận, đối đáp về chứng cứ, tội danh và áp dụng pháp luật

được diễn ra một cách dân chủ.

Đưa ra các kiểu tố tụng phổ biến hiện nay ở trên thế giới để cho

chúng ta có nhận định rằng không nên tuyệt đối hoá một kiểu tố

tụng nào. Trên thực tế cũng chưa có công trình khoa học nào

khẳng định mô hình tố tụng nào có ưu thế vượt trội. Mỗi kiểu tố

tụng, bên cạnh những ưu điểm cũng có những tồn tại, bất cập.

Hiệu quả của từng mô hình tố tụng còn phụ thuộc rất nhiều vào ý

thức pháp luật và truyền thống pháp luật của từng quốc gia. Thực

tiễn đời sống pháp luật trên thế giới cho thấy: nhiều quốc gia có

những điểm tương đồng về văn hoá, kinh tế, chính trị, xã

hội. . . nhưng cách thức tổ chức và sử dụng mô hình tố tụng không

đồng nhất. Liên minh châu âu (EU) gồm 27 quốc gia đã thống nhất

có đồng tiền chung EURO và đang tiến dần đến việc có một bản

 

Hiến pháp chung, thống nhất nhưng mỗi quốc gia của châu lục này

lại áp dụng những mô hình tố tụng khác nhau. Nếu như nước Anh

áp dụng kiểu tố tụng tranh tụng thì các nước Cộng hoà Pháp, Cộng

hoà Liên bang Đức, Italia lại áp dụng kiểu tố tụng truyền thống đó

là thẩm vấn kết hợp tranh tụng. . .Trong khi đó Đan Mạch, Hà Lan

thì vừa vận dụng kinh nghiệm kiểu tranh tụng của Anh và có vận

dụng kiểu thẩm vấn của châu âu lục địa. Các quốc gia thuộc châu

Mỹ, châu á, châu Phi đều có những mô hình tố tụng khác nhau.

Tại các nước ASEAN cũng đang tiến tới xây dựng hiến chương

chung nhưng việc áp dụng mô hình tố tụng cũng khác nhau. Điều

đáng lưu ý là, các nước có mô hình chuyển đổi như Việt Nam,

Trung Quốc, Lào, Cu Ba tuy đã có nhiều cải cách mạnh mẽ về kinh

tế, chính trị, xã hội nhưng mô hình nhưng vẫn giống nhau. Trong

đó Việt Nam và Trung Quốc là hai nước xã hội chủ nghĩa có nền

văn hoá, chính trị, kinh tế và xã hội rất phù hợp nhau. Hoạt động

tố tụng nói chung và tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát Trung

Quốc nói riêng đang phát huy tốt chức năng của mình trong công

tác đấu tranh phòng chống tội phạm, nhất là tội phạm tham

nhũng. Kết quả đấu tranh chống tội phạm trong những năm vừa

qua của các cơ quan bảo vệ pháp luật Trung Quốc nói chung và

Viện kiểm sát nói riêng không chỉ là biểu tượng đáng tự hào của

Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc mà còn là kinh nghiệm

để các nước quan tâm nghiên cứu, học tập. Đây là những kinh

nghiệm cần được nghiên cứu, vận dụng trong quá trình đổi mới tổ

chức và hoạt động các cơ quan tư pháp Việt Nam.

II. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VỀ TRANH LUẬN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, mở rộng dân

chủ, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương xây dựng nền tư pháp

vững mạnh, dân chủ, công bằng và nghiêm minh. Theo đó, xu

hướng lợi ích cá nhân được đề cao hơn, tư tưởng chống làm oan

người vô tội được chú trọng. Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã có lần nhấn

mạnh "Một người bị oan không chỉ họ đau khổ mà gia đình họ còn

đau khổ hơn, làm điều oan cho một người nào đó thì chúng ta không

còn lẽ sông nữa, bởi vì chúng ta là những người cộng sản" (1) .

Dưới ánh sáng các nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp, các

cơ quan bảo vệ pháp luật trong những năm qua đã đạt được nhiều

thành tựu quan trọng, từng bước thể hiện tính dân chủ, công khai

trong điều tra, truy tố, xét xử tội phạm. Hoạt động điều tra, truy

(1) Tăng cường pháp chế XHCN, NXB Sự thật, Hà Nội, 1976, trg.59.

tố, xét xử đã phục vụ kịp thời yêu cầu chính trị của từng thời kỳ

cách mạng, nhất là trong giai đoạn đổi mới toàn diện đất nước hiện

nay. Tuy nhiên, hoạt động tố tụng nói chung, hoạt động xét xử nói

riêng còn bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập chưa ngang tầm với yêu

cầu nhiệm vụ, còn để xảy ra các trường hợp oan sai, việc giải quyết

nhiều vụ án còn kéo dài, không triệt để. Trước tình hình đó, Đảng

ta chủ trương tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp, nhấn mạnh đến

việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà. Nghỉ quyết số

08-NQ/TW ngày 02.01.2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ

trọng tâm của công tác tư pháp nêu rõ "Nâng cao chất lượng tranh

tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà, đảm bảo việc tranh tụng dân

chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tô tụng

khác". Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02.6.2005 của Bộ Chính trị

về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 ghi rõ "Nâng cao chất

lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá

của hoạt động tư pháp".

Tư tưởng chỉ đạo về tranh tụng được nêu trong các nghị quyết

của Đảng về cải cách tư pháp là nhằm hướng hoạt động các cơ quan

tư pháp ngày càng hiệu quả hơn, bảo đảm việc điều tra, truy tố, xét

xử đúng người, đúng pháp luật, không để lọt người phạm tội,

không làm oan người vô tội. Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị

quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đề cập đến tranh tụng tại

phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá trong cải cách tư pháp

nhằm đảm bảo cho phán quyết của Toà án khách quan, chính xác

đúng với sự thật của vụ án hình sự, vừa không bỏ lọt tội phạm, vừa

không để xảy ra các trường hợp oan sai. Căn cứ vào bản chất và

cách thức tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, cũng như đặc

điểm, điều kiện cụ thể và những giá trị pháp luật truyền thống ở

nước ta để khẳng định rằng chủ trương về cải cách tư pháp là hoàn

toàn đúng đắn.

Bên cạnh những thành tựu là cơ bản, hoạt động tố tụng cũng

còn nhiều thiếu sót tồn tại. Tuy nhiên, những tồn tại, thiếu sót

trong hoạt động những thời gian qua là những thiếu sót trong quá

trình phát triển, đi lên. Không nên có cách nhìn phiến diện để từ

đó cho rằng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam lạc hậu xa so với

một số quốc gia trên thế giới và để từ đó kiến nghị phải chuyển

ngay mô hình kiểu tố tụng thẩm vấn hiện nay sang mô hình kiếu

tố tụng tranh tụng.

Theo lý thuyết, muốn cho hoạt động tranh tụng có hiệu quả,

điều kiện trước hết đó là sự hoạt động tích cực của hai chủ thể quan

trọng: đội ngũ các Công tố viên và Luật sư bào chữa. Theo đó, hai

chủ thể này phải có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng đáp

ứng được yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trong

hai chủ thể nòng cốt của những tranh tụng, dưới sự lãnh đạo, giám

sát, phối hợp giúp đỡ của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền các cấp, sự

chăm lo đùm bọc của nhân dân, với truyền thống và kinh nghiệm

47 năm qua, đội ngũ Kiểm sát viên đã có bước phát triển và đang

thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của

pháp luật. Tuy nhiên, đối với đội ngũ luật sư, thời gian qua, mặc dù

có nhiều cố gắng trong đào tạo, bồi dưỡng nhưng đội ngũ luật sư

nhìn chung còn hạn chế về số lượng và chất lượng. Hiện nay, cả

nước có khoảng gần 3.900 Luật sư, trong đó gần 500 Luật sư tập sự.

Như vậy, Ở Việt Nam bình quân 22.000 dân mới có một Luật sư. Với

số lượng Luật sư khiêm tốn như thế này nên gần 60% vụ án hình

sự hiện nay chưa có Luật sư tham gia bào chữa. Trong khi đó, tại

Mỹ, bình quân 2000 dân có một luật sư. Tại thủ đô Washington

D.C, cứ 32 người dân có một Luật sư. Tại Cộng hoà Liên bang Đức,

bình quân một Luật sư có 585 người dân. Đây là một thực tế mà

chúng ta phải tính đến khi đề cập việc xây dựng mô hình tố tụng

Việt Nam trong điều kiện cải cách tư pháp sao cho phù hợp với đặc

điểm, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Nghị quyết số 49- NQ/TW

chỉ rõ: "Cải cách tư pháp phải được tiên hành khẩn trương, đồng bộ,

có trọng tâm, trọng điểm với những bước đi vững chắc".

Theo quan điểm của Đảng ta, cùng với việc nâng cao trình độ

chính trị, pháp luật và chuyên môn cho các Điều tra viên, Kiểm

sát viên, Thẩm phán, cần chú trọng phát triển đội ngũ Luật sư đủ

về số lượng và có chất lượng để đảm bảo thực hiện tốt việc tranh

luận tại phiên toà. Các quy định của pháp luật phải tạo điều kiện

cho Luật sư tham gia tố tụng ngay từ khi khởi tố bị can; người bào

chữa có quyền áp dụng mọi biện pháp để thu thập chứng cứ. Như

vậy chủ trương về cải cách tư pháp của Đảng hiện nay hoàn toàn

đúng đắn và phù hợp với xu thế cải cách hành chính, kinh tế đang

xây dựng thể chế về cải cách tư pháp ở Việt Nam đáp ứng được

yêu cầu thì hệ thống thể chế đó vừa phải vận dụng, tiếp thu có

chọn lọc các thành tựu về cách thức tổ chức bộ máy nhà nước của

các nước tiên tiến trên thế giới, nhưng đồng thời cũng phải căn cứ

vào truyền thống xây dựng và áp dụng pháp luật ở Việt Nam.

Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị khẳng định quan điểm

mang tính nguyên tắc: "Cải cách tư pháp phải kế thừa truyền

thông dân tộc, những thành tựu đã đạt được của nền tư pháp xã

hội chủ nghĩa Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm

của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh nước ta và yêu cầu chủ

động hội nhập quốc tê, đáp ứng được xu thêlphát~triển của xã hội

trong tương lai"

 

III. CÁC QUY Đ!NH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRANH LUẬN VÀ

TRÁCH NHIỆM THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA KIỂM SÁT VIÊN

TẠI CÁC PHIÊN TOÀ SƠ THẨM

Nhằm thể chế các quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, Bộ

luật TTHS năm 2003 đã được Quốc hội ban hành. Hàng loạt các

nguyên tắc được xác định trong Bộ luật TTHS đã thể hiện rõ

những yếu tố tranh tụng trong tố tụng hình sự như các nguyên tắc:

bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa (Điều 3); tôn trọng và bảo vệ

các quyền cơ bản của công dân (Điều 4); bảo đảm quyền bình đẳng

của mọi công dân trước pháp luật (Điều 5); nguyên tắc không ai bị

coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của

toà án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 9); trách nhiệm chứng minh

tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, bị can, bị cáo có

quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội (Điều 10);

bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo (Điều 11) v.v.

Đặc biệt, tuy không ghi tranh tụng là một nguyên tắc của tố

tụng hình sự nhưng Bộ luật TTHS đã có nhiều quy định về sự bình

đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong việc đưa ra các chứng

cứ, trách nhiệm tranh luận và đối đáp dân chủ. Hội đồng xét xử

không phải là một bên trong tranh tụng nhưng có trách nhiệm tạo

điều kiện để các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ tranh tụng.

Điều 19 Bộ luật TTHS nêu rõ: Kiểm sát viên, bị cáo, người bào

chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp

của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình

đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và

tranh luận dân chủ trước Toà án. Toà án có tránh nhiệm tạo điều

kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách

quan của vụ án.

Ngay trong giai đoạn điều tra, Bộ luật TTHS đã có nhiều quy

định cụ thể để người bị tạm giữ, bị can và những người tham gia

tố tụng khác thực hiện quyền bào chữa của mình. Các điều 49, 50,

51,52, 53, 54, 58 và Điều 59 BỘ luật TTHS quy định: người bị tạm

giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự,

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bào chữa,

người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền đưa ra tài liệu,

đồ vật yêu cầu Điều 58 Bộ luật TTHS còn quy định người bào

chữa có quyền tham gia bào chữa ngay từ khi có quyết định tạm

giữ và sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng

tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội,

những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.

Đặc biệt luật còn quy định cho người bào chữa có quyền thu thập

tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị

tạm giữ, bị cáo, bị can, người thân thích của những người này hoặc

từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị

can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác. Điều

56 Bộ luật TTHS quy định mở rộng diện người bào chữa, người bào

chữa không chỉ là luật sư, người đại diện hợp pháp của người bị

tạm giam, bị can, bị cáo, mà còn là bào chữa viên nhân dân.

Phần thứ ba về xét xử sơ thẩm từ Chương XVI đến Chương XXII

Bộ luật TTHS đã có nhiều quy định nhằm thể chế hoá quan điểm

của Đảng về tranh tụng trong TTHS. Luật không quy định cụ thể

về "tranh tụng" nhưng nội hàm các quy định đều toát lên tinh thần

tranh tụng kết hợp với thẩm vấn. Theo đó, việc xét hỏi chủ yếu do

Hội đồng xét xử, trách nhiệm của Kiểm sát viên được quy định chặt

chẽ hơn và quyền bào chữa được mở rộng và cụ thể hơn: Hội đồng

xét xử phải xác định đầy đủ các tình tiết về từng sự việc và về từng

tội của vụ án. Khi xét hỏi từng người, chủ toạ phiên toà hỏi trước

rồi đến Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa, người

bảo vệ quyền lợi của đương sự (Điều 207); bị cáo trình bày lời bào

chữa, nếu bị cáo có người bào chữa thì người này bào chữa cho bị

cáo; người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc đại diện hợp pháp của họ trình

bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình (Điều 217); bị cáo

người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền

trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của

mình; Kiểm sát viên phải đưa ra lập luận của mình đối với từng ý

kiến, người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người

khác; chủ toạ phiên toà không được hạn chế thời gian tranh luận,

tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý

kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người

tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên

tranh luận (Điều 218); nếu qua tranh luận mà thấy cần xem xét

thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử có thể quyết định trở lại việc xét

hỏi. Xét hỏi xong phải tiếp tục tranh luận (Điều 219).

Hiện nay, có một số ý kiến cho rằng để thực hiện việc tranh

tụng thì tại phiên toà Kiểm sát viên với tư cách là người buộc tội

có nhiệm vụ xét hỏi và tranh luận là chủ yếu để bảo vệ cáo trạng,

Hội đồng xét xử chỉ là trọng tài, không tiến hành xét hỏi, chỉ điều

khiển việc xét hỏi và nghe các bên tham gia phiên toà tranh luận,

rồi nhân danh công lý để ra phán quyết về vụ án. Quan điểm tuyệt

đối hoá tranh tụng để từ đó coi Hội đồng xét xử chỉ có vai trò trọng

tài là chưa thấy hết bản chất ưu việt của kiểu tố tụng thẩm vấn

kết hợp với tranh tụng. Việc thẩm vấn tại phiên toà do Hội đồng

xét xử tiến hành là để thẩm tra các tài liệu chứng cứ được thu thập

trong giai đoạn điều tra và thể hiện trong bản cáo trạng của Viện

kiểm sát. Thông qua đó Hội đồng xét xử tiến hành kiểm tra, xác

định tính khách quan, chân thực của các tài liệu chứng cứ đã được

dùng vào việc buộc tội bị cáo. Trong quá trình thẩm vấn Hội đồng

xét xử có trách nhiệm hỏi để làm rõ các tình tiết của vụ án, nghe

các ý kiến tranh luận của Kiểm sát viên, người bào chừa, bị cáo và

những người tham gia tố tụng để xác định sự thật của vụ án, nhằm

bảo đảm tính khách quan, toàn diện của quá trình xét xử.

Khác với việc xét hỏi của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên hỏi bị

cáo, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác nhằm

mục đích củng cố chứng cứ, làm rõ thêm các tình tiết buộc tội hoặc

gỡ tội, bảo vệ cáo trạng chứ không phải là thẩm tra chứng cứ như

việc xét hỏi của Hội đồng xét xử. Việc hỏi của luật sư, người bào chữa

và những người tham gia tố tụng khác nhằm vào làm rõ các tình tiết

liên quan đến việc bào chữa, gỡ tội cho bị cáo. Tranh luận giữa Kiểm

sát viên với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác

là để xác định các tình tiết của vụ án được rõ ràng, khách quan và

minh bạch. Trên cơ sở thẩm tra tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ và

nghe các bên tranh luận, đối đáp, Hội đồng xét xử ra phán quyết về

vụ án một cách chính xác, khách quan, nhanh gọn, không rườm rà

mất nhiều thời gian như phiên toà kiểu tranh tụng thuần tuý.

Có thể nói, về cơ bản Bộ luật TTHS năm 2003 đã có nhiều quy

định mới về tranh luận, đối đáp tại phiên toà. Những quy định này

đã và đang phát huy hiệu lực trên thực tiễn của cuộc đấu tranh

phòng chống tội phạm. Các vụ án hình sự được kết thúc điều tra,

truy tố, xét xử nhiều hơn, án được giải quyết nhanh hơn, oan sai

tuy vẫn còn nhưng đã được giảm đáng kể. Công tác điều tra, truy

tố, xét xử phục vụ kịp thời tình hình kinh tế, chính trị, xã hội đất

nước. Gần đây, việc tranh luận tại phiên toà bảo đảm tính dân chủ,

khách quan và minh bạch hơn.

Tuy nhiên, việc tranh luận trong nhiều phiên toà còn chưa đáp

ứng yêu cầu. Nhiều vụ án không có Luật sư tham gia. Trách nhiệm

và năng lực của Kiểm sát viên, người bào chữa còn nhiều bất cập.

Có phiên toà chưa thật sự dân chủ, quyền bào chữa của bị cáo,

người bào chữa, người tham gia tố tụng chưa được tôn trọng. Số

lượng án sơ thẩm bị huỷ, bị cải sửa ở cấp phúc thẩm, giám đốc

thẩm hằng năm vẫn còn xảy ra nhiều.

Nguyên nhân của tình hình trên đây có nhiều, nhưng nguyên

nhân cơ bản và quan trọng là do Bộ luật TTHS chưa được quy định

một cách chặt chẽ, rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các

chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng. Bên cạnh đó có

nguyên nhân về đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng tranh luận cho các

Chức danh tư pháp như: Kiểm sát viên, Thẩm phán, Luật sư chưa

đáp ứng tình hình.

Vì vậy, việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Bộ luật TTHS theo

tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW được đặt ra như vấn đề ưu tiên

trong tiến trình cải cách tư pháp. Đồng thời, cần tăng cường đào

tạo, bồi dưỡng các kỹ năng tranh luận tại phiên toà cho các chức

danh tư pháp, trong đó đặc biệt là các Kiểm sát viên về kỹ năng

tranh luận, đối đáp nhằm đáp ứng các yêu cầu của cải cách tư pháp

đang diễn ra sôi động hiện nay.

                                           CHƯƠNG II

                    KỸ NĂNG CHUẨN BỊ THỰC HÀNH

            QUYỀN CÔNG TỐ TẠI PHIÊN TOÀ SƠ THẨM

I. NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TOÀ

SƠ THẨM

1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên khi tham gia phiên

toà sơ thẩm

Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên khi tham gia phiên toà

đã được pháp luật quy định rõ ràng và cụ thể như: đọc cáo trạng,

tham gia xét hỏi, thực hiện việc luận tội và phát biểu quan điểm,

tranh luận, đối đáp với những người tham gia tố tụng. Bên cạnh

nhiệm vụ thực hành quyền công tố, Kiểm sát viên còn có nhiệm vụ

kiểm sát hoạt động tố tụng, kiểm sát việc tuân theo pháp luật

trong hoạt động xét xử, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của

những người tham gia tố tụng. Việc tham gia phiên toà của Kiểm

sát viên nhằm góp phần cùng Toà án xét xử công khai, dân chủ,

đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm,

không làm oan người vô tội. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát

viên tại phiên toà đã được quy định tại Điều 17 và Điều 18 Luật

Tổ chức Viện kiểm sát nhân.

Điều 1 7 quy định: "Khi thực hành quyền công tố trong

giai đoạn xét xử các vụ án hình sư, Viện kiểm sát nhân dân

có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

 

1 . Đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát nhân

dân liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên toà;

2. Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên toà sơ

thẩm, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại

phiên toà phúc thẩm; tranh luận với người bào chữa và

những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà sơ thẩm,

phúc thẩm;

3. Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải

quyết vụ án tại phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm'?

Điều 18 quy đinh: "Khi thực hiện công tác kiểm sát xét

xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có những

nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động

xét xử của Toà án nhân dân;

2. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người

tham gia tố tụng v. v. '?

Bộ luật TTHS đã quy định rõ về nhiệm vụ và quyền hạn của

Kiểm sát viên tại phiên toà như đọc cáo trạng, tham gia thẩm vấn,

trình bày lời luận tội, đối đáp với các ý kiến của bị cáo, người bào

chữa, nguyên đơn và bị đơn dân sự, người bị hại, người bảo vệ

quyền lợi của đương sự. Từ Điều 13, 14, 16, 19, 20, 21, 22, 23, 24,

25, 26, 27, 28...Quy chế số 121/2004/QĐ-VKSTC đã quy định rõ

nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong việc thực hành

quyền công tố tại phiên toà như: nghiên cứu hồ sơ vụ án, kiểm sát

việc chuẩn bị xét xử của Toà án, xem xét vật chứng, rút quyết định

truy tố, kiểm sát việc chấp hành thủ tục tố tụng tại phiên toà, đọc

cáo trạng, luận tội, tranh luận, kiểm sát việc tuyên án, kiểm tra

biên bản phiên toà, kiểm tra bản án, quyết định của toà án, kháng

nghị bản án hoặc quyết định của Toà án.

Theo quy định của Bộ luật TTHS hiện hành thì nhiệm vụ và

quyền hạn của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm có nhiều điểm

mới như: trong trường hợp cần thiết có thể có Kiểm sát viên dự

khuyết (Điều 189), Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với

khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc

về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố

(Điều 196), Kiểm sát viên hỏi về những tình tiết của vụ án liên

quan đến việc buộc tội, gỡ tội bị cáo, nếu bị cáo không trả lời thì

Kiểm sát viên tiếp tục hỏi những người khác (Điều 209), Kiểm sát

viên có quyền trình bày nhận xét của mình về nơi đã xảy tội phạm

(Điều 2 1 3) , luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào những tài

liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên toà và ý kiến của bị cáo

và những người tham gia những khác tại phiên toà (Điều 217), bị

cáo và những người tham gia tố tụng tại phiên toà có quyền trình

bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của

mình; Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với

từng ý kiến, chủ toạ phiên toà có quyền đề nghị Kiểm sát viên phải

đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và

những người tham gia những khác (Điều 218).

Điều 2 Quy chế số 121/2004/QĐ-VKSTC quy định khi thực

hành quyền công tố tại phiên toà hình sự Kiểm sát viên có 12

nhiệm vụ: đọc cáo trạng, tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và

đối đáp tại phiên toà, kiểm sát việc xét xử, yêu cầu Toà án cung

cấp hồ sơ, kháng nghị phúc thẩm bản án hoặc quyết định của Toà

án, khởi tố vụ án, cấp thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa.

Những quy định nêu trên của pháp luật cho thấy nhiệm vụ của

Kiểm sát viên tại phiên toà hình sự rất nặng nề. Vụ án có được xét

xử chính xác, dân chủ, khách quan hay không phụ thuộc rất nhiều

vào năng lực và trách nhiệm của Kiểm sát viên. Kiểm sát viên nào

nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, chuẩn bị tốt các chứng cứ, tài liệu phục

vụ cho việc tranh luận, đối đáp, có năng lực xử lý các tình huống

tại phiên toà, với tinh thần công tâm, thận trọng và kiên quyết thì

sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong việc thực

hành quyền công tố tại phiên toà. Ngược lại, Kiểm sát viên nào

nghiên cứu không kỹ, chuẩn bị sơ sài, qua loa đại khái thì tất yếu

sẽ gặp khó khăn và khó hoàn thành tất nhiệm vụ của mình trong

việc thực hành quyền công tố tại phiên toà.

(Phạm vi nghiên cứu chỉ đề cập đến kỹ năng thực hành quyền

công tố, không đề cập đến nhiệm vụ kiểm sát xét xử).

2. Địa vị pháp lý của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm

Theo quy định của pháp luật tại phiên toà hình sự, Kiểm sát

viên tham gia với tư cách là người thay mặt Nhà nước để thực

hành quyền công tố trong việc truy tố người phạm tội ra toà nhằm

buộc tội bị cáo. Vì quyền công tố là quyền lực của Nhà nước và gắn

với Nhà nước, vì vậy việc thực hành quyền công tố tại phiên toà là

thủ tục tư pháp bắt buộc mà bất kỳ nhà nước nào, từ thời kỳ nhà

nước sơ khai đến thời kỳ nhà nước hiện đại ngày nay, cũng đều áp

dụng. Địa vị pháp lý của Kiểm sát viên tại phiên toà được xem xét

trong mối quan hệ với Hội đồng xét xử, bị cáo và người bào chữa.

Sự có mặt của Kiểm sát viên tại phiên toà làm phát sinh mối quan

hệ giữa cơ quan buộc tội với cơ quan xét xử. Trong mối quan hệ đó,

sự tham gia của Kiểm sát viên là chủ thể bắt buộc, nếu không có

Kiểm sát viên thì phiên toà không có ý nghĩa. Tại phiên toà, Kiểm

sát viên là người đưa ra chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội

của bị cáo nhằm bảo vệ cáo trạng và đề xuất hình thức xử lý đối

với bị cáo. Hội đồng xét xử là người thẩm tra các tình tiết của vụ

án theo cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố để quyết định có xử

phạt bị cáo theo đề nghị của Kiểm sát viên hay không.

Trong mối quan hệ với bị cáo, Kiểm sát viên là người buộc tội,

bị cáo là người có dấu hiệu phạm tội, dẫn đến hệ quả tất nhiên là

"tính bất bình đẳng" giữa bên buộc tội đại diện cho quyền lực nhà

nước với bên bị buộc tội. Trong mối quan hệ với Luật sư, Kiểm sát

viên tham gia phiên toà với tư cách là người đại diện cho quyền lực

nhà nước để buộc tội bị cáo với bên gỡ tội, đại diện cho thân chủ.

Kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng có nhiệm vụ bảo vệ trật

tự pháp luật, bảo vệ quyền lợi chung, vừa có trách nhiệm đưa ra

các chứng cứ để buộc tội và gỡ tội. Luật sư tại phiên toà là người

tham gia tố tụng, đại diện cho thân chủ, có nhiệm vụ đưa ra các

chứng cứ để gỡ tội cho bị cáo.

3. Về số lượng Kiểm sát viên tham gia phiên toà

Luật TTHS các nước quy định số lượng Kiểm sát viên giữ

quyền công tố tại phiên toà không thống nhất. Đa số các nước quy

định khi phiên toà hình sự được tiến hành thì bắt buộc phải có

Công tố viên tham gia để thay mặt Nhà nước buộc tội bị cáo. Tuy

nhiên cũng có quốc gia quy định Công tố viên tham gia phiên toà

trong các trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng. Đối với các

vụ án hình sự nhỏ, Công tố viên có thể không tham gia phiên toà.

Trong trường hợp này nạn nhân có thể được phép trình bày lời

buộc tội với Toà án.

Ví dụ, Theo quy đinh của pháp luật TTHS tại các quốc

gia như Brazil, áo thì trong trường hợp cơ quan công tố

không truy tố thì nạn nhân có thể được phép trình bày lời

buộc tội bị cáo với Toà án. Trong một số tội phạm, "nạn

nhân có quyền hợp pháp kiện bi can" các trường hợp đó

gọi là truy tố tội phạm tư nhân " khi việc truy tố tư nhân là

chủ yếu (1)

Tuy nhiên, phần lớn các quốc gia trên thế giới đều quy định bất

cứ vụ án hình sự nào cũng có Công tố viên tham gia phiên toà với

nhiệm vụ thay mặt Nhà nước buộc tội bị cáo. Về số lượng Công tố

viên tham gia phiên toà tuỳ theo mức độ nghiêm trọng và phức tạp

của vụ án. Tuy nhiên, số lượng Công tố viên tham gia phiên toà

cũng tuỳ thuộc vào đặc điểm của mỗi nước, trong đó có các nước

như Hoa Kỳ, Cộng hoà Liên bang Đức v.v. không hạn chế số lượng

Công tố viên tham gia phiên toà. Tại Cộng hoà Liên bang Đức, nếu

vụ án phức tạp, nghiêm trọng thì có thể có từ 3 đến 4 Công tố viên

tham gia phiên toà. Ở Hoa Kỳ thì số lượng Công tố viên tham gia

phiên toà có thể nhiều hơn, tuỳ thuộc vào tính chất nghiêm trọng

và phức tạp của vụ án.

(1) Chỉ dẫn công tác công tố - Hà Nội 2000, tr.92

 

 

 

Ví dụ, Vụ án O.J Simpon giết vợ ở Hoa kỳ

Đây là vụ án không quả tang, việc điều tra phát hiện

dựa trên cơ sở truy xét. Cơ sở để buộc tội bị cáo chủ yếu

dựa vào các chứng cứ gián tiếp. Vụ án có nhiều ý kiến

khác nhau giữa bên buộc tội vạ gỡ từ!. Tuy vụ án chỉ có

một bị cáo nhưng Toà án đã phải triệu tập 150 người làm

chứng. Phiên toà phải kéo dài 9 tháng. Vụ án có 11 Luật

sư bào chữa cho bị cáo. Để bảo đảm cho việc tranh tụng

có kết quả, Viện công tố đã cử 25 Công tố viên tham dự

phiên toà. Có thể nói đây là vụ án có số Công tố viên tham

gia phiên toà kỷ lục ở Hoa Kỳ.

 

Ở việt Nam, trong thời kỳ chưa có Bộ luật Tố tụng Hình sự,

theo quy định tại Sắc lệnh số 57/SL ngày 17.4.1947, Công tố viên có

nhiệm vụ giữ quyền công tố trước toà, nhưng khi Bộ luật Tố tụng

Hình sự được ban hành thì nhiệm vụ giữ quyền công tố trước toà

của Kiểm sát viên được quy định rất cụ thể trong các Bộ luật TTHS

(Bộ luật TTHS năm 1988 và năm 2003). Tiếp đó, Điều 17 Luật Tổ

chức Viện kiểm sát nhân dân quy định: "Viện kiểm sát nhân dân tôi

cao và các Viện kiểm sát nhân dân địa phương có quyền: khởi tô về

hình sự và giữ quyền công tôltrước Toà án nhân dân cùng cấp". Nếu

theo quy định tại Điều 187, 190, 191, 192, 193 BỘ luật TTHS, bị cáo,

người bào chữa, người bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi

nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của họ, người làm

chứng, người phiên dịch có thể vắng mặt (có lý do) thì quy định tại

Điều 189 Bộ luật TTHS trong bất cứ vụ án nào Kiểm sát viên phải

có mặt. Do vậy, về nguyên tắc, khi Toà án có quyết định đưa vụ án

ra xét xử, Viện kiểm sát cùng cấp phải cử Kiểm sát viên tham gia.

Theo quy định tại Điều 104 Bộ luật TTHS năm 1988 thì trong

trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt hoặc bị thay đổi thì Hội đồng

xét xử phải hoãn phiên toà. Thực tiễn truy tố, xét xử cho thấy, việc

hoãn phiên toà để cử Kiểm sát viên thay thế theo quy định trên đây

sẽ làm cho việc xét xử bị gián đoạn, không liên tục, có vụ việc phải

kéo dài, không đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội

phạm. Để bảo đảm thời gian xét xử liên tục, Bộ luật TTHS năm

2003 đã quy định trong trường hợp cần thiết, vụ án kéo dài ngày

hoặc có nhiều tình tiết phức tạp thì phải có hai Kiểm sát viên tham

gia phiên toà, hoặc có Kiểm sát viên dự khuyết.

Điều 189 Bộ luật TTHS quy định:

"1 . . .Đối với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp

thì hai Kiểm sát viên có thể cùng tham gia phiên toà. Đối

với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì hai Kiểm

sát viên có thể cùng tham gia phiên toà. Trong trường hợp

cần thiết có thể có Kiểm sát viên dự khuyết.

2. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt, bị thay đổi mà không

có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế thì Hội đồng xét xử

hoãn phiên toà và báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấpn

Điều 5 Quy Chế Số 121/20041QĐ-VKSTC quy định:

"1. Tại phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm, Kiểm sát viên

Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên toà.

Đối với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thi hai

Kiểm sát viên có thể cùng tham gia phiên toà. Trong

trường hợp cần thiết có thể có Kiểm sát viên dự khuyến

 

Thực tiễn truy tố, xét xử cho thấy trong thời gian qua các Kiểm

sát viên đã tham gia đầy đủ các phiên toà hình sự sơ thẩm. Hàng

năm, các Kiểm sát viên đã tham gia xét xử hàng chục vạn vụ án

hình sự, trong đó có nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng về an ninh

quốc gia, ma túy, tham nhũng, các vụ án mang tính chất xã hội

đen. Việc tham gia đầy đủ các phiên toà của Kiểm sát viên đã góp

phần tích cực cùng Hội đồng xét xử đưa ra những phán quyết

khách quan, dân chủ đối với những hành vi phạm tội, phục vụ kịp

thời yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.

Ví dụ, Vụ án Trương Văn Cam (viết tắt là vụ án Năm

Cam) cùng đồng bọn phạm tội mang tính chất xã hội đen

ở thành phố Hồ Chí Minh.

Vụ án Năm Cam có 155 bị cáo, với 23 tội danh bị truy

tố gần 200 người làm chứng với 70 luật sư bào chữa cho

các bị cáo. Trong khi đó, theo quy định của pháp luật,

Kiểm sát viên tham gia giữ quyền công tố chỉ có hai người.

Bản cáo trạng của vụ án có 585 trang và được xét xử trong

gần 2 tháng. Đây là vụ án được xét xử dài nhất trong lịch

sử tư pháp của Việt Nam.

Tuy nhiên, theo dõi việc xét xử vụ án này chúng tôi thấy, với

gần 70 luật sư bào chữa cho 155 bị cáo mà chỉ có hai Kiểm sát viên

thực hành quyền công tố thì không đảm bảo việc tranh luận, đối

đáp một cách đầy đủ và kịp thời theo yêu cầu của pháp luật. Theo

chúng tôi đối với những vụ án đặc biệt như vụ án Năm Cam nêu

trên, số lượng Kiểm sát viên cần được tăng thêm. Vì vậy, trong quá

trình nghiên cứu, sửa đổi Bộ luật TTHS cần quan tâm chú ý đến

số lượng Kiểm sát viên tham gia phiên toà đối với các vụ án đặc

biệt nghiêm trọng và phức tạp. Vì vậy, khoản 1 Điều 189 Bộ luật

TTHS cần bổ sung thêm: Trong trường hợp cần tăng cường Kiểm

sát viên để bảo đảm thời gian và chất lượng thực hành quyền công tố, số lượng Kiểm sát viên tham gia phiên tòa do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp quyết định, không nên quy định như hiên nay là chỉ có hai Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trường hợp vụ án có hai Kiểm sát viên tham gia phiên toà,

luật không quy định cụ thể Kiểm sát viên nào có vai trò chính,

Kiểm sát viên nào có vai trò phụ. Do đó, về nguyên tắc, trong hai

Kiểm sát viên tham gia phiên toà thì cần có sự phân công một

Kiểm sát viên phụ trách. Trong các Kiểm sát viên tham gia phiên

Toà thì chú ý phân công ai là người trình bày bản cáo trạng, ai là

người trình bày bản luận tội, ai là người tranh luận, đối đáp với bị

cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác. Tại

phiên toà, khi Kiểm sát viên này làm nhiệm vụ tranh luận, đối đáp

thì Kiểm sát viên kia phải chuẩn bị các tài liệu, để phục vụ cho việc

tranh luận, đối đáp.

II. VỀ NGUYÊN TẮC ỦY QUYỀN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ

Thực tiễn công tác thực hành quyền công tố trong thời gian vừa

qua cho thấy, có nhiều vụ án do Viện kiểm sát cấp trên kiểm sát

điều tra, khi kết thúc việc điều tra thấy thẩm quyền xét xử do Toà

án cấp dưới, Viện kiểm sát nơi kết thúc điều tra lập cáo trạng,

chuyển toàn bộ hồ sơ và uỷ quyền cho Viện kiểm sát cấp dưới để

thực hành quyền công tố. Điều 38 Quy chế tạm thời số

120/2004/QĐ-VKSTC quy định: những vụ án hình sự được thụ lý

điều tra ở cấp trên sau khi kết thúc điều tra thì Viện kiểm sát cấp

trên làm bản cáo trạng truy tô. Bản cáo trạng và hồ sơ vụ án phải

được chuyển ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành

quyền công tôlvà kiểm sát xét xử sớ thẩm".

Thời gian qua, Viện kiểm sát các cấp đã thực hiện nghiêm

chỉnh sự phân công trên đây, góp phần giải quyết nhanh chóng,

chính xác các vụ án phức tạp, phục vụ kịp thời các yêu cầu chính trị

địa phương, như các vụ án Trương Văn Cam và đồng bọn phạm

nhiều tội đặc biệt nghiêm trọng tại thành phố Hồ Chí Minh, vụ Là

Thị Kim Oanh cùng đồng bọn phạm tội tham ô, cố ý làm trái ở Bộ

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, vụ tham nhũng trong việc

mua bán quắm tại Bộ Thương mại và các vụ án ma túy lớn v.v. Đây

là các vụ án đặc biệt nghiêm trọng và phức tạp, xảy ra trong một

thời gian dài và trên địa bàn rộng, người phạm tội có chức vụ quyền

hạn và có nhiều thủ đoạn trong việc đối phó với cơ quan pháp luật,

nhưng với sự phối hợp kịp thời của các cơ quan tư pháp trung ương

nên việc điều tra, truy tố đã được thực hiện theo đúng các quy định

của pháp luật và khi chuyển về Viện kiểm sát có thẩm quyền để

thực hành quyền công tố thì việc truy tố, xét xử kịp thời và phục vụ

các yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm ở địa phương.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các quy định về uỷ quyền

thực hành quyền công tố đang xuất hiện một số vướng mắc, bất

cập: Thứ nhất là chất lượng một sô/hồ sơ các vụ án chưa cao. Nhiều

vụ án bị Viện kiểm sát hoặc Toà án cấp dưới trả lại vì thiếu chứng

cứ và còn nhiều mâu thuẫn chưa được giải quyết, thậm chí có vụ

bị Toà án cấp dưới tuyên không phạm tội; Thứ hai là thời gian điều

tra, truy tô, xét xử bị kéo dài. Do việc vụ án bị trả đi, trả lại nhiều

lần nên có vụ án phải kéo dài, có vụ án quá thời hạn theo quy định

của pháp luật. Nguyên nhân của tình trạng trên đây có nhiều,

nhưng nguyên nhân chủ yếu và quan trọng là do trách nhiệm của

các cấp kiểm sát trong việc giải quyết vụ án không rõ ràng. Có

Kiểm sát viên làm nhiệm vụ trực tiếp kiểm sát điều tra cho đây là

vụ án sẽ được xét xử ở cấp dưới nên trách nhiệm thực hành quyền

công tố thuộc Kiểm sát viên cấp dưới. Vì vậy, quá trình kiểm sát

điều tra vụ án không bám sát hoạt động điều tra, nghiên cứu hồ sơ

không kỹ. . . Trong khi đó, Kiểm sát viên cấp dưới được uỷ quyền lại

cho rằng chất lượng hồ sơ như thế nào là trách nhiệm của Viện

kiểm sát cấp trên nên không chịu khó nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án

để thực hành quyền công tố tại toà. Như vậy, cấp nào cũng cho

rằng trách nhiệm chính về đảm bảo chứng cứ không phải mình mà

do người khác. Vì vậy, trong thực tiễn đã có trường hợp khi tranh

luận, đối đáp với Luật sư, có Kiểm sát viên đã phát biểu đây là vụ

án do cấp trên uỷ quyền truy tố nên quan điểm của Viện kiểm sát

vẫn giữ nguyên như như bản cáo trạng đã truy tố.

Ví dụ, Vụ án Lý Lầu Sáng cùng đồng bọn phạm tội

buôn lậu tại thành phố H. Quá trình xét xử đến giai đoạn

tranh luận, Luật sư bào chữa cho thân chủ đưa ra ý kiến

về việc hành vi của bị cáo không phạm tội như Viện kiểm

sát đã truy tố. Luật sư đã viện dẫn các tài liệu có trong hồ

sơ vụ án để chứng minh quan điểm của mình về việc bị

cáo không phạm tội. Đến lượt đối đáp của mình, vì không

nắm vững hồ sơ vụ án nên Kiểm sát viên không đối đáp

với các ý kiến của luật sư nêu ra mà trả lời vụ án này đã

có sự chỉ đạo chặt chẽ của Viện kiểm sát cấp trên, nên

quan điểm của Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên như cáo

trạng đã truy tốn).

Từ thực tiễn công tác thực hành quyền công tố cho thấy rằng:

việc nghiên cứu, xác định cơ chế uỷ quyền để làm rõ trách nhiệm

của Viện kiểm sát các cấp nói chung và của Kiểm sát viên nói riêng

trong việc giải quyết vụ án phải được rõ ràng, cụ thể là cần thiết.

Kinh nghiệm Ở Cộng hoà Liên bang Đức, khi vụ án được kết thúc

điều tra chuyển về Viện kiểm sát cấp dưới để truy tố xét xử, thì

Kiểm sát viên chỉ đạo điều tra vụ án đó phải trực tiếp thực hành

quyền công tố tại Toà án cấp dưới. Với cơ chế này đòi hỏi các Kiểm

sát viên phải nâng cao trách nhiệm trong việc đảm bảo chứng cứ

của vụ án phải đầy đủ và khách quan. Nghĩa là Kiểm sát viên làm

nhiệm vụ trực tiếp kiểm sát điều tra thì đồng thời trực tiếp thực

hành quyền công tố tại Toà, như vậy sẽ nâng cao được trách nhiệm

của các Kiểm sát viên. Kinh nghiệm về tổ chức bộ máy và hoạt

động của Viện công tố Cộng hoà Liên bang Đức cần được nghiên

cứu để vận dụng trong việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện

kiểm sát Việt Nam, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.

Theo Nghị quyết số 509/2004/NQ-UBTVQHII ngày 29.4.2004

của UBTVQH 1 1 hướng dẫn thi hành Bộ luật TTH S thì đến ngày

01.7.2009 các Toà án cấp huyện, Toà án quân sự khu vực được thực

hiện thẩm quyền xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của

Bộ luật TTHS. Như vậy, từ nay đến năm 2009 phần lớn các vụ án

đều được phân cấp điều tra, truy tố, xét xử cho cấp huyện. Theo dự

đoán của các cơ quan chuyên môn, khi tất cả các Toà án cấp huyện

được thực hiện thẩm quyền mới theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật

TTHS thì có khoảng 70% số khung hình phạt của Bộ luật Hình sự

năm 1999 thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp huyện. Vì vậy,

các cơ quan tư pháp trung ương cần nghiên cứu chỉ đạo trực tiếp

điều tra những trường hợp nào mà cấp dưới không thể điều tra

được còn lại nên phân cấp cho cấp dưới điều tra, truy tố. Cấp trung

ương nên tập trung nghiên cứu, xây dựng thể chế, hướng dẫn, chỉ

đạo, kiểm tra cấp dưới trong việc áp dụng pháp luật.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên đây, các Kiểm sát viên cần

quán triệt và thực hiện tốt các kỹ năng thực hành quyền công tố

như: nghiên cứu hồ sơ vụ án, báo cáo án, xây dựng và đọc bản cáo

trạng, tham gia xét hỏi, trình bày bản luận tội, đối đáp với các ý

kiến của luật sư. Đây là những kỹ năng nghiệp vụ vô cùng quan

trọng và mang tính bắt buộc đòi hỏi các Kiểm sát viên phải nghiên

cứu để vận dụng trong hoạt động thực tiễn thực hành quyền công

tố tại phiên toà hình sự.

                                           CHƯƠNG III

                        KỸ NĂNG NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN

                   CHUẨN BỊ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TÓ

1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN

Nghiên cứu hồ sơ vụ án là khâu công tác nghiệp vụ quan trọng

và mang tính chất quyết định của việc thực hành quyền công tố tại

phiên toà. Nghiên cứu hồ sơ vụ án là hoạt động nghiệp vụ đòi hỏi

Kiểm sát viên phải có phương pháp nghiên cứu khoa học. Có thể

vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Thứ nhất là phương pháp nghiên cứu toàn diện vụ án. Những

tài liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án thể hiện tính

khách quan của hoạt động điều tra vụ án. Mỗi tài liệu, đồ vật, vật

chứng được thu thập trong hồ sơ là những chứng cứ không những

khẳng định kết quả của hoạt động điều tra mà còn nói lên tính xác

thực, khách quan của các tình tiết của vụ án. Do đó, về nguyên tắc

các tài liệu có trong hồ sơ phải được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng

để xem các tài liệu ấy có nội dung gì và có ý nghĩa như thế nào

trong việc xem xét đánh giá các tình tiết của vụ án.

Phương pháp này đòi hỏi Kiểm sát viên không được chủ quan,

chỉ tập trung nghiên cứu những tài liệu mà mình cho đó là có ý

nghĩa làm chứng cứ còn các tài liệu khác thì bỏ qua. Các tài liệu

muốn trở thành chứng cứ (buộc tội hoặc gỡ tội) đều có mối quan hệ

hữu cơ với nhau. Không thể xem xét các tài liệu một cách biệt lập,

tách rời. Nhiều trường hợp dù chỉ với những chi tiết rất nhỏ tưởng

chừng không có ý nghĩa gì nhưng chính các tình tiết đó lại có ý

nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đánh giá tính có căn cứ của vụ

án. Thực tiễn đã có trường hợp quá tin vào lời khai nhận tội của bị

cáo, không chú ý nghiên cứu một cách toàn diện các tài liệu khác

nên không phát hiện ra các mâu thuẫn, dẫn đến việc đánh giá sai

lệch vụ án.

Ví dụ, Vụ án Lê Văn Mạnh phạm tội giết người, hiếp

dâm Ở tỉnh T

Theo Mạnh khai. khi gặp một minh cháu Hoàng Thị

Loan đang ở ruộng mía, Mạnh đã dùng tay bịt mồm, dùng

tay đấm nhiều cái vào mặt làm cháu Loan ngất. Sau đó

Mạnh đã hiếp dâm cháu Loan. Khi cháu Loan chống cự thì

Mạnh đã đập đầu cháu Loan xuống đất. Sau đó Mạnh đã

bế xác cháu Loan qua sông Cầu Chầy để dấu. Mạnh khai

khi bế cháu Loan qua sông để dấu nhưng vẫn cho đầu

cháu Loan trên mặt nước. Nhưng sau đó Mạnh lại chối tội.

Trong vụ án này lúc đầu Mạnh nhận tội nhưng sau đó lại

phủ nhận toàn bộ lời khai trước đó của mình. Tuy nhiên, lời

nhận tội của Mạnh có nhiều mâu thuẫn, trong đó có nội

dung Kiểm sát viên chưa nghiên cứu kỹ. Con sông Cầu

Chầy ấy có chiều rộng và độ sâu như thế nào? Tại sao

Mạnh bế cháu Loan qua sông để dấu xác mà lại không

dìm xác xuống mặt nước? Mạnh khai vác cháu Loan trên

mặt nước nhưng giám định tử thi lại thấy có nước...Nghĩa

là khi nghiên cứu vụ án này Kiểm sát viên quá tin vào lời

nhận tội của bị cáo, chưa xem xét toàn diện các tình tiết

khác (con sông) để phát hiện các mâu thuẫn trong lời khai

của bị can (1)

(1) Nguồn hồ sơ vụ án tại VKSNDTC

- Thứ hai là phương pháp hệ thông, lôgíc. Tội phạm là hiện

tượng xã hội, sự tồn tại của nó cũng tuân theo những quy luật nhất

định. Một hành vi phạm tội bao giờ cũng để lại dấu vết và sự vận

động của nó đều tuân theo những không gian, thời gian nhất định.

Trong các tài liệu của hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên cần phân loại các

tài liệu theo từng tập (nhóm) hợp lý phù hợp với chủ đề nghiên cứu,

trên cơ sở đó cần tính toán nghiên cứu sự kiện nào có trước, sự kiện

nào có sau theo một trật tự nhất định. Kiểm sát viên cần hệ thống

các tài liệu, chứng cứ để chứng minh các sự kiện phạm tội, qua đó

bằng hoạt động tư duy, có thể dựng lại được toàn bộ vụ án diễn ra

trong thực tiễn như thế nào.

Thông thường, hồ sơ vụ án đã được cơ quan điều tra sắp xếp

và đánh số, tuy nhiên khi nghiên cứu, Kiểm sát viên cần kết hợp

phân thành các tập: tập hồ sơ về thủ tục tố tụng (bao gồm khởi tố,

các biện pháp ngăn chặn, khám xét...); tập hồ sơ về kết quả khám

nghiệm (khám nghiệm hiện trường, tử thi, sơ đồ hiện trường, thực

nghiệm điều tra...); tập hồ sơ về ý kiến các nhà chuyên môn, kỹ

thuật (giám định vết thương, dấu vân tay, nhóm máu, giám định

thiệt hại, chất ma tuý, tốc độ xe...), tập hồ sơ về biên bản ghi lời

khai (bị can, người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị

đơn dân sự...); các tài liệu kết thúc điều tra (bản kết luận điều tra,

các yêu cầu điều tra); các tài liệu về nhân thân bị can; các tài liệu

về thu giữ vật chứng, tài sản kê biên . . . Các tài liệu trên đây Cơ

quan điều tra đã sắp xếp trong hồ sơ nhưng Kiểm sát viên cần

nghiên cứu theo các chủ đề, trật tự nhất định, như vậy không

những giúp cho Kiểm sát viên không bỏ sót tài liệu mà còn tạo cho

Kiểm sát viên nắm được vụ án một cách có hệ thống, lôgíc.

- Thứ ba là phương pháp so sánh, tổng hợp. Hồ sơ vụ án gồm

nhiều tài liệu như các tài liệu về lời khai của bị can, người bị hại,

người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám

nghiệm tử thi v.v. trong đó có tài liệu mâu thuẫn với nhau như các

lời khai của người làm chứng mâu thuẫn với các lời khai của bị can

hoặc lời khai của bị can mâu thuẫn với các tài liệu khác như biên

bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi v.v. Vì vậy,

khi nghiên cứu các tài liệu này Kiểm sát viên cần đối chiếu, so

sánh để loại trừ những nội dung nào không hợp lý, chắt lọc các nội

dung hợp lý để phân tích, đánh giá một cách tổng hợp về các tình

tiết của vụ án. Phương pháp này đòi hỏi Kiểm sát viên không

những nghiên cứu một cách toàn diện, lôgíc mà còn biết so sánh,

tổng hợp để xác định các tình tiết có thực của vụ án, loại trừ những

tình tiết không có thực của vụ án.

Ví dụ, Vụ án Lê Bá Mai phạm tội hiếp dâm và giết cháu

út ở xã tỉnh B

So sánh lời khai nhận tội của bị can Mai với các lời khai

người làm chứng, với biên bản khám nghiệm hiện trường

thi có nhiều mâu thuẫn. Mai khai dùng xe máy chở cháu

út đi vào vườn mít, trên xe chỉ có út và Mai, nhưng cháu

Hằng (người cùng út đang mót củ đậu) lại khai là trên xe

máy của Mai còn có bình xịt rầy màu xanh, ghi đông có

đeo bình đựng đá màu đỏ. Mai khai sau khi giết và hiếp út,

Mai đã lấy quần lửng màu trắng của út xiết quanh cổ nạn

nhân, nhưng biên bản khám nghiệm tử thi ghi: xiết quanh

cổ nạn nhân là quần thun ống dài, trong lúc đó cháu Hằng

lại khai út mặc quần lửng màu xanh. Như vậy, khi nghiên

cứu vụ án này Kiểm sát viên cần so sánh giữa các tài liệu

xem nội dung nào hợp lý, nội dung nào mâu thuẫn, cụ thể

là phải bám sát biên bản khám nghiệm hiện trường để so

sánh với các tài liệu khác xem lời khai nào phù hợp, lời

khai nào mâu thuẫn với hiện trường. Qua đó kết luận lời

khai nào có thể trở thành chứng cứ của vụ án(1).

Thứ tư là phương pháp ghi chép hồ sơ, tài liệu . Thực tiễn điều

tra, truy tố, xét xử cho thấy trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ

án, Kiểm sát viên nào ghi chép đầy đủ các tài liệu, chứng cứ của

vụ án thì sẽ nắm chắc các tình tiết của hồ sơ vụ án. Bởi vì, việc ghi

chép đó sẽ làm cho Kiểm sát viên có quá trình thâm nhập, suy nghĩ

vụ án một cách sâu sắc và liên tục hơn. Phương pháp này đòi hỏi

khi nghiên cứu hồ sơ Kiểm sát viên phải có tinh thần chịu khó, cẩn

thận và lòng đam mê nghề nghiệp. Ngày nay trong bối cảnh các

phương tiện làm việc ngày càng được trang bị hiện đại như máy vi

tính, máy phô tô... đã đưa lại nhiều thuận tiện trong công tác văn

Nguồn hồ sơ vụ án tại VKSNDTC.

phòng. Tuy nhiên, khi nghiên cứu hồ sơ mà chỉ dựa chủ yếu vào

phô tô tài liệu thì chính phương tiện đó đã tạo cho con người cách

làm việc lười suy nghĩ. Do vậy, đã có trường hợp khi báo cáo án,

Kiểm sát viên tuy có cả một bộ hồ sơ phô tô rất dày nhưng khi hỏi

các tình tiết của vụ án thể hiện trong hồ sơ như thế nào thì không

giải trình được

Ví dụ, Vụ án Lê Văn Mạnh phạm tội hiếp dâm, giết

người trên đây, với nhiều tình tiết nghiêm trọng theo Điều

48 BLHS như. phạm tội có tính chất đê hèn; cố tình thực

hiện tội phạm đến cùng; phạm tội đối với trẻ em; phạm tội

gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. . . thì có thể bị hình phạt

cao nhất là tử hình. Tuy nhiên, khi nghiên cứu hồ sơ kiểm

sát thấy việc ghi chép, cập nhật tài liệu rát đơn giản chưa

phản ảnh hết các tài liệu của hồ sơ vụ án. Vì cách ghi chép

sơ sài nên khi nghiên cứu, tổng hợp để đánh giá chứng cứ,

Kiểm sát viên đã không phát hiện những mâu thuẫn của hồ

sơ vụ án. Vì vậy việc báo cáo đề xuất xử lý vụ án của Kiểm

sát viên chưa chặt chẽ, thiếu cơôsớ pháp lý vững chắ~1).

                       

II. KỸ NĂNG NGHIÊN CỨU CÁC THỦ TỤC TỐ TỤNG

1. Kiểm tra thủ tục giao, nhận hồ sơ và vật chứng vụ án

Khi được phân công nghiên cứu hồ sơ vụ án, việc đầu tiên là

Kiểm sát viên phải kiểm tra chặt chẽ thủ tục giao nhận hồ sơ và

vật chứng vụ án (nếu hồ sơ vụ án đã có người khác nhận thì cần

nghiên cứu biên bản giao nhận hồ sơ vụ án) giữa cơ quan điều tra

và Viện kiểm sát như thế nào. Sau khi nghiên cứu kỹ biên bản bàn

giao hồ sơ, Kiểm sát viên phải đối chiếu với từng bút lục của hồ sơ

vụ án để xem có thiếu bút lục nào không.

Theo Thông tư liên tịch số 05/ 2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP

thì hồ sơ vụ án được đánh số theo trật tự nhất định. Theo Điều 20

của Thông tư này thì " để tránh xảy ra mất mát, thất lạc thì từng

trang tài liệu trong các hồ sơ này phải được đóng dấu bút lục của

Cơ quan điều tra và kèm theo bản kê đầy đủ tên tài liệu, sôi trang

từng tài liệu và lưu trong hồ sơ vụ án". Do vậy, khi nhận hồ sơ và

vật chứng vụ án, Kiểm sát viên cần kiểm tra chặt chẽ hồ sơ và vật

chứng vụ án, bảo đảm hồ sơ có đủ tài liệu đã liệt kê, đủ và đúng

vật chứng của vụ án (tránh nhầm lẫn vật chứng vụ án này lại giao

tại hồ sơ vụ án khác). Kiểm sát viên phải kiểm tra từng trang, tập

hồ sơ, đối chiếu với bảng kê tài liệu có trong hồ sơ để xem xét nếu

đủ và đúng thì nhận, nếu không đủ thì không nhận. Nếu nhận hồ

sơ thì Kiểm sát viên phải vào sổ thụ lý và ghi ngày nhận hồ sơ vào

bìa hồ sơ. Đây là công việc hành chính tư pháp nhưng rất quan

trọng. Thực tiễn đã có nhiều trường hợp khi hồ sơ chuyển Toà án

hoặc khi luật sư nghiên cứu hồ sơ mới phát hiện thiếu những tài

liệu, chứng cứ quan trọng. Có trường hợp mất bút lục biên bản hỏi

cung bị can, biên bản phạm pháp quả tang, biên bản thu giữ tang

vật v v Đây lại là những tài liệu rất quan trọng, liên quan đến việc

đánh giá chứng cứ của vụ án. Vì khi nhận hồ sơ giữa Kiểm sát viên

với Cơ quan điều tra tuy có ký biên bản giao nhận hồ sơ nhưng do

cẩu thả nên không đọc bút lục. Vậy các tài liệu, chứng cứ đó thất

lạc ở đâu và lúc nào, câu hỏi đó cuối cùng dành cho Kiểm sát viên

phải trả lời, bởi vì chính Kiểm sát viên là người nhận hồ sơ nên

phải chịu trách nhiệm về việc thất lạc, mất mát đó. Do vậy, nếu

phát hiện hồ sơ thiếu bút lục thì phải trả hồ sơ để yêu cầu cơ quan

điều tra khắc phục. Việc đọc, đếm từng bút lục để kiểm tra hồ sơ

càng cẩn trọng bao nhiêu thì bảo đảm tính chính xác của hồ sơ bấy

nhiêu. Nếu không kiểm tra chặt chẽ về tính đầy đủ, chuẩn xác của

hồ sơ thì rất dễ dẫn đến có những sai lầm mà thực tiễn đã cho

chúng ta nhiều bài học đắt giá.

2. Kỹ năng nghiên cứu các thủ tục tố tụng của hồ sơ vụ án

Thủ tục tố tụng của hồ sơ vụ án trong giai đoạn này là các quyết

định, hành vi tố tụng của cơ quan và người có thẩm quyền tiến

hành tố tụng. Quyết định tố tụng trong giai đoạn điều tra là quyết

định được ban hành theo quy định của Bộ luật TTHS của Cơ quan

điều tra do Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ban hành,

của Viện kiểm sát do Viện trưởng, Phó Viện trưởng ban hành.

Hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra là hành vi được thực hiện

trong hoạt động tố tụng của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng, Điều tra

viên Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên

Viện kiểm sát. Các quyết định và hành vi những đó bao gồm:

a- Các quyết đinh tô/ tụng gồm: Bắt bị can để tạm giam, bắt

người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang

hoặc đang truy nã, tạm giữ, tạm giam, gia hạn tạm giữ, tạm giam,

cấm đi khỏi nơi cư trú, huỷ bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn,

khởi tố vụ án, khởi tôm can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi

tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, uỷ thác điều tra, triệu tập bị can,

khám người, chỗ ở, chỗ làm việc, tạm giữ đồ vật, kê biên tài sản,

trưng cầu giám định, tạm đình chỉ điều tra, truy nã bị can, kết

thúc điều tra, đề nghị truy tố, đình chỉ điều tra v.v.

b- Các hành vi tôi tụng đó gồm: Hỏi cung bị can, lấy lời khai

người làm chứng, đối chất, nhận dạng, khám nghiệm hiện trường,

khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm

điều tra, nhận dạng, v.v.

c- Các tài liệu về nhân thân bị can. Lý lịch bị can, hoàn cảnh

gia đình, tiền án, tiền sự, gia đình có công với cách mạng không?

Khi nghiên cứu các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan,

người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Kiểm sát viên chú ý kiểm

tra tính có căn cứ và hợp pháp của các quyết định và hành vi tố

tụng đó.

d- Kiểm tra tính hợp pháp. Tính hợp pháp của các quyết định,

hành vi tố tụng là nghiên cứu, xem xét các quyết định, hành vi tố

tụng ấy có được ban hành đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và

thời hạn không? Người ra quyết định là ai, thời hạn đã đúng chưa?

người có nghĩa vụ thi hành đã được nhận quyết định đó và đã được

giải thích quyền và nghĩa vụ chưa? (Ví dụ, theo khoản 1 Điều 104

Bộ luật TTHS thì quyết định khởi tố vụ án do Thủ trưởng Cơ quan

điều tra ban hành. Phó thủ trưởng chỉ được ký quyết định khởi tố

vụ án khi có sự uỷ quyền của Thủ trưởng Cơ quan điều tra, nếu

không có uỷ quyền mà Phó Thủ trưởng ký quyết định khởi tố vụ án

là vi phạm tố tụng. Hoặc là theo khoản 4 Điều 126 Bộ luật TTHS

thì quyết định khởi tôm can phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê

chuẩn, nếu chưa được Viện kiểm sát phê chuẩn thì quyết định khởi

tố bị can đó chưa có hiệu lực). Kiểm tra thời hạn thực hiện các

quyết định và hành vi tố tụng như thế nào, có quyết định nào hết

hạn chưa, ví dụ, khi kiểm tra thời hạn tạm giam để điều tra Kiểm

sát viên phải căn cứ vào Điều 120 Bộ luật TTHS để xem xét việc

chấp hành thời hạn tạm giam để điều tra như vậy đã chung với

pháp luật chưa? khoản 1 Điều 120 Bộ luật TTHS quy định: "Thời

hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội

phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm

nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm

trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng". Nghĩa là phải kiểm tra

kỹ xem các quyết định, hành vi tố tụng đó có vi phạm gì không so

với quy định của pháp luật. Nếu vi phạm nào có thể khắc phục

ngay được thì yêu cầu Điều tra viên khắc phục. Ví dụ, biên bản hỏi

cung chưa có chữ ký xác nhận của Điều tra viên thì yêu cầu Điều

tra viên ký xác nhận. Nếu những vi phạm đó có ảnh hưởng đến việc

xác định sự thật vụ án thì nhất thiết phải trả hồ sơ để yêu cầu điều

tra bổ sung. Ví dụ, hồ sơ thiếu biên bản xác minh địa phương về

tuổi của nạn nhân... Kiểm sát viên cần ghi chép các vi phạm về tố

tụng để tổng hợp yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục.

đ- Kiểm tra tính có căn cứ của các quyết định và hành vi hành

chính. Về nội dung này Kiểm sát viên cần nghiên cứu xem các

quyết định và hành vi tố tụng đó đã bảo đảm đúng căn cứ ban

hành chưa? Việc viện dẫn điều luật để áp dụng khi ra các quyết

định và hành vi những ấy đã phù hợp với việc giải quyết vụ án hay

chưa? Ví dụ, khi Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ vụ án thì

Kiểm sát viên cần chú ý nghiên cứu xem căn cứ để ra quyết định

đình chỉ như vậy đã đúng chưa? Nếu bị can có hành vi cố ý gây

thương tích nhưng người bị hại rút yêu cầu khởi tố mà Cơ quan

điều tra căn cứ khoản 1 Điều 25 BLHS để đình chỉ là sai. Trong

trường hợp đó phải căn cứ khoản 2 Điều 105 Bộ luật TTHS để đình

chỉ. Nếu phát hiện việc vận dụng pháp luật sai thì Kiểm sát viên

yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục. Đặc biệt, Kiểm sát viên hết

sức chú ý nghiên cứu, xem xét các quyết định như: khởi tố bị can,

truy nã bị can, lệnh tạm giam, kết luận điều tra, kết luận giám

định (liên quan đến phần hành vi phạm tội của bị can), lệnh bắt...

đã được tống đạt cho bị can chưa? Thực tiễn đã có trường hợp tuy

cơ quan tiến hành tố tụng ban hành các quyết định (như nêu trên

đây) nhưng "quên" không tống đạt cho bị can. Đây là vi phạm

nghiêm trọng thủ tục tố tụng cần phải chấn chỉnh kịp thời.

Ví dụ, Quyết định khởi tố bị can và truy nã "bỏ quên'

gần 15 năm. Năm 1990, sau khi có đơn tố giác, Cơ quan

điều tra đã tiến hành lấy lời khai đối với Lê Thị Minh

Nguyệt (Giám đốc Xí nghiệp chế biến lâm sản thanh niên)

và Võ Minh Phụng kế: toán và ngày 04. 5. 1 992 khởi tố bị

can đối với Nguyệt về tội tham Ô và Phụng về tội thiếu

trách nhiệm. Cùng trong ngày, Cơ quan điều tra phát lệnh

truy nã trên toàn quốc đối với Nguyệt và Phụng. Nguyệt có

hành vi vay Ngân hàng 30 triệu đồng, sau đó Nguyệt còn

vay tiếp 65 triệu đồng. Phụng có hành vi không lập Sổ

sách chứng từ để Nguyệt chiếm đoạt số tiền trên. Sau gần

một năm khởi tố vụ án, Cơ quan điều tra mới khởi tố bị can,

nhưng không áp dụng biện pháp ngăn chặn mà chỉ có

Quyết định truy nã ký cùng ngày với Quyết định khởi tố vụ

án. Theo quy đinh tại Điều 161 Bộ luật TTHS thi Quyết

định truy nã chỉ được thực hiện khi bị can đã bỏ trốn hoặc

không biết bị can đang ở đâu. Thế nhưng trong vụ án này

bi can bị truy nã, nhưng vào các ngày 13.3. 1992,

15.6.1992, 14.7.1992, Cơ quan điều tra vẫn tiến hành lấy

lời khai các bị can. Như vậy, các bị can không hề bỏ trốn.

Như vậy, khi ra Quyết định khởi tố, Cơ quan điều tra không

tống đạt cho họ. Đến năm 2006 mới tiến hành thủ tục này,

còn Quyết định truy nã thì sau khi ban hành không ai biết,

từ chính quyền địa phương đến cơ quan chủ quản cũng

không ai biết. Sau đó, Nguyệt và Phụng vẫn được làm hộ

chiếu đi du lịch và được làm chứng minh thư nhân dân.

Năm 2006, Cơ quan điều tra mới tống đạt Quyết định

khởi tố bị can Nguyệt và Phụng và ngày 19.6.2007, hai bị

cáo này mới bị đưa ra xét xử. Vì những vi phạm nghiêm

trọng trên đây nên vụ án này bị Toà án trở lại để yêu cầu

điều tra bổ sung(1).

3. Kỹ năng nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ của hồ sơ vụ án

a- Kỹ năng nghiên cứu bản kết luận điều tra

Bản kết luận điều tra là văn bản xác nhận kết quả của quá

trình hoạt động điều tra vụ án, trong đó nêu rõ diễn biến của hành

vi phạm tội, các chứng cứ chứng minh tội phạm, nhân thân bị can

và quan điểm đề xuất xử lý vụ án của cơ quan điều tra. Trong bản

kết luận điều tra ghi rõ các biện pháp ngăn chặn, vật chứng đã thu

giữ, những yêu cầu bồi thường... Do vậy, Kiểm sát viên cần nghiên

cứu kỹ để nắm chắc nội dung bản kết luận điều tra: vụ án diễn ra

như thế nào, thời gian, địa điểm nơi xảy ra tội phạm, hành vi phạm

tội cụ thể của bị can, hậu quả, động cơ, mục đích phạm tội... họ tên,

tuổi, nhân thân, địa chỉ bị can, quan điểm xử lý vụ án của Cơ quan

(1) Báo pháp luật Việt Nam ngày 02.07.2007

điều tra như thế nào, những vấn đề nào đã được tách ra để điều tra

tiếp? Việc tách ra như vậy có đúng với các tình tiết của vụ án

không, thời hạn điều tra như thế nào, việc đình chỉ điều tra như

vậy đã đúng chưa?...Nắm được nội dung cơ bản vụ án và các tình

tiết của hành vi phạm tội thể hiện trong bản kết luận điều tra sẽ

giúp cho Kiểm sát viên có những cơ sở để đánh giá bước đầu về tính

có căn cứ, tính hợp pháp khi nghiên cứu các tài liệu tiếp theo.

Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ các nội dung về đề nghị truy

tố, xem bản kết luận điều tra đã nêu rõ các chứng cứ để chứng

minh tội phạm chưa? Đã nêu rõ lý do và căn cứ đề nghị truy tố như

thế nào? Đây là những nội dung nói lên tính có căn cứ của bản kết

luận điều tra cần phải được nghiên cứu kỹ. Thực tiễn đã xảy ra

trường hợp tuy kết luận điều tra có đề nghị truy tố bị can nhưng

bản kết luận điều tra không nêu được lý do và các chứng cứ chứng

minh. Trong trường hợp như vậy, Kiểm sát viên yêu cầu Cơ quan

điều tra khắc phục .

Ví dụ, Vụ án Lê Bá Mai phạm tội giết người, hiếp dâm

ớ tỉnh B

Theo bản kết luận điều tra có nội dung:... Mai đòi giao

cấu nhưng út không đồng ý và dọa sẽ nói cho bố mẹ biết.

Mai đã dùng tay phải chặt mạnh vào gáy cháu út làm cháu

ngã xuống bất tỉnh. Sau đó Mai giao cấu với út. Giao cấu

xong, Mai cởi quần út, lật úp người út, ngồi lên lưng út

cầm ống quần luồn qua cổ út, cột hai ống quần với nhau

(thắt hai nút). .. Từ các nội dung này của bản kết luận điều

tra Kiểm sát viên cần chú ý khi nghiên cứu các tài liệu của

hổ sơ vụ án, đối chiếu với lời khai xem bị can trình bày về

hành vi này như thế nào? Bi can khai dùng tay chặt ra

sao? Nạn nhân chống cự và cách buộc thắt nút quần như

thế nào. Lời khai đó có phù hợp với nội dung bản kết luận

điều tra và có phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện

trường, khám nghiệm tử thi hay không?(1)

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 163 Bộ luật TTHS thì bản kết

luận có nêu những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án của cơ quan điều

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

tra làm cơ sở cho việc truy tố của Viện kiểm sát, tuy nhiên có

trường hợp, căn cứ bản kết luận điều tra, nhận thức giữa cơ quan

điều tra và Viện kiểm sát có sự không thống nhất về tính chất

nghiêm trọng của hành vi phạm tội. Bởi lẽ, căn cứ quy định của

pháp luật không bắt buộc cơ quan điều tra phải nêu rõ tội danh và

điều, khoản được áp dụng. Vì vậy, khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật

TTHS cần nghiên cứu, bổ sung khoản 1 Điều 163 Bộ luật TTHS

theo hướng: "phần kết luận của bản kết luận điều tra ghi rõ tội

danh và điều khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng".

b- Kỹ năng nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can

Biên bản hỏi cung bị can là văn bản không những xác định kết

quả cụ thể của hoạt động điều tra mà còn là tài liệu, chứng cứ

nhằm làm rõ sự thật về hành vi phạm tội của bị can và đồng bọn.

Về lý thuyết, lời khai nhận tội của bị can có ý nghĩa quan trọng

không những đối với việc đánh giá các tình tiết của vụ án mà qua

đó cho ta thấy được thái độ khai báo của bị can về hành vi phạm

tội của mình như thế nào. Theo quy định tại Điều 131 Bộ luật

TTHS thì việc hỏi cung bị can do Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên

tiến hành. Do vậy, lời khai của bị can có chính xác hay không tuỳ

thuộc vào kỹ năng hỏi cung của Điều tra viên, Kiểm sát viên và ý

thức khai báo của bị can. Vì vậy, khi nghiên cứu lời khai của bị

can, Kiểm sát viên cần lưu ý các vấn đề sau đây:

Thứ nhất, nghiên cứu tính hợp pháp của biên bản hỏi cung bị

can. Biên bản hỏi cung bị can dù có giá trị chứng minh tốt như thế

nào nhưng nếu không được lập theo đúng các trình tự, thủ tục theo

quy định của pháp luật thì biên bản đó cũng không được coi là hợp

pháp. Theo BỘ luật TTHS, việc hỏi cung bị can được quy định hết

sức chặt chẽ như: thời gian, địa điểm hỏi cung, những điều nghiêm

cấm khi hỏi cung (Điều 131 Bộ luật TTHS). Biên bản hỏi cung bị

can phải được lập theo nội dung đã được quy định (Điều 132 Bộ

luật TTHS). Trên cơ sở các quy định của pháp luật, Kiểm sát viên

cần đối chiếu để xem xét, đánh giá biên bản hỏi cung ấy có phù hợp

với các quy định của pháp luật hay không. Nghiên cứu biên bản hỏi

cung bị can, Kiểm sát viên phải xem ai là người hỏi cung, đơn vị,

chức vụ; khi hỏi cung đã giải thích quyền và nghĩa vụ của bị can

theo quy định tại Điều 49 Bộ luật TTHS chưa; thời gian bắt đầu và

kết thúc việc hỏi cung, nếu hỏi vào ban đêm thì người hỏi cung có

ghi rõ lý do không; nếu biên bản có nhiều trang thì mỗi trang đã

có chữ ký của bị can chưa, nếu hỏi nhiều lần thì mỗi lần hỏi có ghi

rõ lần thứ mấy không? Các câu hỏi và trả lời đã được ghi đầy đủ

chưa, nếu cuộc hỏi cung có người bào chữa, phiên dịch hoặc người

đại diện dự thì người hỏi cung đã giải thích quyền, nghĩa vụ cho họ

như thế nào, cuối bản cung người hỏi cung, bị can và những người

tham gia hỏi cung đã ký vào biên bản như thế nào; trong trường

hợp người bào chữa hỏi bị can thì Kiểm sát viên cần kiểm tra xem

biên bản hỏi cung bị can đã ghi đầy đủ chưa? Thông thường cuối

bản cung có dòng chữ viết thêm với nội dung: bị can đã được nghe

người hỏi cung đọc biên bản cho nghe (hoặc tự đọc) do ai viết và

việc ký xác nhận như thế nào. Trong trường hợp bị can tự viết lời

khai thì cán bộ hỏi và bị can ký xác nhận ra sao? Thực tế đã có

nhiều trường hợp việc viết thêm không được ký xác nhận rõ ràng

nên phát sinh nhiều khiếu nại phức tạp. Trường hợp có băng ghi

âm cuộc hỏi cung thì người hỏi cung có thông báo cho bị can biết

không; những chỗ viết thêm, gạch xoá đã được người hỏi cung và

bị can ký xác nhận như thế nào. Nếu Kiểm sát viên hỏi cung thì

biên bản hỏi cung cũng được kiểm tra kỹ như trên. Thiếu sót

thường xảy ra hiện nay là trong nhiều trường hợp biên bản hỏi

cung có chỗ viết thêm hoặc bị tẩy xoá, nhưng không được người hỏi

cung và bị can ký xác nhận vào bên lề nơi viết thêm hoặc tẩy xoá

đó Đây là những vi phạm không những dẫn tới có nhận định, đánh

giá không thống nhất về sự thật của vụ án mà còn làm phát sinh

những khiếu kiện phức tạp. Trong trường hợp có vi phạm Kiểm sát

viên cần ghi chép đầy đủ vào bản nghiên cứu của mình.

Ví dụ, Vụ án Nguyễn Trường Đại cố ý gây thương tích

ở tỉnh H

Vụ án có nội dung: Ngày 15.02.2004, tại khu vực Cầu

Nẩy tỉnh H, do mâu thuẫn về đất đai nên đã xảy ra vụ ẩu

đả giữa hai nhóm người, một bên (người bị hại) là anh

Trọng, anh Minh, anh Thịnh...và bên kia là các bị can

Nguyễn Trường Đại, Nguyễn Văn Nhân Nguyễn Đức

Thuận. Trong cuộc ẩu đả này Đại, Nhân, Thuận đã dùng

gậy xẻng, cuốc, a xít phụt vao anh Dũng, anh Hùng và anh

Thuần. Giám định thương tích: Anh Dũng bị tạt a xít thương

tích 66, 8%; Anh Thuần thương tích 25%; Anh Hùng thương

tích 15,4%. Điều đáng lưu ý trong vụ án này là nhiều bản

cung, lời khai của người làm chứng bị tẩy xoá, nhưng trong

đó có nhiều chỗ xoá không có chữ ký hoặc điểm chỉ của

người khai theo quy định của pháp luật. Đây là một trong

những nguyên nhân dẫn đến vụ án phải bị huỷ để điều tra

lại từ đầu gây ra những khiếu kiện bức xúc(1).

Thứ hai, nghiên cứu về tính có căn cứ của biên bản hỏi cung bị

can. Khi nghiên cứu tính có căn cứ của biên bản hỏi cung bị can

Kiểm sát viên cần lưu ý các nội dung sau đây: Tình hình bị can

khai báo như thét nào, bị can nhận tội, bị can không nhận tội, bị

can nhận tội sau đó phản cung.

- Tình hình bị can khai báo như thét nào? Kiểm sát viên cần

tổng hợp xem trong hồ sơ vụ án có bao nhiêu bản cung của bị can,

trong đó có bao nhiêu bản cung bị can nhận tội, bao nhiêu bản cung

không nhận tội, thời gian nhận tội và không nhận tội diễn ra như

thế nào. Đây là những tài liệu quan trọng để đối chiếu với các lời

khai của các bị can, người làm chứng khác, qua đó có đánh giá, xem

xét quá trình điều tra vụ án diễn ra khách quan như thế nào. Ví

dụ, trước khi bắt giam thì bị can không nhận tội, sau khi vào trại

giam thì nhận tội, đến khi Kiểm sát viên hỏi cung bị can lại không

nhận tội và khai rằng trong nhà tạm giam bị can bị bức cung. Từ

những thông tin này Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ các bản cung

để xem xét tính chính xác của bản cung và dự kiến sắp tới Kiểm

sát viên cần hỏi thêm nội dung gì để kết luận về tính có căn cứ của

các biên bản hỏi cung bị can.

-Trường hợp bị can nhận tội. Trong thực tiễn có nhiều trường

hợp bị can ngay từ đầu đã thành khẩn nhận tội, thậm chí tự thú

khai báo về hành vi phạm tội của mình trước đó. Tuy nhiên, Kiểm

sát viên cần kiểm tra xem việc nhận tội đó có nội dung như thế

nào? Các tình tiết đó đã được xác minh ra sao? Kết quả xác minh

có phù hợp với các chứng cứ khác chưa? Nếu các tình tiết của lời

khai nhận tội đó đã được xác minh và phù hợp với các chứng cứ

khác thì lời khai đó có cơ sở tin cậy. Đây là tài liệu, chứng cứ quan

trọng của hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên cần nghiên cứu, xem xét một

cách toàn diện trong mối quan hệ với các chứng cứ khác.

Ví dụ, Vụ án Nguyễn Đức Thuận giết bà Nguyễn Thị

Lan Ở thành phố H. Nguyễn Đức Thuận và Nguyễn Thị

Lan là hai anh em ruột. Do có mâu thuẫn từ trước về đất

đai thừa kế, sáng 1 1 . 10. 2005, tại bãi đất ven sông Hồng

thuộc phường Ngọc Thuỷ, bị can Thuận đã dùng gậy đánh

bà Nguyễn Thị Lan, sau đó dìm bà Lan xuống sông Hồng

dẫn đến bà Lan chết. Ngày 31.10.2005 bị can Thuận bị

bắt, tại bản khai đầu tiên bị can Thuận đã nhận tội giết bà

Nguyễn Thị Lan. Trong vụ án này, qua xác minh lời khai

nhận tội của bị can Thuận phù hợp với lời khai của những

người làm chứng khác. Lời khai của người làm chứng chị

Phạm Thị Hà là con bà Lan khai (bút lục số 65): Sáng

11. 10.2005, tôi và mẹ tôi đang làm đồng ngoài bãi thì bị

bác Thuận dùng gậy đuổi, đánh mẹ tôi. Lúc đó tôi cũng

cầm cuốc đánh bác Thuận, sau đó bác Thuận dìm mẹ tôi

xuống sông chết. Ngoài ra, lời khai của người làm chứng

ông Nguyễn Văn Hùng, ông Hùng khai tại bút lục số 76:

sáng 11. 10. 2005, tôi nghe tiếng kêu ngoài bãi, sau đó thấy

ông Thuận chạy từ ngoài sông về ướt hết áo, quần. Tôi hỏi

thì ông ấy bảo tao giết mẹ con nó rồi. Như vậy, lời khai

nhận tội giết bà Lan của bị can Thuận đã được xác minh

và qua xác minh thấy lời khai đó phù hợp với những người

làm chứng của chị Hà và ông Hùng. Lời khai nhận tội đó

là chứng cứ buộc tội bị can Thuận về tội giết người (1)

* Bị can chỉ nhận tội một phần, còn lại khai cho ngư khác.

Thực tiễn điều tra truy tố xét xử cho thấy, ngoài những lời khai

nhận tội thành khẩn, chính xác như trên cũng có nhiều trường hợp

bị can chỉ nhận tội một phần về mình, còn lại khai cho các bị can

khác. Lời khai loại này chiếm tương đối nhiều, nhất là đối với các

loại hành vi đồng phạm và các loại tội liên quan đến công tác quản

lý như tội cố ý làm trái Điều 164 BLHS, Tội thiếu trách nhiệm

Điều 285 BLHS, gây rối trật tự công cộng v.v.

* Bị can nhận tội nhưng sau đó phản cung. Thực tiễn bị can

nhận tội nhưng sau đó phản cung có nhiều nguyên nhân. Sau đây

chúng ta nghiên cứu từng trường hợp cụ thể.

- Trường hợp bị can nhận tội do mớm cung, nhục hình. Lời khai

loại này thường xảy ra đối với các vụ án không phải là phạm tội

quả tang mà là những vụ án được phát hiện do đấu tranh truy xét.

           (1)Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

Điều đáng lưu ý hiện nay là có trường hợp bản cung có dấu hiệu

mớm cung và nhục hình nhưng khi nghiên cứu Kiểm sát viên

không phát hiện được và trong thực tế việc phát hiện rất khó khăn.

Vì vậy, đối với các câu hỏi và trả lời nào đi vào giải quyết trực diện

vấn đề' có tính chất gợi mở thì Kiểm sát viên phải chú ý đọc thật

kỹ mới phát hiện được có mớm cung hay không. Theo khoản 4 Điều

131 BỘ luật TTHS thì "Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên bức cung

hoặc dùng nhục hình đối với bị can thì phải chịu trách nhiệm hình

sự theo quy định tại Điều 299 hoặc Điều 298 của Bộ luật Hình sụ '.

Do vậy, đòi hỏi Kiểm sát viên phải nghiên cứu rất kỹ, có thể đọc

nhiều lần mới phát hiện được những bất hợp ký của lời khai.

Ví dụ, Trong vụ án Lê Bá Mai phạm tội giết người, hiếp

dâm trên đây, bản cung ngày 16 . 1 1 . 2004 (bản cung đầu

tiên) Lê Bá Mai khai không nhận tội, nhưng sáng ngày

17.11.2004 Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm nghi,

đến chiều cùng ngày không hiểu sao bị can Lê Bá Mai lại

khai nhận tội như sau: trưa ngày 12. 11.2004 bi can lấy xe

máy đèo cháu út vào vườn mít hiếp dâm và sợ lộ nên đã

giết chết cháu út. Tuy nhiên, nếu nghiên cứu kỹ các bản

cung này thì thấy có những câu hỏi Điều tra viên đưa ra

mang tính chất mỏm cung rất rõ. Ví dụ, câu hỏi có nội

dung: "Bị can Mai chở thị út đi và thực hiện hành vi hiếp

dâm, giết người như thế nào? , hoặc câu hỏi .sau đây có

tính chất gợi mở cũng chứa đựng nội dung mớm cung: "Tại

sao khi hiếp dâm thị út xong thì bị can không đi về mà tiếp

tục thực hiện hành vi lấy quần giết chết thị út . Đây là

những lời khai mang tính mớm cung rất rõ nhưng Kiểm sát

viên không phát hiện được, dẫn đến khi bị can phản cung

thi Kiểm sát viên lúng túng và dẫn đến những sai lầm trong

việc đánh giá các tình tiết phạm tội của vụ án. Như vậy,

việc mớm cung đang xảy ra trong thực tế nhưng theo

khoản 4 Điều 131 Bộ luật TTHS thì nhà làm luật không đề

cập đến việc xử lý hành vi mớm cung. Vi vậy, chúng tôi đề

nghị sắp tới, khi sửa đổi bổ sung Bộ luật TTHS cần bổ

sung thêm cụm từ sau vào Điều 131: "Điều tra viên hoặc

Kiểm sát viên mà mớm cung, bức cung hoặc nhục hình đối

với bị can thì . . . "

- Trường hợp bị can nhận tội do có thư của bị can từ trong nhà

tạm giam gửi về cho gia đình hoặc lời nhận tội do người khác viết

hộ. Thực tiễn cho thấy, quá trình điều tra xuất hiện các tài liệu

như thư của bị can từ trại giam gửi về cho gia đình thông báo về

việc nhận tội với cơ quan điều tra hoặc bị can nhờ người cùng giam

viết hộ lời tự khai nhận tội. Đây là các tài liệu mà cơ quan điều tra

dùng để đấu tranh với bị can và trên cơ sở đó bị can đã nhận tội.

Tuy nhiên sau này bị can phản cung và cho rằng sỡ dĩ có tài liệu

đó là do bị ép buộc. Điển hình là vụ án giết người tại Vườn Điều,

Bình Thuận. Trong vụ án này có tình tiết: thư của bà Lâm gửi từ

nhà tạm giam cho người nhà về việc đã khai nhận hành vi giết

Nguyễn Thị Mỹ. Đây là căn cứ để cơ quan điều tra mở rộng vụ án.

Tuy nhiên, sau này bà Lâm lại cho rằng bức thư này do người khác

viết Hoặc trong vụ án Lê Văn Mạnh phạm tội giết người, hiếp

dâm, thư của Lê Văn Mạnh từ trại giam gửi về nhà thông báo việc

giết và hiếp dâm cháu Loan. Đây cũng là căn cứ để buộc tội bị can

nhưng sau này chính bị can Mạnh khai do một số người cùng

phòng giam bắt viết và vụ án từ đây bước sang giai đoạn phức tạp.

Bản khai của bị can Nguyễn Văn Phát (trong vụ án Nguyễn Văn

Phát ở Cần Thơ) từ nhà tạm giam thông báo việc có hành vi hiếp

dâm và giết chết chị Nguyễn Thị Huệ Phương, sau này bị can Phát

cũng phản đối bức thư này và cho rằng do các bạn trong nhà tạm

giam viết hộ.v.v. Đây là những tình tiết mà quá trình phát hiện vụ

án Điều tra viên đã lấy đó làm căn cứ để đấu tranh với bị can, phát

triển vụ án và là chứng cứ buộc tội bị can. Nhưng khi truy tố, xét

xử thì những chứng cứ này lại trở thành những vấn đề phức tạp do

bị can cho rằng các tài liệu đó đã bị làm sai lệch. Và từ đây việc

giải quyết vụ án trở nên phức tạp.

Ví dụ 1, Vụ án Nguyễn Văn Phát giết người, hiếp dâm

ở tỉnh C. Theo kết luận điều tra thì vào lúc 16h ngày

22. 9. 2003, người dân Ở ấp Phụng Thanh 2, phát hiện chị

Phạm Thị Huệ Phương nằm úp mặt dưới mương nước

trước nhà. Mọi người kẻo chị lên làm hô hấp nhân tạo

nhưng chị đã chết. Sau đó họ tắm rửa, mang chị vào nhà

thay quần áo thì phát hiện quanh cổ chị có vết hằn nghi

ngờ, họ đã báo công an. người làm chứng đầu tiên là cháu

Nguyễn Văn Lên, 11 tuổi, con của Phát khai với cơ quan

điều tra: hôm đó cháu có đi theo cha giăng lưới. Khi đến

cạnh chuồng heo nhà chị Phương thì Phát hái ổi, vào nhà

chị mượn dao, xin muối. Sau đó Phát bảo cháu về. Nghe

lời cha, cháu bỏ đi nhưng rồi lén quay lại, trèo lên cây trứng

cá trước nhà chị Phương nhìn trộm thì thấy cha minh đang

hiếp dâm, siết cổ nạn nhân. Sau đó cháu về kể với mẹ.

Tiếp đó, Phát bị bắt nhưng Phát không nhận tội và kêu

oan. Tám tháng sau khi xảy ra vụ án, Phát mới nhận tội

giết nạn nhân. Tuy nhiên, lời khai nhận tội (do phạm nhân

viết hộ) cũng mâu thuẫn với hiện trường vụ án. Phát khai

sau khi hiếp dâm xong thì mặc lại quần áo cho nạn nhân

không có đồ lót, nhưng những người tắm rửa cho nạn nhân

lại bảo có đầy đủ. Phát khai nhận có hành vi hiếp dâm chị

Phương nhưng giám đinh lại không thấy tinh trùng và

không có biểu bì của bị cáo trên móng tay nạn nhân. Điều

đặc biệt ở đây là lời nhận tội này, bị can Phát đã nhờ một

phạm nhân viết hộ từ nhả tạm giam vì Phát không biết chữ.

Tuy nhiên, sau một thời gian điều tra, không chỉ có Phát

mà cả con trai của Phát là cháu Lên đều phản cung và cho

rằng sở d có lời khai nhận tội trước đây là do bị công an

ép cung, nhục hình. Vừa qua Toà án đã tiến hành xét xử

và kết luận không có đủ căn cứ để buộc tội bị cáo và tuyên

bị cáo không phạm tội(1)

Ví dụ 2, Vụ án tại Vườn Điều tỉnh B

Theo bản kết luận điều tra thì vào khoảng 9h sáng

ngày 18.5. 1993, Nguyễn Thị Nhung khi giặt quần cho

chồng là Trần Văn Sáng thi phát hiện trong túi quần của

chồng mình có một lá thư ghi "Mỹ muốn gặp Sáng vào 1

giờ khuya đêm nay tại vườn điều nhà ông Hai Hoàngn

Sau khi phát hiện lá thư này, Nguyễn Thị Nhung tỏ ra rất

ghen tức, nên đã gặp và bàn với mẹ và các em về việc

tổ chức đánh ghen. Thực hiện ý định trên, vào nửa đêm

ngày 18  rạng sáng ngày 19 . 5. 1 993, Nguyễn Thị

Nhung cùng mẹ đẻ là Nguyễn Thị Lâm, và các em ruột là

Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Văn Tiền, Nguyễn Thị Tiến,

Nguyễn Thị Cẩm, em rể Huỳnh Văn Nén, các con Trần

Thanh An, Trần Thanh Vân đã dùng dao, gậy, kẻo đánh

chị Dương Thị Mỹ. Hậu quả chị Dương Thị Mỹ chết tại

 

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

 

 

 

 

vườn điều nhà ông Hai Hoàng.

Một tinh tiết đáng chú ý của vụ án này và có thể nói là

bước ngoặt của vụ án là quá trinh bị tạm giam, bị can

Nguyễn Thị Lâm đã viết một bức thư gửi cho con rể là Trần

Văn Sáng. Thư đề ngày 20.6.1999 có nội dung: chuyện

gia đinh má đã khai hết rồi, bây giờ má bàn với con hay là

mình đổ thừa cho một đứa chịu tội thôi để nó đứng ra nó

nhận, chứ không thì nó bắt hất cả gia đinh. Phần má, má

khai cung hết rồi, hôm 17 cán bộ xuống lấy cung má đổ

thừa cho thằng Sinh với thằng Nén cầm giao giết con Mỹ

rồi lấy vàng, má tóm tắt má mệt quá tuỳ tụi bây tính thôi.

Điều đáng lưu ý ở đây là: tại sao bị can Lâm không biết

chữ mà lại viết được thể Mặt khác, Sáng không có liên

quan gì đến việc chém chị Mỹ mà bà Lâm lại viết thư cho

Sáng? Đây là những băn khoăn của rất nhiều người khi

xuất hiện bức thư này. Sự băn khoăn này cuối cùng được

giải toả, sau đó không lâu bà Lâm phản đối lá thư này và

cho rằng việc đó là do phạm nhân cùng giam với bà cài

bẫy. Vụ án này sau đó phải đình chỉ điều tra vì không có

chứng cứ chứng minh. Ngày 06.11.2006 bốn công dân bị

kết tù oan trong vụ án "Vườn điều" là bà Nguyễn Thị Lâm

và ba con ruột gồm Nguyễn Thị Tiến, Nguyễn Văn Tiền,

Nguyễn Văn Châu đã đến Kho bạc Nhà nước tỉnh B nhận

hơn 935 triệu đồng. Đây là số tiền họ được bồi thường thiệt

hại tinh thần và mất thu nhập do bị kết án oan. Còn lại

năm người khác cũng đều là con, cháu của bà Lâm đã nộp

đơn tại Toà án huyện để khởi kiện Viện kiểm sát tỉnh B về

yêu cầu bồi thường bi bắt giam oan(1)

Như vậy, khi nghiên cứu lời khai của bị can thì dù lời khai đó

có nhận tội hay không nhận tội, Kiểm sát viên phải chú ý xem lời

khai đó có căn cứ hay không. Chỉ được coi là chứng cứ khi lời khai

đó phù hợp với các chứng cứ khác. Đặc biệt đối với các lời khai của

những bị can không biết chữ, hoặc lời khai của những người bị hạn

       (1). Nguòn hồ sơ tại VKSNDTC

chế về thể chất, tinh thần mà nhờ người khác viết thì Kiểm sát

viên phải nghiên cứu thật kỹ lưỡng các tài liệu, chứng cứ liên quan

đến vụ án để xem việc nhận tội đó có phù hợp với sự thật của vụ

án không. Bản tự khai của bị can Nguyễn Văn Phát, bức thư của

bà Mỹ trong vụ án "Vườn điều', cũng như lời nhận tội của ông Mai

Than trong vụ án "hiếp dâm", thư nhận tội của bị can Lê Văn

Mạnh phạm tội giết người đều do người khác viết hộ hoặc do bị ép

buộc mà viết, dẫn đến việc đánh giá chứng cứ của các vụ án này có

những sai lầm nghiêm trọng.

- Trường hợp bị can khai nhận tội cho người khác. Loại này

thường xảy ra khi giữa các bị can cùng phạm tội, có mối quan hệ

thân thích hoặc có thể vì lợi ích nhất định. Trong trường hợp này bị

can đã vì động cơ nào đó mà khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn

thuộc về mình để loại trừ trách nhiệm hình sự của các bị can khác.

Loại lời khai này thường xảy ra đối với hành vi phạm tội về ma túy

(Điều 194 BLHS), vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao

thông đường bộ (Điều 202 BLHS), cố ý gây thương tích (Điều 104

BLHS), gây rối trật tự công cộng (Điều 245 BLHS), v.v. Đây là loại

lời khai rất khó phát hiện về tính chính xác của nó. Do vậy, Kiểm

sát viên phải nghiên cứu kỹ tài liệu trong hồ sơ vụ án, kết hợp với

các chứng cứ khác để xem xét vị trí, vai trò của bị can trong vụ án

như thế nào. Quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên phải

tự đặt các câu hỏi: tại sao bị can lại khai nhận trách nhiệm về

mình? Lời khai nhận đó đã được xác minh chưa? Tuy nhiên, cũng

xin nói thêm là loại lời khai này rất khó phát hiện, đặc biệt lời khai

không đúng sự thật đó lại do hành vi làm sai lệch hồ sơ của cán bộ

tiến hành tố tụng gây nên thì lại càng khó phát hiện hơn. '

Ví dụ, Vụ án Siêng Phèng và Siêng Nhông phạm tội

vận chuyển trái phép chất ma tuý

Ngày 18.01. 1995 lực lượng Công an kiểm tra phát hiện

xe ôm mang biển số 0054 (biển kiểm soát Lào) do Siêng

Nhông điều khiển trên đường Giảng Võ - Hà Nội. Cơ quan

điều tra đã tiến hành khám xét xe ôm phát hiện 15,05kg

hêrôin được giấu ở đầu xe, gầm ghế, hai cánh cửa xe, nắp

càng, bầu lọc khí, xăm mô. Trong quá trình điều tra, Siêng

Phèng nhận số herôin đó là của Siêng Phèng chở sang Hà

Nội giao cho Sớm Phon (người Lào) tại khách sạn La

Thành. Cơ quan điều tra không phát hiện được Sớm Phon.

Còn Siêng Nhông khai cháu người được Siêng Phèng thuê

lái xe với giá tiền công là 700. 000 kíp và khi nhận lái xe

không được Siêng Phèng nói gì về hàng hoá trong xe và

không biết ai cất giấu hàng trong xe từ bao giờ. Lời khai của

bi can Siêng Nhông phù hợp vời lời khai của Siêng Phèng.

Mặc dù Kiểm sát viên đã nhiều lần yêu cầu điều tra làm rõ

dấu hiệu đồng phạm của Siêng Nhông, nhưng cơ quan điều

tra không làm rõ được. Ngày 15.4. 1995 cơ quan điều tra đã

có kết luận đề nghi Viện kiểm sát tối cao truy tố Siêng

Phèng về tội vận chuyển trái phép các chất ma túy. Còn đối

với Siêng Nhông chỉ biết lái xe thuê cho Siêng Phèng,

không được Siêng Phèng nói gì về chớ hàng hêrôin. Xét

thấy chưa đủ căn cứ kết luận Siêng Nhông là đồng phạm

cùng Siêng Phênh vận chuyển trái phép 15,05 kg hêrôin đề

nghi tách ra để xử lý biện pháp khác. Và vụ án này đã được

truy tố xét xử, Toà án đã phạt tử hình Siêng Phèng.

Tuy nhiên, một tình tiết đặc biệt xảy ra làm thay đổi bản

chất vụ án đối với Siêng Nhông. Đó là khi thi hành án tử

hình, Siêng Phèng đã khai toàn bộ số hêrôin đó là của

Siêng Phèng và Siêng Nhông, và từ đó vụ án được phát

hiện về hành vi làm sai lệch hồ sơ như sau: Khi khám xét'

bắt giữ tại Giảng Võ, Siêng Phèng và Siêng Nhông đã có

hành vi đưa hội lộ cho các cán bộ tham gia khám xét, bắt

giữ của Siêng Phèng và Siêng Nhông. Hành vi đưa hối lộ

của Siêng Phèng và Siêng Nhông đã được các cán bộ điều

tra đã có làm báo cáo với cơ quan điều tra là trong quá trình

kiểm tra xe Ô tô, cả hai đối tượng Siêng Phèng và Siêng

Nhông đều nhận tội và quỳ lạy xin hối lộ để được tha (báo

cáo ngày 19.01. 1995, 20.01.1995, và báo cáo không ngày

01.1995 tại các bút tục số 317,318, 319, 320). Đây là tài

liệu chứng cử rất quan trọng nhưng Điều tra viên không lấy

lời khai của các cán bộ tham gia khám xét, trên cơ sớ đó

đấu tranh với Siêng Phèng và Siêng Nhông về hành vi

phạm tội mua bán ma túy và đưa hối lộ. Nghiêm trọng hơn

các tài liệu quan trọng này được bỏ ra ngoài hồ sơ vụ án và

viện dẫn những chứng cứ ngoại phạm của Siêng Nhông

vào bản kết luận điều tra. Toàn bộ hành vi làm sai lệch hồ

sơ vụ án được thực hiện trước khi có bản kết luận điều tra

vụ án nên hồ sơ đưa truy tố đã không phản ảnh đúng hành

vi phạm tội của Siêng Nhông, dẫn đến hậu quả nghiêm

trọng là bỏ lọt tội phạm Siêng Nhông. Đây là bài học cần

được nghiên cút/ rút kinh nghiệm trong thực tiễn công tác

thực hành quyền công tố(1).

Thực tiễn trong thời gian qua đã có một số trường hợp người có

hành vi phạm tội theo Điều 202 BLHS nhưng đã bố trí cho người

phụ xe để nhận tội, vào tù thay, còn người phạm tội ở ngoài hỗ trợ

tài chính cho gia đình người đi tù thay. Tuy nhiên, sau đó do không

thực hiện theo cam kết nên đã tố cáo và vụ án lại được giải quyết

theo thủ tục tái thẩm. Đây cũng là đặc điểm của loại tội này nên

Kiểm sát viên khi tham gia giải quyết các loại tội này cần chú ý nghiên cứu kỹ các tình tiết của vụ án để phát hiện những thủ đoạn nhận tội thay của bị can.

Ví dụ, Vụ án Nguyễn Văn Hùng phạm tội vi phạm quy định

về đấu khiển phương tiện giao thông đường bộ tại tỉnh V

Vào hồi 10h ngày 30. 01.2004, Đông là chủ xe đồng thời

là người điều khiển xe Ô tô biển số 53N-3849 chở khách từ

bến xe Bắc Bình Minh đi thành phố Hồ Chí Minh. Đến

đoạn đường thuộc tổ 16 ấp Thuận Tân B, xã Thuận Am

Đông cho xe chạy quá tốc độ, không làm chủ tốc độ nên

đã đâm vào xe máy gây tai nạn làm cho anh Trần Chí

Thanh chất tại chỗ. Vụ án được khởi tố điều tra và Đông

hoàn toàn nhận tội. Sau đó vụ án được xét xử sơ thẩm và

phúc thẩm, Toà án đã phạt Đông 12 tháng tù giam về tội

theo Điều 202 BLHS.

Tuy nhiên, một tình tiết mới phát sinh làm cho việc giải

quyết vụ án thêm phức tạp. Trong quá trình Đông đang thụ

hình thi người nhà bị cáo là Phan Thị Thuỷ có đơn tố cáo

lên Viện kiểm sát tối cao về việc Đông nhận tội thay cho

Nguyễn Văn Hùng. Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tiến

hành điều tra xác minh thi đúng như đơn của chị Thấy tố

cáo Sau khi gây tai nạn Hùng bỏ trốn về thành phố Hồ Chí

Minh. Sau đó Hùng và mẹ đẻ của mình là Nguyễn Thị Lan

đã cùng Đông dàn xếp cho Đông nhận tội ớ tù thay cho

Hùng. Đổi lại, gia đinh Hùng sẽ chịu mọi chi phí và đưa

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

gần 100 triệu đồng cho Đông đảo việc. Vụ án này sau đó

đã được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng

nghị tái thẩm ngày 14. 01.2005 và Toà án nhân dân tối cao

đã huỷ bản án trên đây để điều tra xét xử lại từ đầu(l).

 

Trên đây là những dạng lời khai không chính xác của bi can mà

quá trình nghiên cứu hồ sơ nếu không chú ý thì khó phát hiện. Chỉ

đến giai đoạn truy tố, xét xử, thậm chí đến khi thi hành án tử hình

thì bị can, bị cáo mới phản cung và xin khai lại sự thật. Nguyên

nhân của tình trạng trên đây có nhiều, nhưng nguyên nhân chủ

yếu là do những thủ đoạn tinh vi và nham hiểm của người phạm

tội cấu kết với nhau. Bên cạnh đó, cũng có một số nguyên nhân do

quá trình nghiên cứu hồ sơ, Kiểm sát viên chưa thật chú ý nghiên

cứu kỹ lời khai nhận tội của bị can, nội dung nhận tội đã được xác

minh chưa? Vì vậy, Kiểm sát viên cần phải nghiên cứu kỹ các biên

bản hỏi cung bị can, nếu lời khai nhận tội mà chưa được xác minh

thì nhất thiết phải yêu cầu xác minh cụ thể từng chi tiết của lời

khai để đánh giá lời khai nhận tội đó có đúng với thực tế khách

quan hay không. Thực tiễn truy tố xét xử cũng đã có nhiều trường

hợp bị can nhận tội, tuy các tình tiết của lời khai đó chưa được xác

minh nhưng Kiểm sát viên đã vội vàng đánh giá lời khai đó là

chính xác nên tại phiên toà bị cáo phản cung, Kiểm sát viên lúng

túng, bị động trong việc tranh luận với bị cáo và luật sư và nhiều

vụ án bị huỷ, bị tuyên không phạm tội...cũng xuất phát từ những

nguyên nhân này.

Ví dụ 1, Vụ án Mai Than phạm tội hiếp dâm ở tỉnh C

Theo bản kết luận điều tra (bút lục 109) của cơ quan điều

tra Công an tỉnh C thì. Ngày 30.01.2001, chị Đào Thị Cúc Ở

ấp Châu Thành, thị trấn Ô Mô, phát hiện con mình là Đào

Hải Ngân có thai. Cháu Ngân bị câm nhưng không điếc. Chị

Cúc hỏi cháu Ngân là ai đã giao cấu, cháu Ngân chỉ tay

sang nhà ông Mộc và ra hiệu chính ông Mộc là người đã

giao cấu với cháu hai lần. Tuy nhiên, quá trình điều tra

không có căn cứ khẳng định ông Mộc là người giao cấu với

cháu Ngân. Tiếp đó, cơ quan điều tra đã phát động tinh thần

tố giác tội phạm trong quần chúng nhân dân và ngay sau đó

nhận được đơn tố giác của ông Võ Văn Mai cùng ấp là việc

cháu Ngân có thai là do ông Mai Than giao cấu với cháu

(1). Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

Ngân. Thế rồi quá trình điều tra đã diễn ra và kết quả thật

bất ngờ, ông Mai Than khai nhận đã ba lần giao cấu với

cháu Ngân. Như vậy trong vụ án này, cháu Đào Hải Ngân

cho rằng ông Mộc là cha của bé Thư (con cháu Ngân), còn

theo ông Võ Văn Mai thì ông Mai Than cũng là cha của bé

Thư Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ lời khai nhận tội của bi can

Mai Than về việc đã có giao cấu với cháu Hải Ngân nhưng

chỉ khai nhận rất chung chung, không cụ thể và lời khai đó

chưa được xác minh: giao cấu ở đâu và vào thời gian nào,

sự đồng tình hay phản đối của nạn nhân... Cho nên đến giai

đoạn xét xử thì một vấn đề bất ngờ là ông Mai Than đã khai

nhận một cách mộc mạc và đúng với sự thật là: ông Mai

Than không hề biết từ giao cấu là như thế nào, cán bộ hỏi

giao cấu thì ông Mai Than khai giao cấu, vi tôi cứ tưởng giao

cấu là sự gặp gỡ nhau. Biên bản ghi lời khai do cán bộ ghi

thế nào thì ông Mai Than được nghe cán bộ đọc cho nghe

như vậy, lời tự khai cũng do bạn tù ghi hộ. Khi tiến hành

giám định ADN thi ông Mai Than và ông Mộc không phải là

cha đứa trẻ. Cuối cùng vụ án cũng đi đến hồi kết, Toà án đã

tuyên ông Mai Than không phạm tội như cáo trạng của Viện

kiểm sát truy tố. Đây cũng là bài học về tính cẩn trọng khi

nghiên cút/ lời khai của bị can. Nếu Kiểm sát viên yêu cầu

xác minh các tình tiết của lời khai thì sẽ phát hiện những

mâu thuẫn của lời khai. Sau khi xác minh nếu phát hiện lời

khai có mâu thuẫn thì không coi lời khai đó là chứng cứ

được Bởi vì, nguyên tắc đánh giá lời khai nhận tội là: Lời

khai nhận tội chỉ trở thành chứng cứ khi nó phù hợp với các

chứng cứ, tài liệu khác (1).

 

Ví dụ 2, vụ án Lê Bá Mai trên đây, tại bản cung bút lục

số 89, 90 Mai khai. Thị út mặc áo thun ngắn tay màu xanh

đen, đầu đội nón màu đỏ, mặc quần lửng màu xám đã cũ.

Nhưng tại bút lục số 95 Mai lại khai. Thị út đầu đội nón rất

dơ, mặc áo thun màu đen ngắn tay, mặc quần lửng thun

màu trắng đục. Các lời khai trên đây của Lê Bá Mai không

những mâu thuẫn với nhau mà còn mâu thuẫn giữa lời khai

với biên bản khám nghiệm hiện trường. Biên bản khám

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

nghiệm hiện trường (bút lục số 1 8, 22) ghi. út mặc chiếc

quần thun ống dài. Hoặc là mâu thuẫn ngay chính lời khai

của bị can, nếu nghiên cứu kỹ sẽ thấy rất vô lý, không phù

hợp với thực tế. Tại lời khai ban đầu bị can khai. tôi dùng

tay chặt mạnh vào gáy cháu út làm cháu ngã ngửa đè lên

cây sắn. Vậy cây sắn cao 1, 5m thi khi cháu út ngã đè lên

như thế nào, tình tiết này không được hỏi kỹ. cây sắn có bị

gẫy không. Hoặc là, tôi nằm lên út để hiếp thì thấy hai

chân út đạp, hai tay buông xuôi, thô bình thường. Trước

cái chất mà hai tay cháu út không chống cự là điều vô lý,

hoặc lúc đó tại sao bị can lại biết nạn nhân thô binh

thường? Đây là những nội dung mâu thuẫn nhưng không

được đấu tranh làm rõ (1).

- Trường hợp bị can không nhận tội. Trong thực tế có nhiều

trường hợp bị can không nhận tội nhưng với các chứng cứ khác có

cơ sở kết tội bị can thì bác bỏ lời khai không chính xác đó. Vì vậy,

đối với các lời khai không nhận tội, Kiểm sát viên cần đọc kỹ các

tình tiết không nhận tội như thế nào, các tình tiết đó đã được xác

minh chưa? Kết quả xác minh lời khai không nhận tội đó đã bị

các chứng cứ khác bác bỏ như thế nào? Nếu có căn cứ bác bỏ lời

Ví dụ, Vụ án Phạm Văn Hợp có hành vi vận chuyển trái

phép chất ma tuý

Theo biên bản phạm pháp quả tang thì vào lúc 6h 45'

ngày 05. 5. 2005, tại khi 56, quốc lộ 6A thuộc  địa phận xã

Lóng Luồng, Mộc Châu, Sơn La, tổ công tác Công an Sơn

ca tiến hành kiểm tra xe khách biển số 29U-9161 đang

chạy tuyến Sơn La - Hà Nội, phát hiện dưới chân Phạm

Văn Hợp (ngồi ghế 1 6, 1 7) có chiếc cặp số mà u đen, trong

đó có hai bánh hêrôin, với trọng lượng 701,31g và một gói

thuốc phiện 44, 32g, tương đương 0, 886g hêrôin. Như vậy,

tổng trọng lượng hêrôin thu được trong cặp là 702, 196g.

Các bản cung của Phạm Văn Hợp đều không thừa nhận

chiếc cặp của mình nhưng với lời khai của những người

làm chứng khác như lời khai của anh Lợi (lái xe), anh Toàn

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

(phụ xe), anh Hải (hành khách cùng ngồi ghế với Hợp) đi

trên xe đều khẳng định chiếc cặp đó là của Phạm Văn

Hợp. Với lời khai của những người làm chứng này có căn

cứ khẳng đinh số ma túy trong cặp là của Nguyễn Văn

Hợp và đây là cơ sớ bác bỏ lời khai không trung thực của

bị can Hợp(1j.

4. Kỹ năng nghiên cứu lời khai của người bị hại, nguyên đơn dân

sự bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

Theo quy định tại Điều 137 Bộ luật TTHS thì việc lấy lời khai

của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền

lợi, nghĩa vụ liên quan do Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên tiến

hành và phải được lập biên bản theo đúng quy định của pháp luật.

người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan là người bị hành vi phạm tội tác động trực tiếp

và gây thiệt hại về thể chất, vật chất, tinh thần. Xét về địa vị pháp

lý tham gia tố tụng, quyền và lợi ích thì người bị hại, nguyên đơn

dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều

thống nhất. Cho nên về cơ bản những người này có tâm lý hợp tác

và mong muốn các cơ quan chức năng khẩn trương điều tra, kết

luận hành vi phạm tội. Vì vậy, nhìn chung họ có thái độ trung thực

trong việc khai báo. Khi nghiên cứu lời khai của những người này

Kiểm sát viên cũng cần kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp

của những lời khai đó.

Khi nghiên cứu lời khai của người bị hại, nguyên đơn dân sự,

bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Kiểm sát

viên cần chú y tính hợp pháp và tính có căn cứ của biên bản ghi

lời khai.

a- Về tính hợp pháp của biên bản ghi ly khai: Kiểm sát viên

cần nghiên cứu, kiểm tra xem người lấy lời khai đã giải thích

quyền và nghĩa vụ của họ chưa, mối quan hệ giữa họ với bị can ra

sao, liên quan với các tình tiết của vụ án như thế nào. Trong

trường hợp lời khai của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn

dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa đến 16 tuổi thì

cơ quan điều tra đã mời cha, mẹ, người đại diện hợp pháp hoặc

thầy giáo, cô giáo dự buổi hỏi cung theo đúng quy định tại khoản

5 Điều 1 10 Bộ luật TTHS chưa? Các lời khai của những người này

đã được người lấy lời khai đọc và cùng ký tên trong các biên bản

(1). Nguồn hồ sơ vụ án tại VKSNDTC

ghi lời khai như thế nào? Thực tiễn đã có trường hợp khi lấy lời

khai người bị hại chưa thành niên nhưng không tuân theo đúng

các quy định của pháp luật.

Ví dụ: Vụ án Nguyễn Văn Phát hiếp dâm và giết người ở tỉnh C. 

đã được đề cập ở phần trước, người làm chứng

đầu tiên là cháu Nguyễn Văn Lên 1 1 tuổi con của Phát

khai với Cơ quan điều tra về hành vi phạm tội của cha

mình là Nguyễn Văn Phát Tuy nhiên, sau đó cháu trai 11

tuổi này đã phản cung vì cho rằng việc khai như vậy là do

bị ép cung. Việc người làm chứng 11 tuổi thay đổi lời khai

xét về hình thức có thể khẳng định lời khai nhận tội trước

đây không hợp pháp vì khi Cơ quan điều tra tiến hành lấy

lời khai của cháu không có sự tham gia của mẹ hoặc cô

giáo. Việc Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai của cháu

trai 1 1 tuổi này mà không có người giám hộ là vi phạm

pháp luật, do vậy lời khai này về mặt hình thức không có

giá trị pháp lý. Vì vậy, dù lời khai đó có nội dung như thế

nào đi chăng nữa thì đây là những tình tiết khẳng định việc

giải quyết vụ án không khách quan, và đây cũng là nguyên

nhân dẫn đến Toà án tuyên bi cáo không phạm tội(1)

b- Nghiên cứu về tính có căn cứ của lời khai: Khi nghiên cứu lời

khai của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có

quyền lợi nghĩa vụ liên quan Kiểm sát viên chú ý xem họ khai về

diễn biến của hành vi phạm tội như thế nào, nhất là về hành vi

phạm tội của bị can ra sao; đối chiếu với lời khai của bị can và

những người làm chứng khác để xem có tình tiết nào phù hợp, tình

tiết nào mâu thuẫn, những mâu thuẫn đó đã được xác minh và đối

chất chưa. Những tình tiết của vụ án phù hợp hoặc không phù hợp

giữa các lời khai, Kiểm sát viên cần ghi chép kỹ vào bản nghiên

cứu để tổng hợp đánh giá. Kiểm sát viên cần chú ý kiểm tra kỹ

những quan điểm của họ về giải quyết bồi thường thiệt hại ra sao

để xem xét việc bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho

(1). Nguồn báo pháp luật thành phố Hồ Chí Minh ngày 25.9.2006

người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan. Thực tiễn cho thấy Kiểm sát viên khi nghiên

cứu lời khai của những người này chưa chú ý kiểm tra về nội dung

yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra ngoài hợp

đồng như thế nào: các đương sự thoả thuận việc bồi thường ra sao,

nếu không thoả thuận được thì bồi thường như thế nào, việc giảm

mức bồi thường có được thực hiện không, thiệt hại do tính mạng,

sức khoẻ bị xâm phạm, cấp dưỡng như thế nào? v.v. Nhìn chung,

trong thời gian qua khi giải quyết các vụ án hình sự, Kiểm sát viên

chỉ chú ý nghiên cứu về các căn cứ, tình tiết liên quan đến trách

nhiệm hình sự, còn về các nội dung liên quan đến trách nhiệm dân

sự thì ít chú ý, dẫn đến việc giải quyết vụ án không triệt để, làm

phát sinh các khiếu kiện kéo dài.

Ví dụ, Vụ án Vương Xuân Nam phạm tội giết người Ở

thành phố H

Ngày 28.6.2005, do mâu thuẫn giữa Vương Xuân Nam

và Hoa Xuân Thuỷ trong nhà hàng nên xảy ra cãi cọ, xô

xát nhau. Với bản chất côn đồ, Nam đã rút dao đuổi đâm

anh Thuỷ. Anh Vương Đình Ngữ là chủ quán đã ra can

ngăn thì bị Nam đâm chết. Sau đó vụ án được kết thúc

điều tra và truy tố xét xử và Toà án đã áp dụng điểm n

khoản 1 Điều 93, điểm bộ khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình

sự phạt Vương Xuân Nam tù chung thân về tội giết người.

Về hình sự thì bản án đã có hiệu lực.

Về dân sự, gia đình anh Ngữ yêu cầu bồi thường 113

triệu đồng, ông Vương Xuân Luyến, bố đẻ Nam đã bồi

thường cho gia đinh nạn nhân 1 5, 7 triệu đồng. Do vậy, bản

án đã buộc Nam bồi thường cho chị Mai vợ anh Ngữ 15

triệu đồng và chịu trách nhiệm cấp dưỡng cho cháu Đạt

con anh Ngữ 360 000 đồng/tháng cho đến khi đủ 1 8 tuổi.

Sau khi Toà án quyết định về bồi thường trên đây, gia đình

nạn nhân tiếp tục khiếu nại về phần dân sự của vụ án này.

Thiếu sót của vụ án này về dân sinh phần bồi thường thiệt

hại đã được người bị hại nêu rõ nhưng Kiểm sát viên

nghiên cứu không kỹ, nên không phát hiện được những vi

phạm của bản án khi quyết định bồi thường. Bởi vì, anh

Ngữ chất còn có hai con nhỏ là Vương Thị Cúc sinh năm

1998 (khi vụ án xảy ra mới 7 tuổi) và Vương Tấn Đạt sinh

năm 2005 (khi vụ án xảy ra mới 1 tuổi) nhưng Toà án chỉ

buộc bị cáo Nam cấp dưỡng cho một mình cháu Đạt là để

sót đối tượng được cấp dưỡng. Mặt khác, bản án cũng

không xác định rõ thời điểm bắt đầu cấp dưỡng là vào thời

gian nào: Đây là các nội dung đã được Nghị quyết số

03/2006/NQ-HĐTP quy định rất chặt chẽ. Do có vi phạm

nghiêm trọng như đã nêu trên, vụ án này đã được Viện

trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị giám

đốc theo hướng huỷ phần dân sự để xét xử sơ thẩm lại (1)

Như trên đã trình bày, nhìn chung lời khai của người bị hại,

nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan thường là chính xác, trung thực, mong muốn hợp tác với cơ

quan chức năng để giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác. Tuy

nhiên, thực tiễn truy tố cho thấy cũng có trường hợp người bị hại,

nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan đến vụ án khai báo không chính xác nên cũng gặp nhiều khó

khăn không những trong công tác điều tra, chứng minh hành vi

phạm tội mà còn gặp không ít khó khăn khi truy tố, xét xử. Thậm

chí có người đã làm giả hiện trường dựng lên một vụ án giả mà

mình là người bị hại. Đây là hành vi không nhiều nhưng về kỹ năng

nghiên cứu hồ sơ vụ án đòi hỏi Kiểm sát viên cũng hết sức chú ý.

Ví dụ, Ngày 11.4.2007, Chu Thành Xuân đã đến Cơ

quan điều tra trình báo bị hai đối tượng đi xe máy cùng

chiều dùng súng ngắn khống chế trước cửa nhà số 26 phố

Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội và cướp đi một túi

xách trong đó có 1 tỷ đồng. Trên cơ sở phân tích hiện

trường vụ án và các tài liệu thu thập được, cơ quan điều tra

xác đinh truân đã dựng lên vụ cướp để chiếm đoạt 1 tỷ

đồng. Sau khi đấu tranh Xuân đã nhận tội: Ngày

11.4.2007, Xuân được chủ cửa hàng vàng Kim Linh giao

mang 200,000USD đi đổi sang tiền Việt Nam. Sau khi

nhận được 3,2 tỷ đồng, Xuân cho vào hai túi, một túi đựng

2, 2 tỷ đồng, một túi đựng 1 tỷ đồng. Xuân đến gửi Lê Văn

Tiến tại 20 phố Hàng Mắm cầm hộ một túi đựng 1 tỷ đồng.

Sau đó Xuân đến phố Hàng Bài điện thoại cho ông chủ

báo là bị cướp. Trên cơ sớ đó, cơ quan điều tra đã khởi tố

(1). Nguồn hồ sơ vụ án tại VKSNDTC

Xuân về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo

điều 140 BLHS (1)

 

Trên đây là trường hợp chỉ có một người, "người bị hại" khai

nhận về sự việc phạm tội, có trường hợp nhiều người cùng thực hiện

việc phạm tội trên đây thì vấn đề lại phức tạp hơn. Vì vậy, Kiểm sát

viên phải đọc kỹ để phát hiện lời khai giả tạo như thế nào.

Ví dụ, Vụ án dàn cảnh cướp 3 tỷ đồng ở thành phố H

Nguyễn Đặng Trung Nghĩa là lái xe Ô tô cho Công ty

trách nhiệm hữu hạn Giáo dục quốc tế Việt - úc thường

xuyên được phân công chở nhân viên kế toán đi giao nhận

tiền tại ngân hàng. Biết được công việc của Nghĩa, Đặng

Hồng Thu (mẹ Nghĩa) đã bàn với Nghĩa và Danh Hữu

Hùng (thợ sửa xe), Ngô Thị Hường (vợ của Hùng - thợ làm

móng tay) dàn cảnh cướp tiền. Sáng 02. 10.2006, Nghĩa

điện thoại báo cho Thu biết sẽ chớ Lê Thị Hồng Trang

(nhân viên của trường) đi giao tiền trên chiếc xe biển số

52T - 1684 màu cam. Thu tiền đến nhà vợ chồng Hùng

thông báo, phân công nhau thực hiện kế hoạch. Khi xe

của Nghĩa đến giao lộ Bà Huyện Thanh Quan - Ngô Thời

Nhiệm thì Hùng điều khiển xe gắn máy tông mạnh vào xe

Ô tô của Nghĩa tạo sự cố. Lúc đó Nghĩa dừng xe mở cửa

bước xuống vờ kiểm tra thì Hường nhanh chóng điều khiển

xe máy đi còn Thu và Hùng lao lên xe dùng ống chích có

chứa thuốc đỏ giả vờ là máu của người nhiễm HIV khống

chế chị Trang. Chúng dùng dây dù trói chân tay, dùng

băng keo dán miệng, trùm đầu chị Trang bằng túi vải và

đẩy chị Trang về băng ghế sau. Tiếp đó, Thu và Hùng giả

vờ khống chế Nghĩa chạy xe đến khu đất trống thuộc

phường Thảo Điền, Quận 2 rồi trói chân tay Nghĩa, dán

miệng bằng băng keo để dựng hiện trường giả tránh bị

nghi ngờ. Sau khi lấy được 3 tỷ đòng và một điện thoại di

động của chị Trang, Thu và Hùng thuê xe ôm tẩu thoát.

Tuy nhiên, với các lời khai của Nghĩa các cơ quan chức

năng đã đấu tranh và vụ án được phát hiện, kế hoạch dàn

cảnh cướp tiền của bọn chúng bị lật tẩy. Ngày 21.6.2007

Toà án thành phố HỒ Chí Minh đã phạt Thu 20 năm, Nghĩa

và Hùng mỗi bị cáo 18 năm tù, Hương 12 năm tù về tội

(1). Nguồn hồ sơ vụ án tại VKSNDTC

cướp tài sản(1).

5. Kỹ năng nghiên cứu lời khai của người làm chứng

Theo quy định tại Điều 55 Bộ luật TTHS thì người làm chứng

là người biết được những tình tiết liên quan đến vụ án (có thể trực

tiếp hay gián tiếp). Vì người làm chứng không liên quan trực tiếp

đến hành vi phạm tội nên nhìn chung người làm chứng khai báo

khách quan, trung thực góp phần vào việc phát hiện người phạm

tội Tuy nhiên, trong các trường hợp vụ án xảy ra đã lâu hoặc do

năng lực nhận thức của từng người khác nhau nên nội dung việc

khai báo của họ cũng khác nhau. Theo quy định tại Điều 135 Bộ

luật TTHS thì Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên tiến hành lấy lời

khai của người làm chứng và phải lập biên bản theo quy định của

pháp luật. Vì vậy, khi nghiên cứu lời khai của người làm chứng

Kiểm sát viên cần chú ý đến các nội dung sau đây:

a- Kiểm sát viên cần kiểm tra tính hợp pháp của các biên bản

ghi ly khai người làm chứng. Khi nghiên cứu lời khai người làm

chứng Kiểm sát viên cần kiểm tra xem thời gian, địa điểm ghi lời

khai, mỗi người làm chứng có bao nhiêu lời khai, khi lấy lời khai

Điều tra viên đã giải thích quyền và nghĩa vụ của người làm chứng

chưa, nhất là trách nhiệm của họ về việc từ chối, trốn tránh khai

báo hoặc cố tình khai báo gian dối. Biên bản ghi lời khai đã phản

ảnh đầy đủ các thông tin về mối quan hệ giữa người làm chứng với

bị can, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa? Nếu người làm chứng chưa đủ

16 tuổi thì kiểm tra xem khi hỏi cung đã có mặt tham dự của cha,

mẹ, thầy, cô giáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ chưa?

Những người này đã ký vào biên bản cùng với người làm chứng và

người ghi lời khai như thế nào? Nếu có những điểm nào mà người

làm chứng hoặc người tham gia yêu cầu sửa chữa thì người ghi lời

khai đã ghi bổ sung chưa?

b- Về nội dung chứng cứ lời khai của người làm chứng: Khi

nghiên cứu biên bản ghi lời khai người làm chứng,' Kiểm sát viên

cần kiểm tra xem người hỏi đặt câu hỏi như thế nào và người làm

chứng đã trình bày ra sao? Nội dung trình bày của người làm

chứng là do họ biết được các tình tiết của vụ án hay là họ nghe

(1). Nguồn báo thanh niên ngày 22.6.2007

người khác kể lại. Bởi vì, lời khai của người làm chứng chỉ trở

thành chứng cứ khi họ thật sự biết được việc đó, còn họ khai do

người khác kể lại hoặc nghe theo dư luận chung chung thì không

thể coi đó là chứng cứ. Đây là điểm hết sức lưu ý đối với các Kiểm

sát viên khi nghiên cứu lời khai người làm chứng. Lời khai của

người làm chứng có khách quan hay không một phần cũng phụ

thuộc vào mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can, người bị

hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ

liên quan. Nếu người làm chứng bị sức ép về tâm lý do quan hệ họ

hàng, gia đình, sợ bị liên luỵ hoặc do bị đe doạ từ phía những người

thực hiện tội phạm nên rất có thể người làm chứng khai báo không

chính xác. Do vậy, khi nghiên cứu lời khai của người làm chứng

Kiểm sát viên phải hết sức thận trọng, khách quan. Ví dụ, có hai

nhóm thanh niên đánh nhau dẫn đến gây thương tích. Một sô

người làm chứng của bên người bị hại chắc chắn sẽ có xu hướng

khai báo có lợi cho bên người bị hại, nhóm ngư làm chứng của bị

can sẽ có xu hướng khai báo có lợi cho bị can. Đây là tâm lý khi

khai báo của người làm chứng trước cơ quan thi hành pháp luật.

Vì vậy về những tình tiết của vụ án mà người làm chứng đã trình

bày Kiểm sát viên phải đối chiếu với các chứng cứ khác xem có phù

hợp hoặc mâu thuẫn với chính lời khai của mình và với các tài liệu

đã có như: lời khai của bị can, người bị hại, người làm chứng, bị đơn

dân sự, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên

quan.v.v. Những nội dung nào phù hợp hoặc mâu thuẫn trong lời

khai của người làm chứng so với các tình tiết khác của vụ án thì

Kiểm sát viên cần ghi cụ thể, rõ ràng để phân tích đánh giá một

cách tổng hợp, khách quan. Tuy nhiên, trong thực tiễn đã có nhiều

trường hợp do mâu thuẫn trong lời khai người làm chứng nên việc

giải quyết vụ án cũng rất phức tạp.

Ví dụ, Vụ án Nguyễn Trường Đại phạm tội cố ý gây

thương tích xảy ra tại tỉnh H

Trong vụ án này có hai loại người làm chứng của hai

nhóm người (người bị hại và bị can) có những lời khai khác

nhau. Nguyễn Văn Thuần khai bị Đương ôm và bị Dũng

chém vào đầu. Lời khai của Thuần phù hợp với lời khai của

những người làm chứng ớ phía nhà Thuần như lời khai của

chị Đức chị Nụ và phù hợp với vết thương trên đầu của

Thuần. Tuy nhiên, lời khai của Đương, Dũng, người nhà

của Dũng và người làm chứng là chị Xuân lại cho rằng anh

Thuần bị ngã, đầu va vào đá chảy máu. Trong trường hợp

này, lời khai của người làm chứng hai phía có nội dung đối

lập nhau thì Kiểm sát viên phải nghiên cứu, đối chiếu với

các chứng cứ khác (như tình trạng vết thương ở đầu Thuần

có đặc điểm sắc gọn hay nham nhở) để đánh giá kết luận

vết thương đó do dao gây ra hay do đập đầu vào đá, trên

cơ sở đó mà công nhận lời khai nào là chính xác, lời khai

nào không đúng sự thật để bác bỏ (1)

Tuy nhiên, trong thực tiễn cũng có trường hợp phạm tội gây rối

có đông người tham gia, thời gian xảy ra đã lâu, thời điểm xảy ra

vào ban đêm nên có nhiều tình tiết mâu thuẫn. Lẽ ra trong các

trường hợp này cần phải giải quyết lại từ đầu nhưng nếu tiến hành

như vậy sẽ không khả thi. Vì vậy, đối với các trường hợp này Kiểm

sát viên phải nghiên cứu kỹ các lời khai của người làm chứng để

phát hiện nội dung nào chưa xác minh, nội dung nào có mâu thuẫn

thì phải xác minh ngay. Nếu không chú ý thì sau này sẽ có khiếu

kiện phức tạp.

Ví dụ, Vụ án Nguyễn Lê Kiên phạm tội gây rối trật tư

công cộng ở Bạc Liêu

Bị cáo Kiên khai khi lao vào đánh Công có la rất to,

người làm chứng Thường và Mừng đều nghe thấy nhưng bị

cáo sử lại khai là không nghe thấy. Thế nhưng công tác

điều tra không xác minh rõ lúc đó bị can Sử đứng ở đâu và

cách Kiên bao nhiêu mét? người làm chứng Linh thì khai

khi gặp Công, Kiên xin 100.000 đồng nhưng Công không

cho thì xảy ra xô xát, nhưng Kiên lại khai khi gặp nhau

Kiên cầm tay Linh kẻo đi uống rượu, Công không đồng ý

cho Linh đi với Kiên nên xảy ra xô xát. Vậy lời khai nào là

chính xác thi không được xác minh làm rõ. Nói chung vụ

án này còn có nhiều thiếu sót về thu thập chứng cứđểxác

định các lời khai của người làm chứng nhưng chưa được

điều tra triệt để. V những thiếu sót trên đây nên vụ án có

những khiếu nại phức tạp. V còn nhiều mâu thuẫn và để

cho việc giải quyết vụ án được khách quan, chính xác,

(1). Nguồn hồ sơ vụ án tại VKSNDTC

ngày 22. 6. 2007 Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối

cao để kháng nghị giám đốc thẩm Bản án hình sự phúc

thẩm số 1131/2006/HSST ngày 08.8.2006 của Toà phúc

thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh

và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

xét xử Giám đốc thẩm tuyên huỷ bản án hình sự phúc

thẩm lại theo hường xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Kiên về "tội

giết người(1).

6. Kỹ năng nghiên cứu biên bản đối chất

Sau khi nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời

khai người bị hại, bị đơn dân sự, nguyên đơn dân sự, người có

quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản ghi lời khai người làm

chứng, Kiểm sát viên cần nghiên cứu biên bản đối chất. Theo quy

định tại Điều 138 của Bộ luật TTHS, khi có sự mâu thuẫn trong lời

khai giữa hai hay nhiều người thì Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên

tiến hành đối chất. Khi tiến hành đối chất phải được lập biên bản.

Do vậy, khi nghiên cứu biên bản đối chất Kiểm sát viên cần chú ý

các nội dung sau đây:

a- Kiểm tra tính hợp pháp của việc đối chất: Nghiên cứu biên

bản đối chất, Kiểm sát viên phải kiểm tra những người được đối

chất đó là ai (bị can, người bị hại, người làm chứng...), trước khi

tiến hành đối chất Điều tra viên đã giải thích cho họ biết về trách

nhiệm từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố tình khai báo gian dối

chưa? Điều tra viên đã hỏi họ về mối quan hệ giữa những người

tham gia đối chất với nhau như thế nào chưa? Điều tra viên đã đọc

lại biên bản đối chất cho những người có mặt nghe chưa? Việc ký

vào biên bản như thế nào, có ai sửa chữa, ghi thêm nội dung nào

vào biên bản không?

b- Về nội dung tính có căn cứ của biên bản đối chất: Kiểm sát

viên cần chú ý kiểm tra các câu hỏi và trả lời của biên bản đối chất

xem nội dung đã giải quyết các mâu thuẫn chưa? Những người

tham gia đối chất đã trả lời về những tình tiết cần làm sáng tỏ như

thế nào, họ đã trình bày và giải thích về những mâu thuẫn giữa lời

khai của họ với lời khai của những người khác, giữa lời khai hiện

nay và trước đây như thế nào? Qua trả lời của những người tham

gia đối chất thì đã giải quyết được mâu thuẫn chưa, nội dung nào

(1). Nguồn hồ sơ tại VKSNTDC

chưa được giải quyết? Những nội dung nào đã được giải quyết hoặc

chưa được giải quyết, Kiểm sát viên cần ghi chép đầy đủ vào bản

nghiên cứu của mình để giải quyết tiếp.

Trong thực tiễn công tác truy tố, xét xử, có nhiều vụ án Kiểm

sát viên đã tiến hành đối chất tốt góp phần giải quyết vụ án chính

xác kịp thời, nhưng cũng có nhiều trường hợp Điều tra viên, Kiểm

sát viên chưa làm hết trách nhiệm của mình trong việc tiến hành

đối chất để giải quyết các mâu thuẫn, dẫn tới có nhiều vụ án việc

giải quyết bị kéo dài và không chính xác.

Ví dụ 1, Vụ án Đỗ Đức Đạo phạm tội hiếp dâm tại tỉnh R

Đây là vụ án hiếp dâm nhưng lời khai của những người

làm chứng có nhiều mâu thuẫn với nhau nên dẫn đến việc

nhận định, đánh giá các tình tiết của vụ án có sự khác

nhau. Người làm chứng Trần Thị Thiệt (người làm việc tại

nhà trọ Trúc Quỳnh) khai: "Lúc đến gần phòng trọ, nghe

người bị hại P khóc thút thít', nhưng có lúc Thiệt lại khai chỉ

nghe "cười khúc khích . Còn người làm chứng Nguyễn Thị

út Mai khai "khi đến phòng trọ có nghe P nói. chị ơi cứu

em với , nhưng có lúc Mai lại khai úp nói: chị ơi, chị ơi như

đang đùa giỡn . Đây là những mâu thuẫn nhưng quá trinh

điều tra, truy tố không được tiến hành đối chất làm rõ, vi

vậy tại phiên toà sơ thẩm ngày 04.5.2007 những mâu

thuẫn trên không được làm rõ nên phải trả lại hồ sơ để yêu

cầu điều tra bổ sung(1).

Ví dụ 2, Vụ án Nguyễn Lê Kiên trên đây, những người

làm chứng Mừng, Thường, Thơ, khai khi ra khỏi quán chị

Hiền thì những thanh niên này đi thành hai nhóm: Nhóm đi

trước gồm Thường, Mừng, Thơ, nhóm đi sau gồm bị cáo

Sử Kiên và người làm chứng Tuấn. Nhưng người làm

chứng Linh lại khai các thanh niên này đi thành một nhóm.

Đây là những mâu thuẫn nhưng không tiến hành đối chất

giữa Linh với những người làm chứng khác. Hoặc là, Sử

khai thấy Công đánh Kiên thì lao vào dùng dao đâm Công

3 đến 4 nhát. Nhưng Thường, Linh, Mừng lại khai Kiên là

người đánh Công. đây là những mâu thuẫn nhưng không

được đối chất giữa Sử với những người làm chứng khác để

xác định lại sự thật khách quan của vụ án(2j.

(1) Nguồn báo pháp luật Việt Nam ngày 22.5.2007.

(2) Nguồn hồ sơ vụ án tại VKSNDTC.

7. Kỹ năng nghiên cứu biên bản khám nghiệm hiện trường,

khám nghiệm tử thi

Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi là hoạt động

điều tra được tiến hành khi vụ án có hiện trường và có tử thi nhằm

nghiên cứu, ghi nhận, mô tả hiện trường, phát hiện, thu lượm,

đánh giá các dấu vết, tin tức, đồ vật, tài liệu có liên quan tại hiện

trường để phục vụ cho công tác điều tra, phát hiện tội phạm. Theo

quy định tại Điều 150 và Điều 151 Bộ luật TTHS thì mọi trường

hợp khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi đều có Kiểm

sát viên tham gia. Vì vậy, nếu Kiểm sát viên đã tham gia khám

nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và nay được cử tham gia

giữ quyền công tố tại phiên toà thì đây là một thuận lợi, tuy nhiên

trong quá trình chuẩn bị thực hành quyền công tố, Kiểm sát viên

cần nghiên cứu kỹ một lần nữa các biên bản khám nghiệm hiện

trường, khám nghiệm tử thi để tiếp tục xem xét, đánh giá các tình

tiết của vụ án một cách khách quan và thận trọng. Nghiên cứu

biên bản khám nghiệm hiện trường, tử thi, Kiểm sát viên cần kiểm

tra về tính hợp pháp và tính có căn cứ của biên bản.

a- Kiểm tra về tính hợp pháp của biên bản khám nghiệm. Kiểm

sát viên nghiên cứu biên bản để kiểm tra khi cơ quan điều tra tiến

hành việc khám nghiệm đã thành lập hội đồng khám nghiệm chưa?

Ngoài 3 thành phần bắt buộc là Điều tra viên, Kiểm sát viên và

người chứng kiến thì còn ai trong số những người sau đây tham gia

nữa như các nhà chuyên môn về khoa học kỹ thuật, bác sỹ pháp y,

chuyên gia về súng đạn, chất nổ, chất cháy, có thể cho bị can, người

bị hại, gia đình nạn nhân, người làm chứng được tham dự. Vì vậy,

cần kiểm tra kỹ biên bản để xem cuộc khám nghiệm đó đã có đủ

thành phần chưa? Kết thúc việc khám nghiệm Hội đồng đã thông

qua biên bản như thế nào? Những người tham gia ký vào biên bản

ra sao? Nếu qua nghiên cứu phát hiện biên bản khám nghiệm có vi

phạm pháp luật thì Kiểm sát viên phải yêu cầu khắc phục ngay. Ví

dụ, biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông tại

đường Láng - Hoà Lạc ngày 19.11.2001 do cán bộ phòng cảnh sát

giao thông và không có Kiểm sát viên dự thì biên bản đó đã vi phạm

pháp luật, nên phải yêu cầu khắc phục ngay, nếu không có biện

pháp khắc phục thì biên bản đó sẽ không có giá trị pháp lý.

b- Kiểm tra về tính có căn cứ của biên bản khám nghiệm. Hoạt

động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi có bốn công

việc quan trọng là: Chụp ảnh, vẽ sơ đồ hiện trường, mô tả hiện

trường vào biên bản và cuối cùng là thu lượm, bảo quản vật chứng,

tài liệu thu được tại hiện trường. Đây là những nội dung hết sức cơ

bản của việc khám nghiệm hiện trường nên Kiểm sát viên phải

nghiên cứu thật kỹ về tính có căn cứ của các tài liệu này.

c- Về bản ảnh. Kiểm sát viên phải kiểm tra kỹ xem có bao

nhiêu ảnh, gồm những thể loại nào? có đủ ảnh chụp toàn cảnh,

ảnh trung tâm, ảnh từng phần và ảnh chi tiết không? Kỹ thuật

và phương pháp chụp đã đúng chưa? So sánh ảnh chụp hiện

trường với sơ đồ hiện trường có gì phù hợp hoặc mâu thuẫn. Thực

tiễn cũng có trường hợp ảnh chụp hiện trường và sơ đồ hiện

trường có sự khác nhau, làm cho việc đánh giá các tình tiết của

vụ án rất phức tạp.

Ví dụ, Tại bản ảnh của vụ án tai nạn giao thông trên

đường Láng- Hoà Lạc, có chụp hai vết phanh Ô tô mà sau

này kết luận điều tra khẳng định đó là vết phanh Ô tô Matiz

gây tai nạn. Nhưng vì việc chụp ảnh rất cẩu thả, không có

số đo tỷ lệ nên không thể xác định được độ dài của vết

phanh, từ đó không xác định được tốc độ xe khi gây tai

nạn. Sai lầm có tính chất kinh điển này dẫn đến việc đánh

giá các tình tiết của vụ án rất phức tạp và do vậy vụ án bị

khiếu nại kéo dài, gây bức xúc trong dư luận (1).

d. Về sơ đồ hiện trường. Kiểm sát viên cần kiểm tra bản vẽ sơ

đồ hiện trường để xem đã có đủ sơ đồ chung, sơ đồ từng phần và sơ

đồ chi tiết chưa? Kiểm sát viên cần chú ý nghiên cứu kỹ sơ đồ hiện

trường có phù hợp với bản ảnh và biên bản mô tả hiện trường

không? Các số đo, mô hình hiện trường đã được thể hiện đầy đủ

trên sơ đồ chưa? Thực tiễn có nhiều vụ án, trên cơ sở sơ đồ hiện

trường mà có thể đánh giá được vụ án xảy ra như thế nào và tính

chất của nó ra sao. Tuy nhiên, cũng có sơ đồ hiện trường không rõ

kích thước, số đo nên không phản ảnh được hiện trường vụ án diễn

ra như thế nào và có mâu thuẫn với các tài liệu khác không. Vì vậy,

Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ sơ đồ hiện trường, đối chiếu với

các tài liệu khác để xem sơ đồ hiện trường được đo, vẽ có phù hợp

với các tài liệu khác hay không, có làm căn cứ để đánh giá các tình

tiết của vụ án được không?

đ. Kiểm tra việc thu lượm, bảo quản dấu vết, tài liệu, đồ vật.

Đây là những dấu vết vật chất cần thiết cho việc nghiên cứu sử

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

dụng trong quá trình điều tra, phát hiện tội phạm. Do vậy khi

nghiên cứu, Kiểm sát viên phải kiểm tra việc khám nghiệm hiện

trường đã được thu lượm đầy đủ các dấu vết, tài liệu, đồ vật như

thế nào, đặc điểm các dấu vết đó ra sao, kích thước, màu sắc, số

lượng, trọng lượng. Ví dụ, khám nghiệm hiện trường vụ án giết

người thì đã thu các tài liệu, đồ vật có tính chất truy nguyên thủ

phạm như hung khí, phương tiện phạm tội, quần áo, lông tóc, dấu

vết trên thân thể nạn nhân có đặc điểm gì? Đã tiến hành lấy các

mẫu chất để giám định như mẫu máu nạn nhân, thức ăn trong dạ

dày nạn nhân v.v.

Ví dụ, Vụ án giết người và hiếp dâm ở Quảng Ninh

Buổi chiều ngày 05. 3. 2002 cháu gái tên là M. đi chăn

trâu nhưng đến tối không thấy về. Gia đình đi tìm và phát

hiện cháu bị giết và bị hiếp dâm. Khám nghiệm hiện

trường thu giữ một điếu thuốc lá hút dở và một số mẫu vật

khác như. một sợi lông màu đen dài 6cm. Khám nghiệm tử

thi thu giữ mẫu máu nạn nhân, mẫu tinh dịch trong âm

đạo Quá trình điều tra cơ quan điều tra có tình nghi Trịnh

Văn Tí và tiến hành lấy lời khai, lấy mẫu máu, lấy lông bộ

phận sinh dục. Sau đó Tý bỏ trốn. Nhờ việc thu lượm các

mẫu vật tại hiện trường và tử thi nên khi giám định AND từ

điếu thuốc lá mẫu lông và tinh dịch trong âm đạo nạn

nhân và các mẫu máu và lông thu trên người Tý thì khẳng

định Tý là người thực hiện hành vi giết và hiếp dâm cháu

M. Ngày 28. 6. 2006 bắt được Trịnh Văn Tý. Tại phiên Toà,

với các chứng cứ không thể chối cãi được, Trịnh Văn Tý đã

cúi đầu nhận tội (1).

Đối với hiện trường vụ tai nạn giao thông thì cần kiểm tra xem

đã thu lượm các dấu vết va chạm và vết phanh xe chưa. Đối với

hiện trường vụ cháy nổ thì chú ý kiểm tra xem đã thu giữ các chất

gây cháy như như thế nào? Đây là những dấu vết, tài liệu rất quan

trọng để qua đó giúp cho cơ quan điều tra xác định phương hướng

điều tra. Tuy nhiên, trong nhiều cuộc khám nghiệm hiện trường,

khám nghiệm tử thi, việc thu lượm, bảo quản các dấu vết, tài liệu,

đồ vật tại hiện trường chưa được cẩn thận, còn xảy ra tình trạng

thu lượm không đầy đủ, những tài liệu cần thiết liên quan đến vụ

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

án, ngược lại có những dấu vết không liên quan lại được thu lượm.

Ví dụ, Vụ án ông Trương ngọc Minh bị giết chất tại

thành phố Hồ Chí Minh

Khi tiến hành thu lượm các chất gây cháy làm ông Minh

chết cơ quan điều tra có thu phía sau nhà bị can 01 lon

loại 0 8 lít còn dính dầu và loại 01 lít còn dính xăng, thu

bên phòng ông Minh một lon thiếc, dung tích rất bị cháy

ám khói. Nhưng bị can lại khai nhà bị can chỉ có một chiếc

lon loại 01 lít đựng dầu mà công an đã thu. Như vậy, với

cách thu lượm các dấu vết, đồ vật như hiện trường này thì

việc xác định chiếc lon loại 0,8 lít có hay không? Chiếc lon

loại 01 lít thực chất là đựng dầu hay xăng? Và như vậy vụ

án càng điều tra càng bế tắc do không xác định được chất

gây cháy trong vụ án này là chất gì. Đây là những mâu

thuẫn mà quá trình điều tra mất rất nhiều thời gian, công

sức nhưng không giải quyết được(1).

g Biên bản mô tả hiện trường. Sau khi nghiên cứu bản ảnh, sơ

đồ hiện trường, các dấu vết, tài liệu đã thu lượm, Kiểm sát viên cần

chú ý kiểm tra biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm

tử thi được ghi chép, mô tả hiện trường như thế nào, đã ghi đầy đủ

kết quả đo đạc, dựng mô hình, vẽ sơ đồ, đủ các dấu vết, đồ đạc, tài

liệu của hiện trường, tử thi chưa? Những dấu vết, tài liệu thu lượm

được tại hiện trường, tử thi có được mô tả đầy đủ trong biên bản

không và có phù hợp với đặc điểm riêng của dấu vết, tài liệu đã

được thu lượm không? Các dấu vết đó được thu giữ, niêm phong,

đóng gói, ký xác nhận và bảo quản như thế nào. Những ý kiến của

người tham dự, chứng kiến được ghi trong biên bản ra sao?

Sau khi nghiên cứu biên bản khám nghiệm hiện trường, khám

nghiệm tử thi, Kiểm sát viên đối chiếu với các tài liệu điều tra khác

để xem giá trị chứng minh của các tài liệu, vật chứng đã thu lượm

được như thế nào. Đồng thời, qua nghiên cứu cần kiểm tra, so sánh

các dấu vết, vật chứng với các chứng cứ khác để xem giữa chúng có

sự phù hợp hay mâu thuẫn. Những thông tin từ hiện trường đã

được Điều tra viên sử dụng trong việc điều tra phát hiện tội phạm

(1). Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

như thế nào?

Gần đây, việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi

đã có nhiều cố gắng trong việc bảo đảm thực hiện đúng các quy

định của pháp luật, góp phần cho việc điều tra, truy tố được kịp

thời chính xác nhất là đối với các vụ án phức tạp, nghiêm trọng. Do

có nhiều cố gắng trong việc khám nghiệm hiện trường và Kiểm sát

viên nắm chắc các nội dung của biên bản khám nghiệm, nên trong

nhiều trường hợp bị can không nhận tội nhưng với các chứng cứ

thu được tại hiện trường vẫn có đủ căn cứ đấu tranh với bị cáo và

làm tài liệu chứng minh thuyết phục Hội đồng xét xử và những

người tham dự phiên toà.

Ví dụ, Vụ án Lê Hoàng Dũng phạm tội giết người7 cướp

của ở thành phố H

Đây là vụ án đã làm tốt việc khám nghiệm hiện trường.

Chị Đặng Minh Tiên (là con gái ông Đặng Minh Hà) có

thuê Lê Hoàng Dũng làm người giúp việc. Hàng ngày

Dũng có nhiệm vụ đi đưa thịt heo giao cho các đầu mối với

ngày công là 40.000 đồng/ngày. Trong thời gian phụ việc

cho chị Tiên, Lê Hoàng Dũng đã nảy sinh ý định chiếm

đoạt tài sản của gia đình. Ngày 08. 5.2005, sau khi chở chị

Tiên và chị Trần Thị Kim Oanh (là em dâu chị Tiên) ra chợ

Hoà Bình, Quận 7, Thành phố HỒ Chí Minh, Dũng không

trở lại chợ Hoà Bình để phụ việc cho chị Tiên như mọi ngày

mà quay về nhà chị Tiên. Dũng đã vào nhà chị Tiên và mở

tủ lục tìm tài sản. Trong lúc Dũng đang lục tìm tài sản thi

bị ông Đặng Minh Hà phát hiện. Sợ bị lộ, Dũng đã lấy cây

xà beng bằng sắt đánh mạnh một cái vào đầu ông Hà, làm

ông Hà ngã té xuống đất. Sau đó Dũng đánh mạnh nhiều

nhát vào đầu ông Hà nữa. Tiếp đến, Dũng còn dùng dao

đâm nhiều nhát vào ngực ông Hà và dùng dao cắt cổ ông

Hà cho đến khi ông Hà chết hẳn. Sau khi giết chết ông Hà,

Dũng đã lục soát quần áo của ông Hà để lấy tiền, chạy lên

gác để tiếp tục lục tìm tài sản nhưng không thấy tài sản

nào nhỏ, gọn để lấy nên đã trốn ra khỏi nhà. Két quả giám

đinh pháp y kết luận ông Hà bị chết do chấn thương sọ

não và do vết thương cắt cổ.

Vụ án này được khám nghiệm hiện trường rất cẩn thận,

tỷ mỹ, nên góp phần quan trọng trong việc xác đinh

phương hường điều tra, truy tìm thủ phạm gây án. Khám

nghiệm hiện trường, cơ quan điều tra đã thu con dao gây

án, cây xà beng gây án và đặc biệt cơ quan đã lấy được

dấu vân tay trên cánh cửa kính tủ bịch phê của chị Tiên,

vết máu trên cây xà beng. Tại bản giám định ngày

22.5.2005 (bút tục số 280) kết luận: Dấu vân tay thu được

trên cánh cửa kính và vân tay của Lê Hoàng Dũng là một.

Tại bản giám đinh ngày 11 . 7. 2005 (bút tục số 2 79) kết

luận: máu thu được trên xà beng là cùng nhóm máu với

ông Hà. Với những chứng cứ không thể chối cãi được, Lê

Hoàng Dũng đã cúi đầu nhận tội(1)

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên đây, công tác khám

nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi còn nhiều thiếu sót

khuyết điểm. Có nhiều cuộc khám nghiệm cẩu thả, luộm thuộm, vi

phạm về trình tự, thủ tục, thành phần tham dự, không thu thập

đầy đủ các dấu vết, vật chứng, biên bản thì không ghi đầy đủ các

đặc điểm của hiện trường, tử thi việc do vẽ, chụp ảnh không đầy

đủ, khi thu giữ dấu vết, vật chứng thì để mất mát, hư hỏng, thất

lạc, không có giá trị chứng minh, từ đó xác định phương hướng

điều tra không chính xác. Có những biên bản sửa chữa cả ngày,

tháng, không có các chữ ký xác nhận cần thiết, có biên bản người

lập và người tham gia không ký vào biên bản... Những thiếu sót này

đã làm cho việc giải quyết vụ án bị kéo dài, không khách quan và

có trường hợp bị bế tắc. Trong khi đó, Kiểm sát viên tuy có tham

gia kiểm sát việc khám nghiệm, nghiên cứu biên bản khám

nghiệm nhưng nhiều trường hợp không phát hiện vi phạm để yêu

cầu khắc phục. Do vậy, thiếu sót trong công tác khám nghiệm vừa

qua có phần trách nhiệm của các Kiểm sát viên không chỉ trong

khi tham gia kiểm sát việc khám nghiệm mà còn có thiếu sót khi

nghiên cứu biên bản khám nghiệm.

Ví dụ 1, Vụ án Huỳnh Văn Nam "phạm tội giết người"

ở tỉnh Đ

Theo bản kết luận điều tra của cơ quan điều tra thi tối

ngày 08.4. 1992, Huỳnh Văn Nam và Phạm Minh Phương

phục Ở khu vực nhà ông Tư HỘ để cướp tài sản của anh

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

Phạm Minh Thông, nhân viên thu tiền điện. Khi thấy anh

Thông đi xe đạp về, Nam chạy ra ôm anh Thông, sau đó

Nam rút dao ra đâm anh Thông một nhát và đẩy anh

Thông xuống sông. Phương đứng bên cạnh hỗ trợ Nam.

Thấy anh Thông chết, Nam và Phương bỏ chạy. Khi khám

nghiệm hiện trường, cơ quan điều tra có thu thập vết máu

dính trên cây cỏ, nhưng khi lập biên bản không ghi vết

máu đó thu ở đâu, thu lúc nào và thu như thế nào; việc mô

tả vết thương của nạn nhân không rõ ràng về cơ chế hình

thành vết thương, do đó không thể xác đinh được cụ thể về

tư thế cách thức bị can dùng dao đâm nạn nhân như thế

nào. Vì vậy, khi bi cáo phản cung, Kiểm sát viên không có

đầy đủ chứng cứ để tranh luận với bị cáo và người bào

chữa và do vậy không bảo vệ được cáo trạng(~

Ví dụ 2, Vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương

tiện giao thông đường bộ xảy ra trên đường Láng - Hoà Lạc.

 

Nghiên cứu các tài liệu về khám nghiệm hiện trường, sơ

đồ hiện trường, bản ảnh thấy các tài liệu này đều bị sửa

chữa rất nhiều. Theo bản kết luận giám định số

34 1 8/C2 1 (P7) ngày 13 . 1 2. 2002 của Viện Khoa học hình

sự Bộ Công an thì các văn bản như. "Biên bản khám

nghiệm xe liên quan đến tai nạn giao thông bổ sung" ngày

~9.12.2001; "Biên bản khám nghiệm xe liên quan đến tai

nạn giao thông ngày 21. 11.2001; "Biên bản khám nghiệm

hiện trường tai nạn giao thông Ô tô với xe đạp" ngày

19.11.2001; "Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông

ngày 19. 11.2001 đều có sửa đổi chữ số và chữ viết. Việc

sửa đổi này đã làm cho các tài liệu này không những mất

giá trị chứng minh mà còn làm cho việc đánh giá, kết luận

các tình tiết của vụ án rất phức tạp. Có thể nói đây là vi

phạm điển hình về khám nghiệm hiện trường vụ án tai nạn

giao thông, là nguyên nhân dẫn đến những khiếu nại kéo

dài và bức xúc (1)

8. Kỹ năng nghiên cứu biên bản nhận dạng

Nhận dạng là hoạt động điều tra nhằm mục đích khắc phục sự

nhầm lẫn, sai lầm trong nhận thức của người làm chứng, người bị

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

hại, bị can bằng cách cho những người này xác nhận lại đối tượng

mà mình đã khai trước đây. Trong hồ sơ vụ án, biên bản nhận dạng

có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá chứng cứ. Do vậy, cũng

như các tài liệu khác, khi nghiên cứu biên bản nhận dạng Kiểm sát

viên cần lưu ý các nội dung sau đây:

a- Kiểm tra tính hợp pháp của biên bản nhận dạng. Căn cứ

Điều 139 Bộ luật TTHS, Kiểm sát viên cần kiểm tra xem Điều tra

viên đã giải thích cho những người nhận dạng biết trách nhiệm về

việc từ chối, trốn tránh nhận dạng hoặc cố tình nhận dạng gian dối

chưa? Đối với người nhận dạng dưới 16 tuổi thì Điều tra viên có

mời cha, mẹ, người đại diện hợp pháp tham dự không? Người

chứng kiến việc nhận dạng đã có mặt đầy đủ chưa? Đối tượng nhận

dạng là người, ảnh, vật có đủ tối thiểu số lượng là ba hay không?

Nếu là vật thì có bề ngoài giống nhau về kích thước, màu sắc,

chủng loại, hình dáng, nhãn hiệu không; nếu là người thì có gần

nhau về tuổi, tầm thước, hình dáng, khuôn mặt, tóc, mắt, kiểu ăn

mặc quần áo không? Biên bản nhận dạng đã lập theo quy định của

pháp luật chưa, những người tham gia nhận dạng đã ký vào biên

bản và có ghi thêm về nội dung nào nữa không? Đây là các thủ tục

bắt buộc, nếu có vi phạm thì Kiểm sát viên ghi chép đầy đủ để yêu

cầu cơ quan điều tra khắc phục.

b- Kiểm tra tính có căn cứ của biên bản nhận dạng. Kiểm sát

viên phải kiểm tra xem Điều tra viên đã đưa ra các câu hỏi về

những tình tiết, đặc điểm, vết tích với người nhận dạng và nhờ đó

họ có thể nhận dạng được như thế nào, nếu câu hỏi có tính chất gợi

ý là vi phạm cần được ghi chép đầy đủ để yêu cầu khắc phục. Khi

người nhận dạng đã nhận dạng được một vật, người, ảnh thì họ đã

giải thích như thế nào về căn cứ, đặc điểm gì mà họ nhận dạng

được Những nội dung này đã được ghi đầy đủ trong biên bản nhận

dạng chưa?

Nhận dạng là quá trình hồi tưởng lại một đối tượng mà họ đã

ghi nhớ trước đây, nhằm khắc phục sai lầm, thiếu khách quan,

không chính xác trong lời khai của người được nhận dạng. Đây là

nguồn chứng cứ quan trọng của vụ án. Thực tiễn có nhiều vụ án

việc tổ chức nhận dạng tốt, góp phần đánh giá chứng cứ khách

quan, toàn diện. Tuy nhiên, cũng có trường hợp chưa làm tốt việc

nhận dạng, làm cho các lời khai mâu thuẫn không được giải

quyết triệt để, dẫn đến việc giải quyết vụ án bị kéo dài, không

khách quan.

 

Ví dụ 1, Vụ án Lê Bá Mai ở tỉnh B

Trong vụ án này có hai người làm chứng là cháu Hằng

và Điếu Ky. Trong mối quan hệ giữa những người làm

chứng thì Hằng gọi út bằng dì, còn út là con của Điếu Ky.

Thoạt đầu, cháu Hằng khai có một thanh niên khoảng 18

đến 20 tuổi chở út vào vườn mít, chưa biết người ấy là ai.

Vậy mà trong lời khai tiếp theo Hằng khai người đó là Mai.

Còn lời khai của Điếu Ky sau đó cũng thay đổi cho khớp với

lời khai của Hằng: Lúc đầu không rõ ai chở út, khi Hằng

khai lại thì Điếu Ky khai hùa theo người đó là Mai. Thế

nhưng cơ quan quan điều tra không cho Hằng và Điếu Ky

nhận dạng Mai. Mặt khác, bị can Mai khai út mặc quần

lửng xám, khi lại khai mặc quần lửng thun trắng đục, còn

Hằng và Điếu Ky lại khai út mặc quần lửng xanh, trong lúc

đó biên bản khám nghiệm hiện trường thì ghi "xiết quanh cổ

nạn nhân là chiếc quần thun ống dài. . . n Nhưng tiếc rằng

các cơ quan tố tụng (Điều tra viên và Kiểm sát viên) không

hề tổ chức cho họ nhân dạng. V vậy, đây cũng là một trong

những nguyên nhân vụ án bị huỷ để điều tra lại từ đầu(1).

Ví dụ 2, Vụ án Lê Hoàng Thắng phạm tội giết người

Theo cáo trạng thì khoảng 22h ngày 16.8.2005, do mâu

thuẫn với anh trai là Lê Văn Thành, Thắng đã rút cây tuốc

tơ vít đâm vào vùng vai anh Thành, làm anh Thành ngã,

sau đó anh Thành được đưa đi cấp cứu tai bệnh viện và

đã chết. Bị cáo khai lúc dùng dao đâm anh Thành, lúc thì

khai dùng tuốc tơ vít đâm. Giám đinh vết thương xuyên

qua dưới xương đòn gây đứt động mạch và xuyên vào

phổi. Vết thương đó do tuốc tơ vít gây nên. Thế nhưng Cơ

quan điều tra chỉ cho bị cáo nhận dạng con dao, không

tiến hành nhận dạng tuốc tơ vít. Như vậy, việc tiến hành

nhận dạng trong vụ án này là chưa đầy đủ. Cùng với các

mâu thuẫn khác các mâu thuẫn trên đây là nguyên nhân

dẫn đến, vụ án này đã bị huỷ để điều tra lại từ đầu(2).

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

(2) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

 

9. Kỹ năng nghiên cứu biên bản khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ

vật thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm

Đây là tài liệu tố tụng phản ảnh nội dung, kết quả việc khám

xét thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án. Đây

cùng là nguồn chứng cứ của vụ án. Vì vậy, khi nghiên cứu biên bản

này, Kiểm sát viên cần chú ý các nội dung sau đây:

a- Kiểm tra tính hợp pháp của biên bản. Kiểm sát viên chú ý

kiểm tra biên bản đó đã được lập theo đúng quy định của pháp luật

chưa? Ai ra lệnh, ai là người thi hành? Điều tra viên đã giải thích

quyền, nghĩa vụ cho những người có mặt. biết chưa? Khi khám xét

chỗ ở, địa điểm, chỗ làm việc thì ngoài các thành viên trong gia

đình còn có đại diện chính quyền địa phương không? Nếu thu giữ

thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm thì có người phụ trách cơ

quan bưu điện chứng kiến không? Nếu thu giữ đồ vật thì đã niêm

phong chưa, có chữ ký của người chủ đồ vật không? .Ai là người

được giao bảo quản? v.v.

b- Kiểm tra nội dung biên bản. Kiểm sát viên cần kiểm tra xem

nội dung biên bản đã phản ánh đầy đủ diễn biến của việc khám xét

chưa? Các loại vật chứng, tài liệu, đồ vật, liên quan đến vụ án đã

được thu giữ như thế nào, số lượng, chủng loại ra sao, cách ghi

chép, thống kê các đồ vật bị thu giữ như thế nào? Thái độ của người

bị khám xét ra sao?

Kiểm sát viên phải nghiên cứu, nắm chắc các vật chứng, đồ vật,

tài liệu thể hiện trong biên bản như thế nào, trên cơ sở đó kiểm tra

xem Cơ quan điều tra đã xác minh làm rõ chưa? Các đồ vật, thư tín,

tài liệu, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm đã được xác minh như thế nào

và so sánh với các chứng cứ khác xem nó phù hợp hay mâu thuẫn

để xác định giá trị chứng minh của nguồn chứng cứ này? Đối chiếu

với các lời khai của bị can và những người khác có liên quan như

người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan khai về các đồ vật đã thu giữ như thế nào? Những nội dung

nào chưa được xác minh thì ghi chép để yêu cầu làm rõ. Tiến hành

kiểm tra các đồ vật đã được thu giữ có bị mất, hư hỏng gì không?

10. Kỹ năng nghiên cứu biên bản thực nghiệm điều tra

Theo quy định tại Điều 153 Bộ luật TTHS thì để kiểm tra, xác

minh những tài liệu, tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án, Cơ quan

điều tra hoặc Viện kiểm sát sẽ tiến hành thực nghiệm điều tra và

phải lập biên bản theo đúng quy định của pháp luật. Do vậy, biên

bản thực nghiệm điều tra là nguồn chứng cứ quan trọng của vụ án.

Khi nghiên cứu biên bản thực nghiệm điều tra Kiểm sát viên cần

chú ý các nội dung cơ bản sau đây:

a. Kiểm tra tính hợp pháp của biên bản thực nghiệm điều tra.

Thực nghiệm điều tra do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiến

hành, tuy nhiên trong trường hợp cần thiết người bị tạm giữ, bị

can, người bị hại, người làm chứng cũng có thể tham dự. Do vậy,

khi nghiên cứu biên bản thực nghiệm điều tra Kiểm sát viên cần

kiểm tra buổi thực nghiệm hôm đó gồm có những người nào tham

dự, những người đó đã ký vào biên bản chưa? Kiểm tra việc mô tả

hiện trường thực nghiệm như thế nào, có gần đúng với hiện trường

thực không? Điều luật không quy định hiện trường thực nghiệm

như thế nào nhưng thực tiễn cho thấy hiện trường thực nghiệm

phải là hiện trường gần giống như hiện trường thật. Ví dụ, hiện

trường vụ án xảy ra ban đêm thì hiện trường thực nghiệm cũng

phải vào ban đêm;

b- Kiểm tra tính có căn cứ của biên bản thực nghiệm điều tra.

Kiểm sát viên cần kiểm tra xem những người thực nghiệm đã diễn

lại các hành vi, tình huống hoặc các hoạt động khác như thế nào.

Hành vi diễn lại đó có phù hợp với lời khai của họ và phù hợp với

hiện trường không? Cơ quan điều tra đã đo đạc, chụp ảnh, vẽ sơ đồ

hiện trường thực nghiệm như thế nào? Trong trường hợp bị can

diễn lại hành vi giết người, người bị hại có thể mô tả trên hiện

trường nơi mình có mặt về những gì mà mình đã biết thì có phù

hợp với nhau hay không? Luật cũng quy định khi thực nghiệm điều

tra không được xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người

tham gia việc khám nghiệm hiện trường.

Thực tiễn cho thấy rằng, nếu vụ án nào mà bị can nhận tội thành

khẩn, những người làm chứng có lời khai chính xác về hành vi phạm

tội của bị can thì cuộc thực nghiệm điều tra sẽ có kết quả tốt. Ngược

lại, việc thu thập chứng cứ yếu thì thực nghiệm điều tra không có kết

quả cao. Đặc biệt, nếu công tác thực nghiệm không được chuẩn bị chu

đáo, cẩn thận thì cũng không có kết quả. Ví dụ, bị cáo dùng thang tre

để trèo tường nhưng thực nghiệm lại đưa ra chiếc thang sắt, vụ án

xảy ra ban đêm lại thực nghiệm vào ban ngày.

Ví dụ, Vụ án giết ông Trương Ngọc Minh và bà Huỳnh

Thị Thiên Nga tại thành phố H

Theo kết luận điều tra thì khoảng 3 giờ sáng ngày

~3.9.1993, Phạm Thị út đã dùng thang tre (dựa vào bức

tường cao 3,4m ngăn cách giữa phòng người bị hại và

phòng của út) trèo lên tường và tạt xăng xuống thường của

hai người đang ngủ và phóng hoả đốt làm ông Minh, bà

Nga bi thương, sau đó được đi cấp cứu và chất tại bệnh

viện. Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra

vào 9h ngày 01.8.2003. Buổi thực nghiệm trong điều kiện

hoàn toàn ánh sáng tự nhiên (ban ngày). Như vậy, điều

kiện xảy ra vào ban đêm nhưng lại thực nghiệm vào buổi

sáng. Chưa hết, phương tiện thực nghiệm gồm một cái

thang tre cao 3,4m, bức tường cao 3,4m. Còn phương

pháp thực nghiệm để bị can lần lượt đứng dưới đất, đứng

trên tủ cao 1, 7m để thực nghiệm. Tuy nhiên, các bức ảnh

chụp cảnh thực nghiệm điều tra lại cho thấy.

- Người thực hiện việc diễn lại hiện trường là đồng chí

công an, chứ không phải bị can;

- Chiếc thang dùng thực nghiệm là thang sắt chứ không

phải thang tre;

- Không gian thực hiện là bãi trống không có bức tường.

Với sự khác biệt về hiện trường chính và hiện trường

thực nghiệm nên Viện kiểm sát đã yêu cầu giám định lại.

Do vậy, 3h sáng ngày 25. 5. 2005 Cơ quan điều tra lại tiếp

tục thực nghiệm điều tra. Theo kết luận điều tra thì trong

phòng đều bị cháy hoá than, bức tường gạch bị ám khói

đen gần hết, cây gỗ trên tường còn cháy, thời gian cháy

15 phút. Tuy nhiên, lần thực nghiệm này cho thấy. khi tạt

xăng vào chỉ tạo ra một đám cháy nhỏ hơn nhiều, chỉ

thủng một lỗ thủng nhỏ trên giương, màn và ngô chỉ cháy

nham nhở, bức tường gạch bị ám khói đen thời gian cháy

6 phút. Dấu vết để lại trên cây thang tre có ám khói, nhưng

cây thang tre có tại hiện trường không có ám khói. . . Như

vậy kết quả thực nghiệm điều tra không phù hợp với hiện

trường của vụ án nên đây là một trong các nguyên nhân

làm thay đổi cơ bản các tình tiết của vụ án. Do đó, án phúc

thẩm đã tuyên bị cáo Út không phạm tội(1).

11. Kỹ năng nghiên cứu kết luận giám định

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

Theo quy định tại Điều 155 Bộ luật TTHS, khi thấy cần thiết

để kết luận những vấn đề liên quan đến vụ án thì cơ quan tiến

hành tố tụng trưng cầu giám định. Cơ quan giám định sẽ kết luận

theo nội dung trưng cầu của cơ quan yêu cầu. Như vậy, kết luận

giám định cũng là một nguồn chứng quan trọng của vụ án. Vì vậy,

khi nghiên cứu kết luận giám định Kiểm sát viên cần lưu ý các nội

dung sau đây:

a- Kiểm tra tính hợp pháp của kết luận giám định. Nghiên cứu

bản kết luận giám định Kiểm sát viên cần kiểm tra xem thành

phần hội đồng khám nghiệm gồm những ai, có đủ trình độ để giám

định không? Kiểm tra trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn của

người giám định. Đặc biệt, Kiểm sát viên cần kiểm tra xem những

người giám định có phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi

trong những trường hợp theo quy định của pháp luật hay không;

b- Về tính có căn cứ của nội dung kết luận. Kiểm sát viên cần

kiểm tra xem cơ quan yêu cầu giám định những nội dung gì, các đồ

vật, tài liệu cần giám định như thế nào, các mẫu vật tài liệu để so

sánh ra sao? Cơ quan giám định đã áp dụng các phương pháp,

phương tiện giám định như thế nào, có kết luận từng vấn đề ra sao,

việc trả lời đã rõ ràng, chính xác từng câu hỏi của cơ quan trưng cầu

giám định chưa? Có nội dung trả lời nào mà Kiểm sát viên còn băn

khoăn, chưa hiểu? Nếu cơ quan trưng cầu hỏi thêm thì cơ quan giám

định đã trả lời như thế nào. Nghiên cứu bản kết luận giám định để

phân tích, đánh giá các tài liệu, đồ vật, dấu vết dưới góc độ chuyên

môn để làm sáng rõ về giá trị chứng minh của nó, trên cơ sở đó làm

sáng rõ các tình tiết của của vụ án. Vì vậy, nếu kết luận giám định

chưa đáp ứng được yêu cầu thì có thể trưng cầu giám định lại.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 155 Bộ luật TTHS thì có 5

trường hợp bắt buộc phải giám định: Nguyên nhân chết, tính chất

thương tật, tổn hại sức khoẻ; tình trạng tâm thần của bị can; tình

trạng tâm thần của người làm chứng, người bị hại; tuổi của bị can,

bị cáo, người bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với vụ án; chất độc, ma

tuý phóng xạ, tiền giả. Vì vậy, Kiểm sát viên cần kiểm tra kỹ, nếu

những trường hợp trên đây chưa được giám định, hoặc kết luận giám

định chưa rõ ràng thì phải yêu cầu giám định hoặc giám định lại.

Ví dụ, Vụ án 15, ngõ Yên Thế, thành phố Hà Nội

Do vợ chồng Trần Trung Phúc và Nguyễn Thị Hợi chiếm

nhà của gia đình ông Nguyễn Thế Bưu nên đã xảy ra việc

gia đình ông Bưu chuyển đồ đạc của vợ chồng Phúc và

Hợi ra khỏi nhà để lấy lại nhà của minh vào trưa ngày

07. 3. 1972. Sau khi sự việc xảy ra, những người làm chứng

đều khai là bi can Phúc không bị đánh mà vẫn đi lại bình

thường. Nhưng đến tối hóm đó, Phúc được gia đình đưa

vào bệnh viện Xanh- Pôn điều trị và phòng khám bệnh

viện đã ghi. "hai bên gò má bi đau bầm tím nhiều, sưng to'?

Trần Trung Phúc cho rằng bị người nhà ông Bưu đánh nên

phải vào bệnh viện điều trị. Giấy chứng thương của bệnh

viện ghi "mặt sưng to xị, tím đỏ, hai bên má cân đối sưng

tím, tụ máu đỏ từ mu mắt dưới qua gò má xuống vùng

xương hàm và xương sát cổ. Vết thương đỏ nông hai bên

mặt giống hệt nhau trừ trán và mũi, mồm, cầm, răng không

gẫy? Việc Phúc có chứng thương trên đây đã làm nhiều

người làm chứng cho rằng đây là vết thương giả tạo, chứ

không có ai trông thấy Phúc bị đánh hôm đó cả.

Vụ án này do Viện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã trưng cầu giám định và

Hội đồng giám định pháp y đã kết luận ngày 21. 11. 1973:

"Chúng tôi không được khám đối tượng lúc bị thương, chỉ

nhận định qua giấy tờ để lại Tính chất của tổn thương trên

mặt anh Phúc, nếu thực như hình ảnh mô tả trong các tài

liệu của Bệnh viện Xanh- Pôn và Bệnh viện Việt Nam - Cu

Ba, mắt sưng cả hai bên theo kiểu hai mắt húp, má xị, môi

không yêu, màu đỏ đều giống nhau, từ mi mắt dưới, qua

gò má, xuống vùng xương hàm và xuống sát cổ trừ trán và

 

mũi, răng lợi nguyên vẹn, không thể hiện tính chất của một

bộ mặt bị nhiều vết bầm máu do đánh bằng vật tày Bộ

mặt tả trong các bệnh án cũng như trên tấm ảnh của Toà

phúc thẩm (má xị, mắt húp đều, màu đỏ đều và nông ở cả

vùng lồi lẫn vùng lõm xuống sát cổ, trừ trán, mũi, mồm,

cầm. Màu đỏ dịu dần và nhanh mà không đổi màu theo

kiểu vết bầm máu, niêm mạc môi lợi nguyên vẹn. Cho

phép chúng tôi nhận định rằng: Nhận xét ghi trong bản án

của bệnh viện Việt Nam - Cu Ba là có cơ sở. Chúng tôi cho

rằng trong những yếu tố gây thương tích trên mặt anh

Phúc có thể có một tác nhân vật lý hoặc hoá học nào đó

cần tìm hiểu thêm. Trên cơ sở đó khẳng định Trần Trung

Phúc đã giả thương . Trên cơ sở kết luận giám định này,

Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã truy tố và ngày

19. 12. 1976 Toà án nhân dân tối cao đã tuyên phạt Trần

Trung Phúc và Nguyễn Thị Hợi phạm tội vu khống(1).

12. Kỹ năng nghiên cứu các quyết định xử lý vụ án của Cơ quan

điều tra

Theo quy định tại các điều từ Điều 160 đến Điều 165 Bộ luật

TTHS thì sau khi kết . thúc điều tra, Cơ quan điều tra sẽ có các

quyết định: Tạm đình chỉ điều tra, truy nã bị can, kết thúc điều

tra, đề nghị truy tố, đình chỉ điều tra và phục hồi điều tra. Đây là

các quyết định tố tụng do cơ quan điều tra ban hành có liên quan

đến việc xử lý vụ án. Vì vậy, Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ để

có quan điểm của mình về các quyết định xử lý vụ án của cơ quan

điều tra.

a- Kiểm tra tính hợp pháp của các quyết đinh. Pháp luật tố

tụng hình sự quy định rất chặt chẽ các điều kiện thời gian, thẩm

quyền ra các quyết định xử lý vụ án của Cơ quan điều tra. Vì vậy,

Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ các quyết định ấy, đối chiếu với

các quy định cụ thể của điều luật để xem các quyết định ấy đã đúng

các thủ tục pháp lý chưa. Ví dụ, quyết định tạm đình chỉ thì căn cứ

vào điều kiện nào, do bị can bị tâm thần hay do hết thời hạn điều

tra mà chưa xác định được bị can đang ở đâu. Còn truy nã bị can

thì vì lý do bị can trốn hay là không biết bị can đang ở đâu, quyết

định truy nã đã được thông báo trên các phương tiện thông tin

chưa? (Thực tiễn cũng có trường hợp cơ quan điều tra có ra lệnh

truy nã, nhưng lệnh đó chỉ để trong hồ sơ, bị can, gia đình không

biết lệnh truy nã). Bản kết luận điều tra đã được lập theo đúng quy

định của pháp luật chưa, kết luận điều tra để đình chỉ hay đề nghị

truy tố. Quyết định đình chỉ điều tra đã đúng với quy định của pháp

luật chưa? Nghiên cứu lý do của việc phục hồi điều tra đã phù hợp

với các quy định của pháp luật chưa? Nghiên cứu các quyết định xử

lý của cơ quan điều tra về mặt tính hợp pháp là để Kiểm sát viên

xem xét các quyết định đó đã đảm bảo phù hợp với pháp luật chưa?

Nếu có vi phạm cụ thể nào thì yêu cầu khắc phục. Ví dụ, bản kết

luận điều tra mà cơ quan điều tra chưa tống đạt cho bị can là vi

phạm, quyết định truy nã mà cơ quan điều tra chưa có thông tin

trên các phương tiện thông tin là vi phạm. Những nội dung này

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

Kiểm sát viên cần ghi chép đầy đủ để yêu cầu khắc phục.

b- Kiểm tra về nội dung của các quyết định. Trên cơ sở nghiên

cứu toàn bộ hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên cần kiểm tra xem các quyết

định đó có căn cứ hay không? Nội dung nêu trong các quyết định có

phù hợp với các tình tiết của vụ án hay không? Ví dụ, cơ quan điều

tra căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 164 Bộ luật TTHS để

quyết định đình chỉ bị can có hành vi phạm tội theo khoản 1 Điều

104 BLHS vì người bị hại rút yêu cầu khởi tố. Tuy nhiên, hồ sơ vụ

án có tài liệu khẳng định việc người bị hại rút yêu cầu đó là do sự

khống chế, đe doạ của bị can thì quyết định đình chỉ đó là không có

căn cứ. Trong trường hợp này Kiểm sát viên cần ghi chép đầy đủ,

kết hợp với các tài liệu chứng cứ khác để báo cáo đề xuất với lãnh

đạo Viện, trao đổi với cơ quan điều tra để ra quyết định huỷ quyết

định đình chỉ của cơ quan điều tra, đưa truy tố bị can về hành vi

phạm tội nêu trên. Có nghĩa là, khi nghiên cứu các quyết định xử

lý vụ án của cơ quan điều tra Kiểm sát viên không những xem xét

(ác quyết định đó đã được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục,

thẩm quyền và thời hạn chưa mà còn cần xem xét các quyết định

đó có phù hợp với quy định của pháp luật và các tình tiết, chứng cứ

của vụ án hay không. Như vậy, Kiểm sát viên nghiên cứu các quyết

định xử lý vụ án của cơ quan điều tra để bảo đảm cho các quyết định

đó hợp pháp và có căn cứ theo quy định của pháp luật.

13. Kỹ năng nghiên cứu giải quyết các khiếu nại, tố cáo, các dư

luận xã hội về vụ án

a- Nghiên cứu, giải quyết các khiếu nại tô/cáo. Bộ luật TTHS

2003 có một chương mới (Chương XXXV) quy định về khiếu nại, tố

cáo trong tố tụng hình sự. Liên ngành tư pháp Trung ương đã có

Thông tư liên tịch SỐ02/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP-BTP hướng

dẫn thi hành một số điểm của Chương XXXV Bộ luật TTHS. Do

vậy Kiểm sát viên cần nắm vững các quy định của hướng dẫn này

để kiểm tra các khiếu nại, tố cáo đã được các cơ quan và người có

thẩm quyền thụ lý và giải quyết như thế nào, có đúng thẩm quyền

và thời gian theo quy định của pháp luật hay không. Việc khiếu

nại, tố cáo nếu đã được giải quyết mà còn tiếp tục khiếu nại, tố cáo

tiếp thì trách nhiệm thuộc cơ quan và người có thẩm quyền nào để

báo cáo, đề xuất Viện trưởng cho ý kiến.

Thực tiễn cho thấy, khi Kiểm sát viên bắt đầu tống đạt cáo

trạng thì thường phát sinh khiếu nại, tố cáo. Vì thời gian giải

quyết khiếu nại, tố cáo trong giai đoạn này rất nhanh, không được

kéo dài, do vậy Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ các khiếu nại, tố

cáo để giải quyết. Ví dụ, Theo điểm b khoản 2.3 Mục 2 Phần II của

Thông tư số 02/2005/TTLT trên đây thì "Khiếu nại liên quan đến

việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam theo lệnh của cá

nhân có thẩm quyền trong cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiên

hành một sô/ hoạt động điều tra do Viện kiểm sát có thẩm quyền

truy tô/giải quyết". Vì vậy, Kiểm sát viên phải chú ý kiểm tra các

khiếu nại, tố cáo của vụ án để nghiên cứu giải quyết dứt điểm,

không được kéo dài. Nghiên cứu, giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng

góp phần phát hiện những vi phạm, từ đó có biện pháp khắc phục.

Nếu Kiểm sát viên không chú ý đến việc giải quyết khiếu nại, tố

cáo thì không những vi phạm các quy định của Bộ luật TTHS, ảnh

hưởng đến quyền dân chủ của người khiếu nại, tố cáo mà còn là

nguyên nhân dẫn đến các khiếu kiện phức tạp.

Do vậy, Kiểm sát viên phải đối chiếu với hồ sơ vụ án~để xem

các khiếu nại, tố cáo đó đã được các cơ quan điều tra giải quyết

chưa và giải quyết như thế nào, những nội dung nào cần được xác

minh làm rõ, nội dung nào cần yêu cầu cơ quan điều tra giải quyết.

Trên cơ sở đó đề xuất phương án giải quyết theo đúng các quy định

của pháp luật. Ví dụ, khiếu nại việc cơ quan điều tra chưa tống đạt

bản kết luận điều tra thì kiểm sát viên phải kiểm tra, nếu đúng thì

trả hồ sơ cho cơ quan điều tra để thực hiện việc tống đạt kết luận

điều tra. Thực tiễn cho thấy có nhiều vụ án, do tích cực giải quyết

các khiếu nại, tố cáo nên khi xét xử, những bức xúc của người

khiếu nại được giải quyết, phiên toà cũng đỡ căng thẳng, phức tạp.

Tuy nhiên, cũng có trường hợp, Kiểm sát viên không giải quyết

hoặc giải quyết không kịp thời các khiếu nại của đương sự, làm cho

việc giải quyết vụ án thêm phức tạp.

Ví dụ, Vụ án làm cổ phiếu giả ớ thành phố H

Ngay sau khi cơ quan điều tra công an có kết luận điều

tra, ngày 29.11.2006, bà Lê Thị Thìn, mẹ của bị can Lâm

Thu Hương có đơn xin bảo lãnh cho con mình là Hương;

ngày 30. 1 1. 2006 bị can Hương cũng đã có đơn xin được

tại ngoại để "giải quyết" cái thai. Cả hai lá đơn này đều gửi

đến cùng một địa chỉ. Viện Kiểm sát thành phố. Những lá

đơn trên đều được Viện Kiểm sát thành phố đóng dấu,

đánh số bút lục và đưa vào hồ sơ vụ án (đơn bị can Hương

có bút lục số 405, đơn của bà Thìn có bút lục số 406) . Điều

đáng nói ở đây là trong suốt quá trình điều tra, truy tố, bị

can có đơn xin tại ngoại vì đang mang thai nhưng các cơ

quan tố tụng không giải quyết, đùn đẩy cho nhau. Và hậu

quả là sau khi Toà tuyên án (sáng 02.5.2007) bị cáo đã

phải vào bệnh viện phụ sản tỉnh để sinh con(1)

b- Nghiên cứu các dư luận báo chí về vụ án. 

Thực tiễn điều tra, truy tố xét xử cho thấy, quá trình giải

 quyết vụ án là quá trình các báo chí đưa tin về vụ án, trong đó

có những bài có tính chất thông tin, nhưng cũng có những bài bình luận

về vụ án. Trong các bài bình luận có thể có những bài ủng hộ cơ quan pháp

 luật, nhưng cũng có bài phê phán cơ quan pháp luật, thậm chí có bài nêu có

tính chất cường điệu vụ án. Đây là biểu hiện tính dân chủ, công

khai trong đời sống chính tả, xã hội của Việt Nam. Là người trong

cuộc, Kiểm sát viên phải hết sức bình tĩnh, cầu thị để nghiên cứu

các thông tin này và có biện pháp xử lý. Đây là các nguồn tin rất

quan trọng giúp cho Kiểm sát viên có những tư liệu để xem xét

đánh giá các tình tiết của vụ án một cách khách quan toàn diện.

Nghiên cứu các tin tức trên các phương tiện thông tin đại

chúng, Kiểm sát viên phải tổng hợp, đối chiếu, so sánh với các tình

tiết của vụ án để xem các thông tin đó phản ảnh như thế nào, có

điểm nào đúng, điểm nào phản ảnh sai, điểm nào mới. Kiểm sát

viên coi đây là nội dung quan trọng cần lưu ý khi nghiên cứu hồ sơ

vụ án. Cần lưu ý rằng, các thông tin đó không phải chỉ là của

phóng viên mà có thể đây là ý kiến của bị cáo, người bị hại, nguyên

đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Vì vậy, Kiểm sát viên phải chú ý nghiên cứu để xem xét xử lý

cho phù hợp với các tình tiết của vụ án.

Ví dụ, Trong vụ án Là Thị Kim Oanh, đơn khiếu nại của

các bị can và tin tức đăng tải trên các báo lúc đó đều đưa

tin phản bác việc các cơ quan pháp luật kết tội bi cáo thiếu

trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Do đó, Kiểm sát

viên đã nghiên cứu, nắm chắc quy chế, quy định điều lệ

công tác, nội quy công tác...của đơn vị (Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn) quy định về nhiệm vụ, chức trách

của các chức danh lãnh đạo Bộ như thế nào. Từ đó, cần

đối chiếu trong thời gian công tác, các bị cáo này được

phân công làm nhiệm vụ gì và đã thiếu trách nhiệm ra sao,

(1) Nguồn báo Pháp luật và đời sống ngày 15.5.2007

xem họ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm

vụ được giao như thế nào. Nghĩa là báo chí nêu những

người này đã hoàn thành nhiệm vụ thì Kiểm sát viên phải

nghiên cứu kỹ về nhiệm vụ của họ để phân tích, đánh giá

về hành vi thiếu trách nhiệm như thế nào. Hoặc trong vụ

vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông

gây hậu quả nghiêm trọng tại đường Láng - Hoà Lạc làm

2 em học sinh chết, nhiều tờ báo trung ương và địa phương

đã có nhiều bài đăng tải về vụ án này, trong đó đã nêu ra

nhiều tình tiết như bị cáo có hành vi đua xe nhưng Cơ

quan điều tra đã làm sai lệch hồ sơ, người ngồi trên xe

không phải là Hoàng Cẩm Tú mà là Nguyễn Phước Cẩm

Chi. . . và từ đó đề nghị xem xét lại vụ án cho khách quan.

Đây lả các chi tiết rất quan trọng, Kiểm sát viên đã nắm

chức và đối chiếu với hồ sơ vụ án để xem việc báo chí nêu

như vậy có căn cứ không. Qua xác minh có căn cứ khẳng

đinh bị cáo đã có hành vi vi phạm quy định về điều khiển

phương tiện giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm

trọng, chứ không có căn cứ để kết luận bị cáo có hành vi

đua xe. Người ngồi trên xe qua xác minh đúng là Hoàng

Cẩm Tú. Còn Nguyễn Phước Cẩm Chi chính là người ngày

hôm đó cũng bị tai nạn giao thông ở một vụ án khác,

không liên quan đến vụ án này. Những thông tin này đều

được yêu cầu làm rõ nên tại phiên toà, Kiểm sát viên đã

tranh luận có kết quả với người bào chữa, được dư luận

ủng hộ. Như vậy, nếu Kiểm sát viên biết nghiên cứu các

dư luận báo chí phối hợp vớ" các cơ quan có liên quan xử

lý các nội dung báo chí nêu thì tạo thuận lợi khi thực hiện

việc tranh luận tại toà (1)

Tuy nhiên, cũng có trường hợp, khi nghiên cứu hồ sơ có Kiểm

sát viên chưa chú ý nghiên cứu các thông tin trên các báo chí về vụ

án mà mình đang thụ lý, nên khi ra phiên toà không chủ động để

tranh luận với bị cáo, ngươi bào chữa.

Ví dụ, Vụ án giết người tại Vườn Điều tỉnh Bình Thuận

Quá trinh giải quyết vụ án đã có rất nhiều tờ báo đăng

tải về vụ án này. Có tới gần 50 bài báo của trung ương và

(1)Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

địa phương đề cập đến những vi phạm trong quá trình điều

tra, truy tố xét xử. Có những bài báo phân tích rất sâu sắc

những mâu thuẫn của các tinh tiết trong vụ án, có bài phân

tích kỹ về những vi phạm pháp luật của cán bộ tiến hành

tố tụng khi thừa hành nhiệm vụ . . . Tại phiên toà, bị cáo,

người bào chữa đã có những bài bào chữa rất thuyết phục,

mà nội dung của nó chính là nội dung mà báo chí đã đăng

tải về vụ án trong thời gian qua. trong lúc đó Kiểm sát viên

tỏ ra thiếu chủ động trong việc tranh luận để bảo vệ cáo

trạng. Cuối cùng dư luận ủng hộ nội dung bào chữa luật sư

hơn là tranh luận của Kiểm sát viên. Nêu ra ví dụ này để

lưu ý các Kiểm sát viên hết sức chú ý nghiên cứu các dư

luận báo chí để có những biện pháp xử lý phù hợp, góp

phần tranh luận có kết quả tại phiên toà (1)

Nói tóm lại, việc nghiên cứu các khiếu nại, tố cáo một mặt các

Kiểm sát viên phải giải quyết theo đúng quy định của pháp luật,

mặt khác cùng với các khiếu nại, tố cáo, các tin tức trên các phương

tiện thông tin đại chúng, các Kiểm sát viên phải nắm chắc để đối

chiếu với nội dung vụ án xem việc phản ảnh đó có đúng sai như thế

nào. Kiểm sát viên cần chú ý rằng đây chính là các căn cứ để bị cáo,

luật sư và những người liên quan khác khai thác triệt để nhằm

tiến hành việc bào chữa. Nếu kiểm sát viên nắm chắc vấn đề này,

sẽ giúp cho việc xây dựng bản cáo trạng, luận tội, đề cương thẩm

vấn và nội dung tranh luận đối đáp tại phiên Toà.

14. Kỹ năng nghiên cứu các quy định của pháp luật

Sau khi nghiên kỹ hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra của Cơ

quan điều tra, Kiểm sát viên cần nghiên cứu các điều luật mà kết

luận điều tra viện dẫn để đề nghị truy tố bị can và các hướng dẫn

áp dụng pháp luật về điều luật ấy. Vì vậy, khi nghiên cứu các quy

định của pháp luật kiểm sát viên cần chú ý các nội dung sau đây:

a- Thứ nhất, nghiên cứu cấu thành cơ bản của điều luật.

Nghiên cứu cấu thành cơ bản của điều luật để nắm chắc các dấu

hiệu đặc trưng của tội phạm đó, góp phần khắc phục sự nhầm lẫn

giữa tội phạm này với tội phạm khác. Ví dụ, khi Cơ quan điều tra

đề nghị truy tố bị can có hành vi giết trẻ em theo Điều 93 BLHS

năm 1999. Như vậy, Kiểm sát viên cần nghiên cứu tội giết người

quy định tại Điều 93 BLHS năm 1999 có cấu thành ra sao và giết

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

trẻ em thì áp dụng theo điểm, khoản nào của điều luật.

 

Theo khoản 1 Điều 93 BLHS thi tật giết ngưu 1 có

câu thành cơ bản là:

- Hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người

khác bằng mọi hình thức. Hậu quả chết người do hành vi

phạm tội gây nên;

- Chủ thể của tội phạm là người đủ 14 tuổi trở lên;

- Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý.

Như vậy, nghiên cứu cấu thành cơ bản của điều luật để xem

việc kết luận điều tra viện dẫn điều luật ấy có phù hợp hay không?

Ví dụ, bị can có hành vi cây gây thương tích nhưng lại đề nghị truy

tố tội giết người là không phù hợp với pháp luật. Bởi vì, cấu thành

cơ bản giữa tội giết người và tội cố ý gây thương tích là hoàn toàn

khác nhau. Từ nghiên cứu cấu thành tội giết người cho ta khẳng

định hành vi phạm tội của bị can rõ ràng cấu thành tội giết người

như đề nghị của cơ quan điều tra. Tuy nhiên, kết luận điều tra mới

chỉ đề nghị truy tôm can về tội giết người, còn hành vi giết trẻ em

thì áp dụng khoản nào của điều luật? Vì vậy, Kiểm sát viên tiếp

tục nghiên cứu cấu thành cụ thể của tội giết người.

b- Thứ hai, nghiên cứu các cấu thành cụ thể

Theo khoản 1 Điều 93 BLHS thì tội giết người có 1 7

cấu thành cụ thể như sau:

1. Giết nhiều người (điểm a khoản 1 Điều 93);

2. Giết phụ nữ mà biết là có thai (điểm b khoản 1

Điều 93);

3. Giết trẻ em (điểm c khoản 1 Điều 93);

4. Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công

vụ của nạn nhân (điểm d khoản 1 Điều 93);

5. Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo,

cô giáo của mình (điểm đ khoản 1 Điều 93);

6. Giết người mà đến trước đó hoặc ngay sau đó lại

phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm

trọng (điểm e khoản 1 Điều 93);

7. Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác (điểm g

khoản 1 Điều 93);

8. Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân (điểm h khoản 1

Điều 93);

9. Thực hiện tội phạm một cách man rợ (điểm i khoản

1 Điều 93);

10. Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp (điểm k khoản 1

Điều 93);

11. Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều

người (điểm 1 khoản 1 Điều 93);

12. Thuê giết người hoặc giết người thuê (điểm m

khoản 1 Điều 93);

13. Có tính chất côn đồ (điểm n khoản 1 Điều 93);

14. Có tổ chức (điểm o khoản 1 Điều 93);

15 Tái phạm nguy hiểm (điểm p khoản 1 Điều 93);

16. Vi động cơ đê hèn (điểm q khoản 1 Điều 93).

Nghiên cứu các cấu thành cụ thể này giúp Kiểm sát viên vận

dụng để áp dụng pháp luật sát đúng với tính chất, mức độ, hậu quả

của hành vi phạm tội của bị can. Như ví dụ trên đây, bị can có

hành vi giết trẻ em thì cần truy tố bị can điểm c khoản 1 Điều 93

BLHS.

Ngoài ra, Kiểm sát viên còn phải căn cứ các tình tiết của vụ án,

nhân thân bị can, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ...để áp dụng

pháp luật cho chính xác.

c Thứ ba, nghiên cứu các hướng dẫn áp dụng pháp luật. Các

hướng dẫn Bộ luật hình sự bào gồm: các thông tư liên tịch và các

Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

hướng dẫn áp dụng BLHS năm 1999. Quá trình nghiên cứu hồ sơ

vụ án Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ các văn bản hướng dẫn này

để vận dụng và áp dụng cho chính xác, phù hợp với từng hành vi

phạm tội cụ thể.

Ví dụ, Cơ quan điều tra đề nghị truy tố bi can có hành

vi điều khiển Ô tô vi phạm quy định về an toàn giao thông

đường bộ làm chất hai người theo Điều 202 BLHS. Về các

tình tiết "gây thiệt hại nghiêm trọng , "gây hậu quả rất

nghiêm trọng" "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" quy

định tại Điều 202 Bộ luật hình sự đã được Hội đồng Thẩm

phán Toà án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số

02/2003/NQ-HĐ TP ngày 17 . 4. 2003 hướng dẫn: "Phạm tội

thuộc một trong những trường hợp sau đây là "gây hậu quả

rất nghiêm trọng" và phải chịu trách nhiệm hình sự theo

điểm đ khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự.

a. Làm chết 2 người, "

Như vậy, với hành vi phạm tội của bi can mà Cơ quan

điều tra đã có kết luận, căn cử Nghị quyết số 02/2003/NQ-

HĐTP thi hành vi ấy đã phạm vào điểm đ khoản 2 Điều

202 BLHS.

Ngoài việc nghiên cứu các hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự,

Kiểm sát viên cũng cần nghiên cứu các văn bản hướng dẫn các bộ

luật khác có liên quan đến vụ án đang giải quyết. Đó là các hướng

dẫn thi hành Bộ luật TTHS, BỘ luật TTDS, BỘ luật DS... Khi xử lý

vụ án mà có các tình tiết liên quan đến các văn ban hướng dẫn, thì

Kiểm sát viên chú ý nghiên cứu để có quan điểm toàn diện về giải

quyết vụ án. Đây không những là căn cứ để xây dựng bản cáo trạng

truy tố vụ án ra Toà xét xử, bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng

pháp luật mà còn đây chính là các tài liệu quan trọng để Kiểm sát

viên chuẩn bị thực hành quyền công tố tại phiên Toà.

d- Thứ tư, nghiên cứu các quy định của cơ quan quản lý

hành chính

Như chúng ta đều biết, quá trình quản lý kinh tế - xã hội của

đất nước, các cơ quan quản lý hành chính đã có nhiều văn bản quy

phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện. Tuy đây là các văn bản quy

phạm của cơ quan quản lý hành chính, nhưng có ý nghĩa quan

trọng khi Viện kiểm sát vận dụng truy tố bị can về hành vi phạm

tội liên quan đến các quy định đó. Ví dụ, khi truy tố bị can ở Kho

bạc về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trong theo Điều

285 Bộ luật hình sự, thì Kiểm sát viên cần tìm hiểu Chính phủ đã

có những quy định nào về trách nhiệm của cán bộ Kho bạc chưa?

Bộ Tài chính đã có các văn bản hướng dẫn như thế nào? Hoặc khi

truy tố bị can về các tội: Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

Điều 171 BLHS; Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (Điều

174 BLHS); Tội huỷ hoại rừng (Điều 189 BLHS)... thì Kiểm sát

viên phải tìm hiểu, nghiên cứu các văn bản hướng dẫn của các cơ

quan quản lý về lĩnh vực đó.

Ví dụ 1, Vụ án Trần Quốc Tuấn nguyên là Giám đốc

Kho bạc và 3 bị can nguyên là cán bộ Kho bạc huyện bị

Cơ quan điều tra đề nghị truy tố về tội thiếu trách nhiệm

gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều 285 BLHS.

Theo bản kết luận điều tra, thì Tuấn và các bị can có

hành vi. lợi dụng sơ hở của cán bộ lãnh đạo Phòng Tài

chính huyện, Nguyễn Văn Trung kế toán trưởng của

Phòng Tài chính đã làm các lệnh chi tiền " của cơ quan Tài

chính do lãnh đạo Phòng Tài chính ký gửi Kho bạc yêu cầu

xuất quỹ ngân sách để chiếm đoạt gần 9 tỷ đồng. Hành vi

phạm tội của Nguyễn Văn Trung và những người có trách

nhiệm ở Phòng Tài chính đã bị xử lý về tội tham Ô và cố ý

làm trái là không phải bàn. Vấn đề đặt ra trong vụ án này

là hành vi của Trần Quốc Tuấn và 3 bị can ớ Kho bạc có

phạm tội thiếu trách nhiệm hay không?

Theo Cơ quan điều tra, các cán bộ Kho bạc này đã có

hành vi không kiểm tra, kiểm soát hồ sơ, chứng từ khi cấp

phát, thanh toán nên đã để Trung chiếm đoạt gần 9 tỷ

đồng . Đó là hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả

nghiêm trọng. Để kết luận vấn đề này, Kiểm sát viên phải

nghiên cứu các văn bản của cơ quan quản lý về trách

nhiệm của cán bộ Kho bạc trong việc xuất tiền theo lệnh

chi tiền của cơ quan Tài chính như thế nào?

Căn cứ Nghị định số 87/CP ngày 19. 12. 1996 của

Chính phủ và Thông tư số 40/1998/TT-BTC ngày

31  . 03. 1 9 9 8, Thông tư số 1 03/1 9 9 sút B TC ngày 19 . 7. 1 99 8

của Bộ Tài chính thì việc chi tiền ngân sách có hai hình thức:

chi theo "hạn mức kinh phí và lệnh chi tiền'? Việc chi tiền

theo "hạn mức kinh phi go Kho bạc theo dõi quản lý, còn

lệnh chi tiền" do Phòng Tài chính theo dõi, quản lý.

Việc chi tiền theo "hạn mức kinh phí" được quy định

như sau: cơ quan Tài chính thông báo hạn mức kinh phí

trực tiếp cho đơn vi sử dụng ngân sách nhà nước hoặc cho

cơ quan chủ quản, sau đó, cơ quan chủ quản phân phối

hạn mức kinh phí cho các đơn vị cấp dưới. Kho bạc nhà

nước chịu trách nhiệm kiểm tra nội dung từng khoản chi

theo quy đinh tại Điều 48 Nghị đinh số 87/CP và thực hiện

thanh toán, chi theo lệnh chuẩn chi của đơn vi sử dụng

ngân sách nhà nước (giấy rút hạn mức).

Việc chi tiền theo lệnh chi tiền" được quy định như

sau: lệnh chi tiền là chứng từ kế toán do Cơ quan tài chính

phát hành, lập ra cho Kho bạc nhà nước thực hiện trích quỹ

ngân sách để cấp kinh phí cho các đơn vi thụ hưởng ngân

sách nhà nước. Đơn vị thụ hưởng ngân sách lập hồ sơ đề

nghị cấp phát gủ7 Cơ quan tài chính để kiểm soát chi. Cơ

quan tài chính lập lệnh chi tiền chuyển cho Kho bạc nhà

nước cùng cấp. Kho bạc nhà nước kiểm tra các yếu tố pháp

lý như mẫu dấu, chữ ký, số tiền ghi bằng số với số tiền ghi

bằng chữ nếu đúng thì thực hiện xuất quỹ theo quy định.

Như vậy, căn cứ vào các quy định của pháp luật, thì

trong vụ án này, các cán bộ Kho bạc đã làm đúng trách

nhiệm của mình khi xuất quỹ ngân sách theo lệnh chi

tiền" của Cơ quan tài chính. Do vậy, không có căn cứ kết

tội các bị can thuộc Kho bạc về hành vi thiếu trách nhiệm

như Cơ quan điều tra đề nghị (1)

Ví dụ 2, Vụ án Hoàng Văn Lượng cùng đồng bọn hiếp

dâm cháu Ph ở thành phố H.

Trong vụ án này, để khẳng định các bị can có phạm tội

hiếp dâm trẻ em hay không thì phải xác định tuổi của nạn

nhân là bao nhiêu? Theo Giấy khai sinh thi cháu Ph sinh

ngày 12.9. 1987, nhưng giấy chứng minh thư nhân dân của

cháu Ph lại ghi sinh ngày 12.9.1984. Như vậy, về độ tuổi

của cháu Ph có các tài liệu phản ảnh khác nhau. Qua

nghiên cứu các tài liệu tại Công an huyện, nơi cấp Chứng

minh thư nhân dân cho cháu Ph thì thấy việc cấp Chứng

minh thư nhân dân cho cháu Ph là căn cứ vào hộ khẩu.

Mà hộ khẩu của cháu Ph cũng do Công an huyện nhập

vào trên cơ sớ Giấy khai báo nhân khẩu, hộ khẩu từ Công

an huyện S tỉnh L chuyển tới. Căn cứ vào Nghị định số

5 1/CP ngày 10 . 5. 1 984 và Nghị định số 1 08/CP ngày

19 . 8. 2005 của Chính phủ, Thông tư số 1 1/TT ngày

07. 10. 2005 của Bộ Công an hường dẫn thực hiện hai Nghị

định trên, thì việc các cơ quan hành chính cấp cho cháu

Ph phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu (mẫu NK5) mà

không cấp cho cháu Giấy chứng nhận hộ khẩu chuyển đi

(Công an huyện Sĩ và việc cho cháu Ph nhập hộ khẩu

(Công an huyện AL) chỉ căn cứ vào phiếu báo nhân khẩu,

hộ khẩu (theo mẫu NK5) mà không có Giấy chứng nhận

chuyển đi (theo mẫu NK7) là không đúng với quy đinh

trên đây. Do vậy, hộ khẩu của cháu Ph nhập vào huyện

AL thành phố H và Chứng minh thư nhân dân của cháu

Ph cũng do Công an huyện AL cấp là sai. Trong khi đó

(1)Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

hộ khẩu gốc của gia đình cháu Ph. tại huyện B tỉnh L thì

chá u Ph sinh ngày 12 . 9. 1 98 7. Do vậy, có căn cứ khẳng

định cháu Ph. sinh ngày 12.9. 1987. Trong vụ án này,

hành vi hiếp dâm xảy ra ngày 27. 7. 2000, đến lúc đó cháu

Ph. mới 12 ruồi 7 tháng (dưới 13 tuổi). Từ đó kết luận

Hoàng Văn Lượng cùng đồng bọn có hành vi phạm tội

hiếp dâm trẻ em theo khoản 4 Điều 112 BLHS. Như vậy,

muốn kết luận bi can phạm tội hiếp dâm trẻ em hay

không, thi Kiểm sát viên không những phải nghiên cứu kỹ

các quy định của pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự mà

còn nghiên cứu kỹ các quy đinh của cơ quan quản lý nhà

nước về hộ khẩu (1).

Từ vụ án trên đây cho chúng ta nhận xét: khi nghiên cứu hồ sơ

vụ án không những nghiên cứu các quy định của pháp luật về hình

sự, tố tụng hình sự, dân sự, tố tụng dân sự, mà còn phải nghiên

cứu các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Nghĩa là,

việc xác định trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm

tội liên quan đến ngành luật nào phải nghiên cứu kỹ các ngành

luật đó

15. Kỹ năng kiểm tra, xác minh các tài liệu, chứng cứ của vụ án

Sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên cần

giành thời gian để kiểm tra trực tiếp các tài liệu, chứng cứ trong

các trường hợp cần thiết, nhằm một mặt củng cố thêm lòng tin nội

tâm của mình về các tình tiết của vụ án, đồng thời, tiếp tục làm

sáng rõ hơn các mâu thuẫn mà qua nghiên cứu hồ sơ Kiểm sát viên

đã phát hiện được. Việc kiểm tra, xác minh các tài liệu cần tập

trung các nội dung chính sau đây:

.a- Kiểm tra, xem xét các vật chứng, tài liệu đã được thu giữ.

Theo quy định tại Điều 140 BỘ luật TTHS, khi phát hiện các công

cụ phương tiện phạm tội, đồ vật, tài liệu khác liên đến vụ án thì

cơ quan điều tra có quyền thu giữ. Những tài liệu đồ vật của vụ án

có hai loại: loại gọn nhẹ như dao, kẻo, gậy, các chứng từ, hoá đơn

thanh toán, các giấy tờ bị làm giả như hộ chiếu, tiền giả... thì thông

thường được chuyển theo hồ sơ vụ án, còn các đồ vật khác cồng

kềnh thì để tại kho tang vật.

Đối với các đồ vật, tài liệu chuyển theo hồ sơ vụ án, thì Kiểm

sát viên phải dành thời gian để nghiên cứu, xem xét các vật chứng

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

này, đối chiếu với biên bản thu giữ có phù hợp không. Kiểm tra

xem Điều tra viên đã hỏi kỹ về các tài liệu, đồ vật này như thế nào,

các tài liệu giám định đã kết luận về các tài liệu đồ vật ra sao? Với

cách quan sát trực tiếp như vậy và ý kiến các nhà chuyên môn thì

các tài liệu, đồ vật đó (dao, kẻo, giấy tờ giả, gậy gộc, cuốc...) có giá

trị chứng minh như thế nào). Đây là các tài liệu, đồ vật có giá trị

chứng minh quan trọng đối với vụ án, nên phải được bảo quản

nguyên vẹn và phải được đưa ra phiên Toà để.xét hỏi, điều tra làm

rõ, cho nên, Kiểm sát viên phải kiểm tra kỹ, không được để mất

mát, hư hỏng, thất lạc.

Thực tiễn đã có những trường hợp khi tiến hành xét xử thì phát

hiện vật chứng bị mất. Đây là những tình tiết rất phức tạp phát

sinh khi giải quyết vụ án. Do vậy, Kiểm sát viên phải kiểm tra kỹ

Ví dụ, Vụ án Lê Thị Bình và Lê Thị NỞ phạm tội cố ý

gây thương tích Ở Đồng Tháp.

Vào 9h ngày 07. 12.2002, anh Phước và chị Phú (là vợ

chồng) cùng con là cháu Tâm đang cấy lúa trên thửa

ruộng của mình. Lúc này, Lê Thị Bình và Lê Thị Nở cũng

đi làm về và hai bên gặp nhau. Do có mâu thuẫn từ trước,

hai bên cãi nhau và đánh nhau. Lúc đầu Bình đánh bằng

điếc (dầm làm cỏ), sau đó, Binh lấy một đoạn gậy dài 70

80cm, đường kính 4cm đánh vào trán chị Phú. Chị Phú

bị thương tích 11%. Giám định vết thương cho thấy do vật

tày gây ra. Vật chứng thu được gồm hai cái điếc làm cỏ,

còn đoạn gậy thì bị mất. Sau khi kết thúc điều tra, Lê Thị

Bình bị truy tố về tội cố ý gây thương tích. Giám định cũng

kết luận vết thương do vật tày gây nên. Tuy nhiên, trong vụ

án này nhiều mâu thuẫn chưa được làm sáng tỏ. Bị cáo

ngay từ đầu kêu oan là chỉ nhận cầm điếc khua vào trán

chị Phú chứ không cầm gậy, chính anh Phú mới là người

cầm gậy. Trong khi đó, chị Lê Thị Nở lại khai là chính mình

là người cầm điếc đánh vào trán chị Phú. Nhưng vấn đề

quan trọng là vật chứng của vụ án lá cây gậy lại bị đánh

mất. Kết luận điều tra Lê Thị Bình có hành vi dùng gậy

đánh chị Phú, nhưng gậy thì làm mất, lời khai của hai bên

mâu thuẫn nhưng không được đối chất. Vụ án xảy ra ngày

07.12.2002 nhưng đến 22.8.2003 Cơ quan điều tra mới

khởi tố vụ án. Trong hai lần xét xử Toà án đều tuyên bi cáo

không phạm tội (1).

Đối với các vật chứng không chuyển theo hồ sơ mà để tại kho

tang vật, thì Kiểm sát viên cũng cần trực tiếp nghiên cứu như xe

Ô tô xe máy... để xem đặc điểm, dấu vết của vật chứng có phù hợp

với biên bản thu giữ vật chứng hay không. Trong trường hợp cần

thiết như để chứng minh hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

của các bị can, qua đó, để nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng

trong nhân dân, thì cần bàn với các cơ quan liên quan để tổ chức

triển lãm cho nhân dân xem. Đây là việc làm rất cần thiết nhằm

góp phần trong công tác phòng ngừa tội phạm.

Ví dụ, Vụ án Lê Quốc Tuý, Mai Văn Hạnh và đồng bọn

phạm tội xâm phạm an ninh vào năm 1984 ở Cà Mau.

Trong thời gian ngắn, Lê Quốc Tuý và Mai Văn Hạnh đã

chỉ huy đồng bọn chuyển vào Việt Nam hàng nghìn súng,

đạn, chất nổ để tiến hành hoạt động lật đổ ớ các tỉnh miền

Nam. Ngoài ra, bọn chúng còn chuyển vào Việt Nam hàng

trăm nghìn triệu tiền giả Việt Nam đồng để hòng lũng đoạn,

phá hoại nền kinh tế của Việt Nam. Khi xét xử tại nhà hát

Hoà Binh thành phố Hồ Chí Minh, các cơ quan pháp luật

đã tổ chức triển lãm các vật chứng của vụ án như súng,

đạn, thuốc nổ, tiền giả Việt Nam đồng và các tài liệu quan

trọng khác của vụ án. Quá trình xét xử là quá trình diễn ra

cuộc triển lãm này. Thông qua cuộc triển lãm không những

chúng ta đã đưa ra được các bằng chứng pháp lý vật chất

để kết tội công khai và có sức thuyết  phục tại phiên toà, mà

còn có tác dụng trong việc vạch trần những âm mưu thâm

độc của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt

Nam. đồng thời, nêu lên những bài học kinh nghiệm về tinh

thần cảnh giác cách mạng trong quần chúng nhân dân

trước âm mưu nham hiểm của kẻ thù(2)

Thực tiễn cũng đã có trường hợp khi thu giữ vật chứng, tài

liệu đã không bảo quản tốt, để mất mát thậm chí đã lợi dụng để

phá niêm phong, đánh tráo vật chứng, gây dư luận không tốt khi

Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC.

Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

giải quyết vụ án. Vi phạm này tuy không nhiều nhưng đã gây

hậu quả nghiêm trọng và ảnh hưởng không chỉ đối với việc giải

quyết vụ án mà còn làm mất uy tín của các cơ quan pháp luật khi

giải quyết vụ án.

b- Kỹ năng gặp bị can. Theo quy định tại khoản 3'điều 131 và

khoản 1 Điều 166 Bộ luật TTHS, trong quá trình thực hành quyền

công tố, kiểm sát điều tra, nếu thấy cần thiết Kiểm sát viên có thể

hỏi cung bị can. Theo quy định tại khoản 3 Điều 21 Quy chế số

120/2004/QĐ-VKSTC ngày 14.9.2004, thì sau khi kết thúc điều

tra, Kiểm sát viên phải hỏi cung bị can. Việc Kiểm sát viên tiến

hành hỏi cung bị can phải thực hiện đúng theo quy định của pháp

luật như giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can, khi đặt câu hỏi

phải rõ ràng và đúng trọng tâm mà Kiểm sát viên đã có kế hoạch.

Nếu xét thấy cần thiết thì Kiểm sát viên mời Điều tra viên, trong

các vụ án bắt buộc phải có luật sư tham gia, thì nên mời họ tham

dự. Hỏi cung xong, Kiểm sát viên phải lập biên bản và có chữ ký

của Kiểm sát viên và bị can.

Mục đích, yêu cầu của việc hỏi cung bị can của Kiểm sát viên

nhằm kiểm tra lại các chứng cứ, các tình tiết của vụ án. Qua đó,

nắm được thêm nguyện vọng, tư tưởng của bị can, nếu Kiểm sát

viên thấy nội dung nào chưa rõ (hành vi, động cơ, mục đích) hoặc

các lời khai của bị can mâu thuẫn với nhau (ví dụ, bị can lúc khai

cầm dao tay phải, lúc khai cầm dao tay trái để đâm...); hoặc lời

khai giữa các bị can mâu thuẫn với các bị can khác hoặc mâu

thuẫn với những người làm chứng , vật chứng, thì Kiểm sát viên

phải trực tiếp gặp bị can để hỏi cung làm rõ. Kiểm sát viên cũng

cần hỏi kỹ về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, động cơ, mục đích

phạm tội, vị trí, vai trò của bị can trong vụ án, những vấn đề bồi

thường thiệt hại cho nạn nhân.

Trong trường hợp bị cáo khai do bị bức cung nên mới khai như

trước đây với Cơ quan điều tra, bây giờ xin khai lại là bị can không

phạm tội. Đây là vấn đề rất phức tạp, Kiểm sát viên cần phải trực

tiếp gặp bị can để làm rõ. Trong trường hợp này, Kiểm sát viên cần

mời Điều tra viên dự với tư cách là người làm chứng.

Bị can là vị thành niên, là người bị hạn chế về thể chất và tinh

thần, bị can có thể bị áp dụng khung hình phạt tù chung thân hoặc

tử hình, bị can kêu oan... thì bắt buộc Kiểm sát viên phải phúc cung.

Ngoài ra, qua nghiên cứu hồ sơ vụ án nếu thấy cần tiếp tục làm rõ

một số tình tiết của vụ án, thì Kiểm sát viên phải tiến hành hỏi cung

bị can. Việc gặp bị can trong các trường hợp này, Kiểm sát viên nên

mời Điều tra viên làm chứng và có thể nên mời luật sư tham gia.

Vấn đề này tuy chưa được quy chế quy định cụ thể, nhưng thực tiễn

cho thấy đây là việc làm cần thiết. Nhiều trường hợp Kiểm sát viên

hỏi cung bị can tốt, góp phần làm sáng rõ các tình tiết của vụ án. Tuy

nhiên, cũng có trường hợp việc hỏi cung của Kiểm sát viên sơ sài,

không đi sâu làm rõ các vấn đề mà bị cáo không khai đúng sự thật.

Ví dụ, Vụ án hiếp dâm và giết cháu M ở tỉnh Q.

Đây là vụ án không bắt được quả tang, trong quá trinh

điều tra và khi hồ sơ chuyển sang Viện kiểm sát, bị can

hoàn toàn không nhận tội, nhưng Kiếm sát viên hỏi cung

rất sơ sài. Ngày 26.9.2006 khi hỏi cung Trình Văn Tý,

Kiểm sát viên chỉ hỏi 3 câu: tại sao năm 1996 Toà án tỉnh

Quảng Ninh xử anh 10 năm tù nhưng đến năm 2002 anh

đã ra tù ?" - câu hỏi này không liên quan đến hành vi phạm

tội của bị can; "Trong thời gian trốn truy nã đến khi bị bắt

anh có phạm thêm tội nào không?" - bị can trả lời là không

phạm thêm tội nào cả và anh hãy trình bày toàn bộ hành

vi phạm tội vào năm 2002?" với câu hỏi này bị can trả lời.

Tôi không thực hiện hành vi phạm tội. Trong khi đó, hồ sơ

vụ án có nhiều tài liệu, vật chứng, giám định mà Kiểm sát

viên không sử dụng để đấu tranh với bị can. Với cách hỏi

cung như trên đây thể hiện tính chuyên nghiệp của Kiểm

sát viên trong công tác hỏi cung còn rất yếu(1).

Như vậy, việc gặp bị can để hỏi cung không những để làm rõ

những tình tiết của vụ án mà Kiểm sát viên thấy cần thiết, đồng

thời, qua đây để Kiểm sát viên nắm chắc tư tưởng, nguyện vọng

của bị can để có dự kiến các tình huống và biện pháp tranh luận,

đối đáp thích hợp tại phiên Toà.

Ví dụ, Vụ án Trần Văn Tống (tên khác Lý Tống) phạm

tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân và tội

chiếm đoạt máy bay tại thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình điều tra truy tố, Trần Văn Tống cho rằng y là

quốc tịch Hoa Kỳ nên phải được Chính phủ Hoa Kỳ bảo trợ

và phải có luật sư nước ngoài bảo vệ cho Tống. Đây là

những vấn đề không liên quan đến hành vi phạm tội,

nhưng liên quan đến quyền lợi của bị cáo, nên rất dễ nảy

sinh những vấn đề phức tạp. Nếu không được làm sáng tỏ,

thì rất có thể  bị cáo sẽ lợi dụng phiên toà để xuyên tạc. Do

vậy Kiểm sát viên đã trực tiếp gặp bị can để đấu tranh làm

rõ những vấn đề này. Theo Trần Văn Tống thi khi nhập

cảnh vào Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam

đã xác định Trần Văn Tống có quốc tịch Mỹ, được thể hiện

trên vi da nhập cảnh và y đã được Chính phủ Hoa Kỳ cho

nhập quốc tịch Hoa Kỳ, hộ chiếu mang tên Trần Văn Tống

có quốc tịch Hoa Kỳ. V vậy, Trần Văn Tống đề nghị cho y

được mời luật sư nước ngoài để bảo vệ cho mình, cho sử

dụng tiếng Anh tại phiên Toà, được mặc complê và cần có

các nhà báo nước ngoài dự, nếu cần thì xử tử hình. Khi đề

nghị các nội dung này, Trần Văn Tống có thái độ ương

bướng và nóng nảy, coi thường pháp luật. Với những diễn

biến trên, Kiểm sát viên đã nghiên cứu kỹ các tình tiết của

vụ án và các quy định của pháp luật nên đã tích cực đấu

tranh thuyết phục y.

Trước hết, Kiểm sát viên dành một ít thời gian để tự giới

thiệu về mình, thiết lập mối quan hệ giao tiếp với bị can,

hạn chế được mặc cảm của Tống về sự hận thù mà Tống

đã được chế độ cũ giáo dục.

Theo tường trình của bị can thì vào năm ~973, Tống chỉ

huy phi đội A3 7 ném bom cầu Diễn Bình và vùng mới giải

phóng bắc Kim Tum. Kiểm sát viên cũng giới thiệu với

Tống, chính vào thời điểm ấy, Kiểm sát viên là đại đội

trưởng của Tiểu đoàn ~ Trung đoàn 28, Sư đoàn 10 Quân

giải phóng đã chỉ huy đơn vị bắn bị thương máy bay, bảo

vệ vững chắc vùng giải phóng. Khi biết được Kiểm sát

viên - người đang hỏi cung mình chính là người mà trước

đây đã bắn bị thương Tống tại vùng giải phóng năm xưa,

thì Tống dường như bị cuốn hút vào câu chuyện. Trải qua

phút giây ban đầu đầy bất ngờ đó, Tống đã xin gọi Kiểm

sát viên là Thủ trưởng.

Sau khi lắng nghe Trần Văn Tống trình bày, Kiểm sát

viên đã giải thích cho bị can: mặc dù trước đây tuy hai

người ở hai đầu chiến tuyến với quyết tâm một mất một

còn. Bây giờ, tuy là Kiểm sát viên, người được Viện trưởng

Viện kiểm sát nhân dân tối cao cử để tống đạt cáo trạng

truy tố bị can Tống về tội chiếm đoạt máy bay, nhưng rất

tôn trọng sự thật và những lời đề nghị của bị can đã được

Kiểm sát viên rất chú ý và ghi chép đầy đủ. Thể hiện sự

tôn trọng của pháp luật Việt Nam đối với các thỉnh cầu của

bị can, Kiểm sát viên đã giải thích cho Tống: theo Điều 3

Luật Quốc tịch Việt Nam thì "Nhà nước Cộng hoà xã hội

chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một

quốc tịch là quốc tịch Việt Nam . Người có quốc tịch Việt

Nam phải là người sinh ra trên đất nước Việt Nam, có bố

hoặc mẹ là người Việt Nam. Theo đó, Trần Văn Tống có

bố, mẹ là người Huế sinh năm 1948 tại Huế, có Quốc tịch

Việt Nam. Năm 1982, Trần Văn Tống trốn khỏi Việt Nam

và sang định cư tại Mỹ và được Chính quyền Hoa Kỳ cho

nhập quốc tịch Hoa Kỳ. Theo Luật Quốc tịch Việt Nam

việc công dân muốn thôi quốc tịch phải được Chính phủ

Việt Nam cho phép. Tuy nhiên, đến năm 1982 Tống trốn

ra nước ngoài nên quốc tịch Việt Nam của Trần Văn Tống

đương nhiên vẫn còn. Như vậy, hiện nay Trần Văn Tống có

hai quốc tịch, quốc tịch Việt Nam và quốc tịch Hoa Kỳ,

trong đó bố, mẹ, anh, chị của bị can Tống vẫn còn sinh

sống tại Việt Nam, nên về nguyên tắc, thì quốc tịch Việt

Nam là quốc tịch hữu hiệu nhất.

Bên cạnh đó, theo Luật Luật sư Việt Nam, thì người

bào chữa trong các vụ án phải là công dân nước Cộng

hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Còn tiếng nói và chữ viết

được sử dụng tại phiên Toà theo quy định tại Điều 21 Bộ

luật TTHS thì "Tiếng nói và chữ viết trong tố tụng hình sự

là tiếng Việt . Tiếp đó, theo quy định của Điều 221 Bộ luật

hình sự năm 1999 thì tội chiếm đoạt máy bay, tàu thuỷ"

do bị can Tống thực hiện có thể bị xử phạt 20 năm, chung

thân hoặc tử hình. Tuy nhiên, hình phạt của bị can Tống

như thế nào còn phụ thuộc rất lớn vào thái độ khai báo

thành khẩn hay không tại phiên Toà và sự ăn năn, hối cải

của bị can Tống. Trên cơ sớ các giải thích của Kiểm sát

viên, thì bị can Tống đã tỏ thái độ hợp tác và hứa sẽ khai

báo tốt tại phiên toà.

Mấy ngày sau đó, phiên Toà xét xử Trần Văn Tống được

tiến hành và tại Toà bị cáo Tống đã khai báo thành khẩn và xin được cải tạo thành người có ích cho xã hội. Vì vậy, bị cáo Tống đã được Tòa án xem xét cho giảm nhẹ hình phạt (1).

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

c- Gặp người làm chứng. Theo quy định tại khoản 4 Điều 133 và

khoản 6 Điều 135 Bộ luật TTHS, thì Kiểm sát viên có quyền gặp

người làm chứng để kiểm tra các lời khai của họ, đặc biệt là đối với

những người làm chứng có lời khai mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn

với những người làm chứng khác hoặc mâu thuẫn với các chứng cứ

khác. Khi gặp người làm chứng, Kiểm sát viên phải lập biên bản theo

đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Đối với những người

làm chứng có lời khai mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn với lời khai bị

cáo mâu thuẫn với chính mình thì Kiểm sát viên cần giải thích về

quyền, nghĩa vụ của người làm chứng và sử dụng dùng các chứng cứ

khác để đấu tranh, bác bỏ những lời khai không khách quan của

người làm chứng. Kiểm sát viên cần ghi chép đầy đủ những lời khai

mâu thuẫn này và nội dung đã làm việc để dự kiến các tình huống

tại phiên toà, làm cơ sở cho việc xét hỏi và tranh luận tại phiên toà.

d- Tiến hành đối chất. Việc tiến hành đối chất đã được quy định

tại Điều 138 Bộ luật TTHS. Nếu qua nghiên cứu hồ sơ thấy giữa

các lời khai của bị can, người bị hại, người làm chứng, bị đơn,

nguyên đơn dân sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan có mâu thuẫn với nhau, thì Kiểm sát viên cần tiến hành đối

chất (khoản 5 Điều 138 Bộ luật TTHS). Khi tiến hành đối chất,

Kiểm sát viên cần mời Điều tra viên dự làm người chứng kiến. Các

tài liệu đối chất cần được sử dụng tại phiên Toà như tài liệu chúng

minh của vụ án.

 

Ví dụ, Vụ án Là Thị Kim Oanh.

Trong vụ án này việc đối chất giữa bị can và những người

làm chứng đã được thực hiện tốt. Các bị can phạm tội

thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, không thừa

nhận hành vi phạm tội của mình mà cho rằng hậu quả đó

do những người có chức vụ cao hơn (như Bộ trưởng hoặc

Nguyên Phó Thủ tướng), trong khi đó các cán bộ này đảm

bảo những lời khai của bị can là không chính xác. . . Kiểm

sát viên đã tiến hành đối chất giữa bị can với những cán

bộ này. Quá trình đối chất càng làm rõ hành vi thiếu trách

nhiệm của các bị can và hành vi thiếu trách nhiệm đó đã

gây hậu quả nghiêm trọng bi can đã thấy được trách

nhiệm của mình trong việc để xảy ra tiêu cực. Việc đối chất

được quay vi deo và lập biên bản theo đúng các quy định

của pháp luật. Trên cơ sở tài liệu đối chất phiên toà đã sử

dụng bằng cách công bố công khai các tài liệu đối chất,

được dư luận đồng tình(1).

đ Thực nghiệm điều tra. Thực nghiệm điều tra là nhằm kiểm

tra lời khai của bị can, người bị hại, người làm chứng về sự việc

phạm tội, hậu quả do tội phạm gây ra có đúng với thực tế khách

quan hay không. Do vậy, thực nghiệm điều tra là hoạt động kiểm

tra, đánh giá tính xác thực của các lời khai về hành vi phạm tội,

qua đó có thể chấp nhận hay bác bỏ các lời khai của bị can, người

bị hại, người làm chứng. . . Việc thực nghiệm điều tra được Bộ luật

TTHS quy định chặt chẽ. Khoản 3 Điều 153 BỘ luật TTHS quy

định: "Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát có thể tiên hành

thực nghiệm điều tra. Việc thực nghiệm điều tra được tiên hành

theo quy đinh tại Điều này". Đây là hoạt động tương đối phức tạp,

Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ, xây dựng kế hoạch cụ thể và

phối hợp với Cơ quan điều tra để thực hiện. Yêu cầu của việc thực

nghiệm điều tra là các dữ kiện về thời gian, địa điểm, phương tiện

phải phù hợp hiện trường. Có như vậy mới bảo đảm tính phù hợp

với thực tế khách quan của vụ án. Thực tiễn vừa qua có nhiều vụ

án, nhờ thực nghiệm điều tra tốt nên góp phần trong việc đánh giá

chứng cứ chính xác, khách quan. Tuy nhiên, cũng có nhiều vụ án

việc thực nghiệm điều tra chưa tốt nên tài liệu thực nghiệm chưa

trở thành tài liệu chứng cứ .

16. Những vấn để cần rút ra sau khi nghiên cứu hồ sơ và xem

xét các vật chứng tài liệu

Trên đây chúng ta đã tìm hiểu kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án

và tiến hành điều tra xác minh một số nội dung của vụ án. Để có

quan điểm đánh giá chính xác về vụ án và trên cơ sở đó có biện pháp

xử lý vụ án đúng với các quy định của pháp luật, Kiểm sát viên cần

tổng hợp, phân tích, đánh giá về vụ án. Vì việc xem xét đánh giá vụ

án sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án không chỉ liên quan đến việc giải

quyết vụ án đúng với các quy định của pháp luật, mà còn liên quan

đến việc bảo đảm không oan người vô tội, không lọt người phạm tội.

Vì vậy khi tổng hợp đánh giá cần chú ý các nội dung sau:

a- Về đánh giá nội dung vụ án. Phần này cần đánh giá khái

quát về: thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm, diễn biến hành vi

phạm tội của các bị can, mục đích, động cơ phạm tội, hậu quả của

của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, Kiểm sát viên cần lưu ý, qua

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

nghiên cứu hồ sơ vụ án, xem xét các tài liệu chứng cứ, gặp bị can,

nghiên cứu các đơn thư khiếu nại, tố cáo, các tin tức của báo chí

đăng tải, nếu thấy cần thêm, bớt các chi tiết so với bản kết luận

điều tra thì Kiểm sát viên có thể thực hiện; hoặc cùng nội dung

như kết luận điều tra, nhưng Kiểm sát viên thấy cần sắp xếp lại

cho hợp lý lôgíc thì Kiểm sát viên hoàn toàn có quyền thực hiện.

Điều đó cũng có nghĩa là Kiểm sát viên không quá phụ thuộc vào

bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra. Trên cơ sở hồ sơ vụ án,

bản kết luận điều tra và các tài liệu khác, Kiểm sát viên cần tổng

hợp, đánh giá, phân tích toàn bộ vụ án, đây là hoạt động độc lập

của Kiểm sát viên.

b- Hệ thông các chứng cứ buộc tội. Các chứng cứ buộc tội bao

gồm: lời khai nhận tội của bị can, lời khai người làm chứng về các

tình tiết liên quan đến hành vi của bị can, nhân thân bị can, biên

bản phạm pháp quả tang, vật chứng, giám định chuyên môn, giám

định pháp y, kết quả xác minh của Cơ quan điều tra và của Kiểm

sát viên . . . Đây là các căn cứ hết sức quan trọng khẳng định tính

có căn cứ của hành vi phạm tội của bị can, đồng thời, đây là cơ sở

pháp lý để Kiểm sát viên tiến hành tranh luận, đối đáp với bị cáo,

người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.

Ví dụ, Vụ án Nông Thanh Tú phạm tội giết người Ở

thành phố Hà Nội.

Vào hồi 21h30 ngày 05.3.2005, Nông Thanh Tú,

Nguyễn Trung Kiên và một số người bạn đến hát karaoke

tại Phòng 111 - E6 phường Quỳnh Mai thành phố Hà Nội.

Đến 22h30 cùng ngày thì có thêm Lê Xuân Hoài, Vũ Mạnh

Hùng, Lê Minh Nguyệt cùng vào hát. Khi Hoài đang hát

bài "Trái tim bên lề" thì Tiên nói bài này do Tiên chọn và

bảo Hoài đưa micrô cho Tiên hát. Hoài không nói gì và tiếp

tục hát. Kiên gọi Hoài ra ngoài quán, Hoài không ra. Sau

đó Tú thanh toán tiền và cùng Kiên ra ngoài quán chờ. Khi

Hoài, Hùng, Nguyệt hát xong ra về, Kiên và Tú đón ngoài

quán để gây sự. Kiên chạy đuổi theo nắm cổ áo của. Hoài

để đánh. Cùng lúc đó, Tú chạy đến bảo với Kiên "mày để

nó cho tao" và rút con dao chuẩn bị sẵn từ trước ra đâm

một nhát vào bụng Hoài. Sau khi đâm Hoài, thì Tú chạy về

nơi ớ của mình, còn Hoài được đưa đi cấp cứu, nhưng vết

thương quá nặng nên chết ngày 06.3.2005.

Trong vụ án này, các chứng cứ buộc tội như. lời khai

nhận tội của bị can Tú phù hợp với lời khai của những

người làm chứng như Hùng, Nguyệt, Kiên, Tiên. Lời khai

của bị can và người làm chứng phù hợp với con dao gây

án thu được và phù hợp với các vết thương trên người nạn

nhân. Lời khai của chị Nguyệt phù hợp với bị can và đã

nhận diện được Tú là người dùng dao đâm anh Hoài chất.

Quá trình điều tra đã thu được con dao gây án có kích

thước phù hợp với vất thương trên người Hoài. Như vậy,

tổng hợp các chứng cứ của vụ án có cơ sở kết luận bị can

Nông Thanh Tú phạm tội giết người(1)

c- Hệ thông các chứng cứng tội. Đó là các chứng cứ chứng minh

sự ngoại phạm của bị can. Những tài liệu đó bao gồm lời khai bị

can, người làm chứng và các tài liệu khác khẳng định bị can không

phạm tội hoặc phạm tội nhẹ hơn. Ngoài ra, chứng cứ gỡ tội còn thể

hiện các tài liệu đã thu thập có nhiều mâu thuẫn, nhưng không

được giải quyết, như các lời khai của bị can, người làm chứng mâu

thuẫn với nhau, hoặc lời khai đó không phù hợp với hiện trường.

Kiểm sát viên phải hệ thống đầy đủ và nắm chắc các mâu thuẫn

này vì đó là các nội dung mà bị cáo, người bào chữa . . . sẽ sử dụng

triệt để tại phiên Toà.

Ví dụ, Vụ án giết người ớ Vườn điều tỉnh B.

Trong vụ án này có rất nhiều chứng cứ gỡ tội cho bị cáo.

Nạn nhân có phải là Dương Thị Mỹ không? hiện trường

xảy ra là giả hay thật? Bởi vi khi khám nghiệm tử thi, Cơ

quan điều tra do sơ suất đã không lấy mẫu máu nạn nhân

để giám đinh ADN, khi khám nghiệm hiện trường Cơ quan

điều tra chỉ ghi nhận có hai vết máu trên vạt cát. Luật sư

cho rằng rất có thể đây không phải là hiện trường chính. Vì

lẽ nếu là hiện trường chính, thì không thể chỉ có hai vết

máu được. người bị hại Dương Thị Mỹ không biết chữ sao

lại viết được lá thư hen hò với Sáng? hung khí là con dao

phay do bị cáo Nén khai và vẽ sơ đồ nơi cất dấu, nhưng

khi đào lên được một số mảnh kim loại đã n sét. Vậy sau

5 năm con dao phay có mục được như vậy không? Theo

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

cáo trạng, dao phay dài 40cm, rộng 5cm. Có ý kiến đặt ra

là sau 5 năm dưới đất chẳng lẽ con dao đã "co" lại 30%

chiều dài nhưng lại "nó" gần gấp đôi chiều rộng?(1~ Nén

khai chém chị Mỹ bằng dao phay nhưng vết thương trên

đầu chị Mỹ lại có hình cong? Trong lúc đó bên cạnh hiện

trường còn thu được con dao quắm? Lời khai của các bị

cáo lúc nhận lúc không và khai mâu thuẫn với nhau. Đây

là những chứng cứ có tác dụng gỡ tội cho bị cáo (1)

Đối với các chứng cứ gỡ tội, Kiểm sát viên cần chú ý đối chiếu

với các quy định của pháp luật để xem xét tính có căn cứ và tính

hợp pháp của việc gỡ tội cho bị can. Các tình tiết tăng nặng, giảm

nhẹ cũng được tổng hợp.

Cuối cùng, Kiểm sát viên tổng hợp vụ án theo các nội dung cơ

bản như: vụ án có bao nhiêu bị can hành vi của các bị can phạm

tội gì cần áp dụng điểm, khoản, điều nào của BLHS, các tình tiết

tăng nặng, giảm nhẹ, các chứng cứ buộc tội, các chứng cứ gỡ tội.

Trên cơ sở đó, Kiểm sát viên đề xuất xử lý vụ án theo hướng nào?

Theo khoản 1 Điều 166 BỘ luật TTHS, thì khi nghiên

cứu đề xuất xử lý vụ án cần chú ý các hình thức sau đây.

- Truy tố bị can trước Toà án bằng bản cáo trạng;

Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;

- Đình chỉ hoặc tam đinh chỉ vụ án.

 

(Phạm vi phần này chỉ đề cập đến hình thức truy tố bị can

trước toà án)

 

17. Kỹ năng báo cáo án

Theo quy định điểm g khoản 2 Điều 36 Bộ luật TTHS, thì việc

truy tố bị can trước Toà án do Viện trưởng Viện kiểm sát quyết

định. Vì vậy, sau khi nghiên cứu, tổng hợp vụ án, Kiểm sát viên

phải chuẩn bị xây dựng bản báo cáo vụ án và đăng ký lịch để báo

cáo Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp. Nội dung bản báo cáo án

của Kiểm sát viên phải căn cứ vào quy định tại Điều 6 Quy chế số

121/2004/QĐ-VKSTC ngày 16.9.2004. Tuỳ theo tính chất mức độ

nghiêm trọng, phức tạp của vụ án mà Kiểm sát viên đăng ký báo

cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng, tập thể lãnh đạo Viện Kiểm sát

hoặc báo cáo Uỷ ban kiểm sát nghe và cho ý kiến.

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

a- Báo cáo án

Theo quy định tại Điều 6 Quy chế số 121120041QĐ-

VKS TC ngày 16 . 9. 2004 thi:

"Trước khi tham gia phiên toà . . . Kiểm sát viên và Thủ

trưởng đơn vị phải báo cáo lãnh đạo Viện về việc giải

quyết vụ án.

Việc báo cáo án phải bằng văn bản ghi rõ lý lịch bi cáo,

tóm tắt nội dung vụ án, hành vi phạm tội của từng bị cáo,

hệ thống các chứng cứ buộc tội, gỡ tội, các tình tiết tăng

nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, những mâu thuẫn

của các tài liệu, phương án giải quyết, . . . quan điểm giải

quyết vụ án của Viện kiểm sát đã giải quyết vụ án; đề xuất

đường lối giải quyết vụ án, áp dụng pháp luật để xử lý .

Như vậy, báo cáo án và nghe báo cáo án trước khi Kiểm sát

viên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà, thực hành quyền

công tố, Kiểm sát xét xử tại phiên toà là thao tác nghiệp vụ, thủ

tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Báo cáo án

là thực hiện nguyên tắc lãnh đạo tập trung, thống nhất của Viện

trưởng của Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án cụ thể thuộc

trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân. Đồng thời, thông qua

việc báo cáo án, Kiểm sát viên cũng thấy được trách nhiệm của

mình trong việc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để làm tốt nhiệm

vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự.

Về hình thức: Văn bản báo cáo án phải ghi rõ ngày, tháng,

năm báo cáo án, người báo cáo án phải ký tên, nêu ý kiến của Kiểm

sát viên là lãnh đạo đơn vị (Viện Kiểm sát nhân dân tối cao là lãnh

đạo Vụ, Ở Viện Kiểm sát tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là

lãnh đạo cấp Phòng). Văn bản báo cáo án phải được lưu giữ trong

hồ sơ kiểm sát vụ án.

Bản báo án phải ghi rõ lý lịch bị can: họ, tên, ngày, tháng, năm

sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, thành

phần xã hội, quan hệ gia đình, những đặc điểm cơ bản thuộc về

nhân thân như tiền án, tiền sự... của bị can, ngày tạm giam. Ngoài

ra, báo cáo cũng ghi đầy đủ về các thông tin của người bị hại, bị

đơn dân sự, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên

quan, người đại diện hợp pháp.

Về nội dung bản báo cáo: Báo cáo án phải nêu tóm tắt nội dung

vụ án, cụ thể là: thời gian, địa điểm, hoàn cảnh nơi phạm tội. Diễn

biến của hành vi phạm tội. Ai là người thực hiện hành vi phạm tội?

vụ án do một hay nhiều người thực hiện, có đồng phạm không, vai

trò trách nhiệm từng người trong vụ án; tính chất lỗi của từng

người tham gia? mục đích và động cơ phạm tội của từng người? tính

chất và mức độ thiệt hại (về vật chất và phi vật chất)? Báo cáo cần

phân tích và viện dẫn đầy đủ các chứng cứ xác định có tội và chứng

cứ xác định không có tội, cụ thể là: lời khai nhận tội hoặc chối tội

của bị can, lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do vậy, yêu cầu Kiểm sát viên phải

báo cáo đầy đủ các lời khai (kể cả lời khai do cơ quan điều tra thu

thập và các lời khai do Viện kiểm sát thu thập) để lãnh đạo có đầy

đủ các thông tin trước khi quyết định phương hướng xử lý vụ án.

Báo cáo cụ thể biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám

nghiệm tử thi; các vật chứng thu thập được, những dấu vết, tài liệu

thu thập được có ý nghĩa chứng minh hoặc phủ nhận hành vi phạm

tội Kết luận giám định về những vấn đề xác định sự thật vụ án

(giám định tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự, giá trị tài sản, tỷ lệ

thương tật, tốc độ xe cơ giới, vật liệu nổ, vũ khí, tiền giả, séc giả, ma

tuý, tài chính...). Báo cáo cần nêu rõ những điểm khác nhau và

những mâu thuẫn trong các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.

Khi báo cáo Kiểm sát viên có thể đọc văn bản đã được chuẩn bị, sau

đó, trình bày thêm trên sơ đồ hiện trường, bàn chiếu.

Cần lưu ý là, đối với các vụ án có hiện trường như giết người,

vi phạm luật lệ giao thông, các vụ án cháy, nổ, các vụ án gây rối . . .

Kiểm sát viên cần vẽ hiện trường, sơ đồ. Nếu hồ sơ vụ án mà cơ

quan điều tra không vẽ hiện trường, qua nghiên cứu lời khai và các

tài liệu có trong hồ sơ, Kiểm sát viên cần vẽ lại hiện trường để báo

cáo minh hoạ cụ thể.

Thực tiễn vừa qua có nhiều vụ án Kiểm sát viên đã nghiên cứu

kỹ hồ sơ và báo cáo đầy đủ vụ án góp phần quan trọng giúp lãnh

đạo có những quyết định đúng đắn khi giải quyết vụ án. Tuy nhiên,

cũng có nhiều vụ án, Kiểm sát viên chỉ báo cáo vụ án trên cơ sở kết

luận điều tra của Cơ quan điều tra, những mâu thuẫn, những điểm

khác nhau của các tài liệu không được đề cập. Đây là những

nguyên nhân quan trọng dẫn đến oan sai khi quyết định truy tố.

Ví dụ, Vụ án Kim Lắc Ở Trà Vinh.

Vào khoảng 08 giờ 30 ngày 18. 10. 1998, Nguyễn Thị

Phượng, Nguyễn Thị Vân, Nguyễn Thị Lùng và Ngô Văn

Cường đi ra Vườn để bẻ quả bình bát tại bờ kênh ông Kép.

Cùng thời điểm này Kim Lắc (Sao" và Trần sắc Lil có qua

bờ kênh ông Tạo và gặp Thạch Ngọc Tấn. Sau đó Lắc,

Tấn và Lil đã bàn nhau đến trêu chọc và cưỡng hiếp chị

Phượng, nhưng chị Phượng chạy thoát. Sau đó cả ba tên

bắt được và cường hiếp cháu Vân. Sau khi cưỡng hiếp

xong, cả ba tên đưa cháu Vân dìm xuống đáy kênh. Sau

đó Lắc, Lil và Tấn bi bắt để điều tra. Bản án sơ thẩm số

110/TA ngày 08. 12. 1999 đã tuyên phạt Kim Lắc tử hình,

Thạch Ngọc Tấn tù chung thân, Trần Lil 18 năm tù về tội

hiếp dâm trẻ em và tội giết người. Quá trình giải quyết vụ

án này các bị cáo lúc nhận lúc không và cho rằng lúc nhận

tội là do bị đánh đập. Đặc biệt các bị cáo đều khai rằng,

sở d họ nhận tội là do Điều tra viên hướng dẫn khai và khi

thực nghiệm điều tra cũng do Điều tra viên hướng dẫn làm.

Còn những người làm chứng thì khai mâu thuẫn với nhau,

nhưng không được đối chất làm rõ. Tuy nhiên, Kiểm sát

viên không phát hiện các vi phạm này, nhất là các bị cáo

khai do bị Điều tra đánh cũng không được Kiểm sát viên

xác minh để báo cáo lãnh đạo cho ý kiến. Do có nhiều

mâu thuẫn nên vụ án này đã bi cấp phúc thẩm huỷ án để

điều tra xét xử lại và hiện nay vụ án đã được Cơ quan điều

tra đình chỉ(1)

- Báo cáo về áp dụng pháp luật: Báo cáo cần đối chiếu giữa

hành vi phạm tội của bị can với các quy định của BLHS để xác định

rõ hành vi của bị can phạm tội gì, theo điều, khoản nào của BLHS.

Ngoài quy định của BLHS, Kiểm sát viên cần căn cứ vào các văn

bản pháp luật khác để viện dẫn áp dụng đối với bị can, nhất là

trong các trường hợp điều luật quy định về tội phạm của BLHS lại

dưới dạng quy định cần viện dẫn các văn bản pháp luật khác. Ví

dụ: Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây

hậu quả nghiêm trọng (Điều 165 BLHS). Trong trường hợp này, để

xác định tội danh, điều khoản áp dụng đối với bị can phải viện dẫn

thêm các văn bản pháp luật khác có liên quan như pháp luật về

kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng, đầu tư xây dựng, kế toán,

xuất nhập khẩu . . . Hoặc khi nghiên cứu vụ án về vi phạm các quy

định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

BLHS), thì Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ điểm 4 mục I của

Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP Toà án nhân dân tối cao ngày

17.04.2003 về: Các tình tiết "gây thiệt hại nghiêm trọng", "gây hậu

quả rất nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng". Ngoài

ra, Kiểm sát viên cần nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật

hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật như các thông tư

liên tịch, các nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân

tối cao hướng dẫn về những nội dung có liên quan.

- Về đề xuất đường lôi giải quyết vụ án. Đây là nội dung rất

quan trọng của báo cáo án. Việc đề xuất đường lối giải quyết vụ án

đúng đắn sẽ giúp cho lãnh đạo quyết định chính xác việc xử lý vụ

án. Quyết định của lãnh đạo Viện về xử lý vụ án phần lớn là dựa

trên những đề xuất của Kiểm sát viên. Để cho việc đề xuất có căn

cứ, ngoài việc nêu những căn cứ chứng minh bị can phạm tội gì,

theo điều, khoản nào của BLHS, báo cáo án cần xác định rõ những

tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của

bị can, bị cáo (Điều 46, 48 BLHS), trong đó, cần phân biệt rõ những

tình tiết có tính chất tăng nặng hoặc giảm nhẹ chung đối với tất cả

các bị can, bị cáo trong vụ án có đồng phạm (phạm tội có tổ chức,

phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, phạm tội chưa gây thiệt hại

hoặc gây thiệt hại không lớn. . . ) và các tình tiết tăng nặng, giảm

nhẹ chỉ gắn liền với từng bị can, bị cáo như tái phạm, tái phạm

nguy hiểm, phạm tội nhiều lần, cố tình thực hiện tội phạm đến

cùng, tự thú, thật thà khai báo, tố giác tội phạm, lập công chuộc

tội, người phạm tội là người già, phụ nữ có thai, người có nhược

điểm về thể chất hoặc tinh thần . . . Trong trường hợp vụ án vừa có

tình tiết tăng nặng, vừa có tình tiết giảm nhẹ thì báo cáo án phải

đánh giá toàn diện trên tất cả các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ

để xác định ảnh hưởng của các tình tiết tăng nặng hay các tình tiết

giảm nhẹ lớn hơn. Trên cơ sở đó, đề xuất hướng xử lý phạt tăng

nặng hay giảm nhẹ đối với bị can, bị cáo, đồng thời cũng cần xác

định rõ bị can, bị cáo có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự hay

không? có thể đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo hoặc áp dụng

các hình phạt nhẹ như cảnh cáo, cải tạo không giam giữ không,

hay phải đề nghị Toà án áp dụng những hình phạt nghiêm khắc . . .

Nội dung báo cáo vụ án cũng cần đề cập đến các tình tiết mà

qua nghiên cứu hồ sơ thấy khác với kết luận điều tra, những nội

dung mà Viện kiểm sát yêu cầu điều tra, nhưng quá trình điều tra

chưa được làm rõ. Đối với các nội dung mà cơ quan điều tra chưa

làm rõ thì Kiểm sát viên cũng cần nêu rõ các phương pháp tiến

hành. Như cần xác minh thêm vấn đề gì, ai xác minh và thời gian

tiến hành... Đối với các vấn đề cần thay đổi nội dung các tình tiết

của vụ án so với bản kết luận điều tra hoặc thay đổi diện truy tố

cũng cần báo cáo kỹ với lãnh đạo Viện.

Đối với các bị can kêu oan, những vấn đề mà dư luận xã hội đề

cập đến các tình tiết của vụ án như điều tra không khách quan,

bỏ lọt tội phạm . . . thì Kiểm sát viên cần báo cáo đầy đủ với Lãnh

đạo Viện.

Khi báo cáo án, các Kiểm sát viên lưu ý cần phải hết sức bình

tĩnh, trả lời mạch lạc các câu hỏi của Viện trưởng và các thành viên

hội nghị. Những vấn đề nào chưa trả lời được thì ghi chép trả lời

sau. Sau khi nghiên cứu kỹ các tình tiết của hồ sơ vụ án, những ý

kiến chất vấn của lãnh đạo Viện Kiểm sát sẽ được giải trình cụ thể.

b- Nghe báo cáo án. Theo quy định tại Điều 36 BỘ luật TTHS,

Viện trưởng Viện kiểm sát có nhiệm vụ và quyền hạn tổ chức và

chỉ đạo các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc

tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự; quyết định

việc truy tố. . . Như vậy, nghe báo cáo án là hoạt động nghiệp vụ của

Viện trưởng Viện kiểm sát trong việc giải quyết vụ án hình sự để

thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng theo quy định

của pháp luật. Nghe báo cáo án cũng là hình thức để Viện trưởng

trực tiếp chỉ đạo thực hiện chức năng thực hành quyền công tố,

kiểm sát hoạt động tư pháp và cũng là hình thức để Viện trưởng

thực hiện việc quản lý tập trung thống nhất đối với hoạt động thực

hiện chức năng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, không

phải bất kỳ vụ án nào cũng phải báo cáo Viện trưởng hoặc Uỷ ban

kiểm sát. Vấn đề ở chỗ là phải có sự phân cấp để vừa bảo đảm công

tác quản lý chỉ đạo của Viện trưởng, đồng thời, nêu cao tính tự chịu

trách nhiệm của mỗi cấp Kiểm sát khi giải quyết vụ án hình sự.

Theo quy định tại Điều 5 Quy chế về chức trách, nhiệm vụ,

quyền hạn và lề lối làm việc của Ban cán sự Đảng Viện Kiểm sát

nhân dân tối cao (Ban hành kèm theo Quyết định SỐ01/QĐ-BCSĐ

ngày 18.7.2007), thì nhiệm vụ, quyền hạn trong việc thực hiện

chức năng, nhiệm vụ của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao được quy

định như sau:

"Ban cán sự đảng có trách nhiệm xem xét, quyết nghị

báo cáo Bộ Chính tri, Ban Bí thư những vấn đề sau:

- Những việc do Bộ Chính trị, Ban Bí thư yêu cầu chỉ

đạo kiểm tra và báo cáo;

- Những việc do ngành Kiểm sát trực tiếp giải quyết

thuộc chức năng, nhiệm vụ của ngành có liên quan đến xử

lý trách nhiệm hình sự đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính

trị, Ban Bí thư quản lý,

- Các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan

đến an ninh chính trị, đối ngoại, trật tự quản lý kinh tế và

trật tự an toàn xã hội hoặc còn có ý kiến khác nhau giữa

các cơ quan tư pháp trung ương; giữa ngành Kiểm sát với

thường trực tỉnh uỷ, thành uỷ và Ban cán sự đảng các bộ,

ngành trung ương"

Tại Điều 9 Quy chế số 02/QĐ-V9 ngày 29.4.1996 về chế độ làm

việc của Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Uỷ ban kiểm sát Viện

kiểm sát nhân dân tối cao đã quy định trách nhiệm của Uỷ ban

kiểm sát nghe và cho ý kiến về những vụ án hình sự, dân sự quan

trọng, những vụ, việc do Chủ tịch nước và Uỷ ban thường vụ Quốc

hội yêu cầu chỉ đạo, kiểm tra.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 51 Quy chế số 120/2004/QĐ-

VKSTC ngày 14.9.2004 thì "Khi có ý kiến khác nhau giữa Kiểm sát

viên được phân công thực hành quyền công tôlvà kiểm sát điều tra

Với lãnh đạo trực tiếp hoặc giữa các đơn vị nghiệp vụ cùng cấp thì

thủ trưởng các đơn vị nghiệp vụ báo cáo Phó Viện trưởng phụ trách

quyết định, Viện trưởng là người quyết định cuối cùng. Quyết định

của Viện trưởng, Phó Viện trưởng được ghi vào báo cáo của đơn vị

nghiệp vụ và lưu trong hồ sơ kiểm sát điều tra vụ án.

Đôi với những vụ án nghiêm trọng, phức tạp, án trọng điểm,

nếu thấy cần thiết, Viện trưởng có thể đưa ra Uỷ ban kiểm sát hoặc

tập thể lãnh đạo Viện thảo luận trước khi quyết đinh".

Thực tiễn vừa qua cho thấy có nhiều vụ án nghiêm trọng, đặc

biệt nghiêm trọng, những vụ án được dư luận xã hội quan tâm đặc

biệt, những vụ án đình chỉ có tạm giam, những vụ án Toà tuyên

không phạm tội, những vụ án liên quan đến các chức sắc tôn giáo,

dân tộc . . . cũng cần đưa ra thảo luận tập thể để hạn chế sai sót. Do

vậy, ngoài những quy định trên đây cần lưu ý đối với các vụ án rất

nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, các vụ án đình chỉ điều tra do

không phạm tội có tạm giam, các vụ án đình chỉ do miễn trách

nhiệm hình sự (có khả năng lọt tội), các vụ án Toà tuyên không

phạm tội, các vụ án được dư luận quan tâm, các vụ án có liên quan

đến nhân sỹ in thức, liên quan đến người nước ngoài, liên quan đến

các chức sắc tôn giáo, dân tộc . . . thì cần đưa ra tập thể Uỷ ban Kiểm

sát hoặc lãnh đạo Viện thảo luận quyết định. Do vậy, tuỳ từng vụ

án cụ thể, căn cứ vào tính chất, mức độ của từng vụ án, Viện trưởng

có thể mời các lãnh đạo Viện Kiểm sát tham dự (tập thể lãnh đạo

Viện Kiểm sát) hoặc Uỷ ban kiểm sát cùng nghe theo quy chế hoạt

động của lãnh đạo Viện Kiểm sát, Uỷ ban kiểm sát. Trong các buổi

họp của lãnh đạo Viện Kiểm sát cho ý kiến về giải quyết án, Viện

trưởng có thể mời Thủ trưởng các đơn vị có liên quan dự.

Cuộc hội nghị nghe báo cáo án được thực hiện theo trình tự

sau đây:

Thứ nhất, bản báo cáo án phải được gửi trước cho các thành

viên dự hội nghị, do vậy, bắt đầu hội nghị Kiểm sát viên chỉ báo

cáo tóm tắt nội dung vụ án. Nếu trong trường hợp vì đột xuất mà

bản báo cáo chưa được gửi trước, thì Kiểm sát viên phải đọc nguyên

văn bản báo cáo. Khi trình bày báo cáo Kiểm sát viên có thể kết

hợp trình bày trên sơ đồ hiện trường, bàn chiếu, xuất trình những

tài liệu để chứng minh, kể cả tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập

và các tài liệu do Viện kiểm sát thu thập.

Thứ hai, Thủ trưởng đơn vị (nơi phân công Kiểm sát viên thực

hành quyền công tố vụ án) trình bày bổ sung để làm rõ nội dung

báo cáo và đưa ra quan điểm giải quyết vụ án. Các vụ án báo cáo

Viện trưởng hoặc Uỷ ban kiểm sát, thì Thủ trưởng đơn vị phải có

mặt để trực tiếp báo cáo. Trong trường hợp Thủ trưởng vắng có lý

do thì Lãnh đạo cấp phó đi thay để báo cáo.

Thứ ba, việc đặt các câu hỏi cho Kiểm sát viên trả lời, giải

trình. Sau khi nghe Kiểm sát viên báo cáo, Viện trưởng chủ trì hội

nghị có thể tóm tắt những nội dung cần được xem xét, giải quyết,

có thể đặt các câu hỏi để Kiểm sát viên giải trình hoặc làm rõ thêm.

Các thành viên tham dự hội nghị có quyền đặt các câu hỏi về

những vấn đề chưa rõ liên quan đến các tình tiết của vụ án như:

biên bản ghi lời khai, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám

nghiệm tử thi, biên bản phạm pháp quả tang, biên bản thu giữ vật

chứng, kết luận giám định pháp y, giám định thương tật và các thủ

tục tố tụng v.v. . . Các câu hỏi có thể để làm rõ về các chứng cứ buộc

tội hay chứng cứ gỡ tội.

Vì vậy, trong cuộc họp này không hạn chế các câu hỏi của các

thành viên. Tuy nhiên, để tránh làm mất thời gian, việc đặt ra các

câu hỏi cũng phải đúng nội dung vụ án và không nên lặp lại các

câu hỏi của người khác đã hỏi. Muốn vậy, đòi hỏi các thành viên dự

hội nghị phải nghiên cứu kỹ tài liệu đã gửi từ trước. Đồng thời, để

giúp cho Kiểm sát viên trả lời chính xác, các thành viên dự hội

nghị nên có phương pháp hỏi gợi mở, tạo không khí dân chủ, chân

thành và cởi mở nhằm làm cho Kiểm sát viên chủ động trả lời theo

nội dung đã chuẩn bị, tránh phương pháp hỏi có tính chất khẳng

định, truy chụp hoặc to tiếng, căng thẳng. Bởi vì, với phương pháp

hỏi như vậy rất dễ làm cho người trả lời mất bình tĩnh, dẫn đến trả

lời không chính xác, thậm chí trả lời một cách đối phó. Trong

trường hợp Kiểm sát viên chưa trả lời được, thì Thủ trưởng đơn vị

có thể giải trình các câu hỏi mà hội nghị yêu cầu.

Những câu hỏi mà lãnh đạo Viện kiểm sát và thành viên Uỷ ban

kiểm sát yêu cầu Kiểm sát viên giải trình là dựa trên các tài liệu đã

được thu thập được của hồ sơ vụ án, cho nên rất có thể đây cũng là

những vấn đề mà bị cáo, người bào chữa, người có nghĩa vụ liên quan

đưa ra tại phiên toà. Do vậy, Kiểm sát viên coi đây là cơ hội để làm

quen các câu hỏi và tập dượt việc trả lời để chuẩn bị tham gia tranh

luận tại phiên toà. Do đó, Kiểm sát viên ghi chép đầy đủ và trả lời

từng câu hỏi theo quan điểm mà mình đã chuẩn bị.

- Thứ tư, tiến hành thảo luận. Sau khi Kiểm sát viên và Thủ

trưởng đơn vị giải trình, Viện trưởng chủ toạ cuộc họp sẽ điều

khiển các thành viên thảo luận. Việc thảo luận, đánh giá về tính

chất, mức độ của hành vi phạm tội, về con người phạm tội, có tội

hay không có tội, tội gì và cần áp dụng hình thức xử lý? Do vậy, kết

quả nhận định đánh giá đó đúng hay không phụ thuộc rất lớn vào

năng lực nhận thức và không khí dân chủ của cuộc họp. Vì vậy,

trong các cuộc hội nghị duyệt án đòi hỏi Viện trưởng người chủ trì

hội nghị, cần phát huy cao tính dân chủ để gợi mở các ý kiến thảo

luận có trọng tâm, hạn chế tối đa việc thảo luận theo hướng áp đặt,

thậm chí có lúc làm cho hội nghị căng thẳng không cần thiết.

Trên cơ sở ý kiến của các thành viên tham gia cuộc họp, nội

dung giải trình của Thủ trưởng và Kiểm sát viên, Viện trưởng chủ

trì cuộc họp sẽ nêu ý kiến của mình về những vấn đề giữa các

thành viên còn có ý kiến khác nhau. Nếu sau đó vẫn còn ý kiến

khác nhau, thì các thành viên tiếp tục thảo luận để làm rõ, nếu

qua thảo luận mà đa số thành viên có ý kiến thống nhất, thì Viện

trưởng kết luận. Trong trường hợp những vấn đề nêu ra nhưng

chưa được giải trình rõ (như cần gặp bị can để xem xét một số tình

tiết, các lời khai mâu thuẫn chưa được đối chất, hoặc một số lời

khai chưa được xác minh . . .) thì Viện trưởng yêu cầu Thủ trưởng

đơn vị và Kiểm sát viên trực tiếp nghiên cứu hồ sơ, nếu cần thì xác

minh một số vấn đề để báo cáo lại. Trong trường hợp vụ án có

nhiều tình tiết phức tạp, quan điểm đánh giá còn khác nhau thì

Viện trưởng yêu cầu các đơn vị có liên quan tiếp tục chuẩn bị và

báo cáo Viện trưởng, đồng thời, nếu cần thiết có thể báo cáo vụ án

với lãnh đạo liên ngành.

Thứ năm, kết luận của Viện trưởng Viện kiểm sát về vụ án.

Kết luận của Viện trưởng về giải quyết vụ án là mệnh lệnh bắt

buộc thi hành đối với các Kiểm sát viên và Thủ trưởng các đơn vị.

Kết luận của Viện trưởng và toàn bộ ý kiến của các thành viên hội

nghị cần được ghi vào biên bản cuộc họp: tóm tắt nội dung vụ án,

các chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, các tình tiết tăng nặng,

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ của hành vi phạm

tội, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, vai trò trách nhiệm của

từng người có hành vi phạm tội, căn cứ pháp luật để áp dụng

đường lối xử lý, những việc làm tiếp theo để hoàn thiện hồ sơ,

chứng cứ. . . Kiểm sát viên ghi biên bản trung thực các ý kiến thảo

luận và kết luận của Viện trưởng. Biên bản cuộc họp cần được lưu

vào hồ sơ kiểm sát. Đây là căn cứ để các Kiểm sát viên tiến hành

các bước tiếp theo của trình tự tố tụng hình sự.

       III. KỸ NĂNG XÂY DỰNG CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT

1 . Kỹ năng xây dựng bản cáo trạng

Theo quy định của Điều 13 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân

dân năm 2002 và các điều 36, 166, 167 BỘ luật TTHS thì: Viện

kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tô' trong giai đoạn

điều tra, trên cơ sở kết quả kiểm sát điều tra, sau khi nghiên cứu,

đánh giá một cách toàn diện, khách quan, đầy đủ hồ sơ vụ án và

bản Kết luận điều tra đề nghị truy tôi của cơ quan điều tra, nếu

thấy có đủ cơ sở và cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì

Viện kiểm sát quyết đinh truy tô~bị can ra trước Toà án đê xét xử.

Theo điểm a, khoản 2 Điều 37 Quy chế số 120/2004/QĐ-VKSTC

ngày 14. 9.2004, thì sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nếu thấy có đủ

căn cứ thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định việc truy tôm can.

"Nêu có đủ căn cứ truy tôlthì Kiểm sát viên lập bản cáo trạng truy

tô bị can và báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng duyệt ký, gửi bản

cáo trạng kèm theo hồ sơ vụ án đen Toà án có thẩm quyền xét xử.

Bản cáo trạng thể hiện đầy đủ các nội dung theo đúng quy đinh tại

Điều 167 của Bộ luật tô/tụng hình sự và được lập theo mẫu do Viện

kiểm sát nhân dân tôi cao quy định". Đây là quyền năng pháp lý

rất quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân.

Bản cáo trạng là văn bản pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân

để truy tố bị can, là căn cứ làm phát sinh hoạt động xét xử của Toà

án, ghi nhận và phản ánh kết quả của toàn bộ quá trình điều tra

và kiểm sát điều tra. Bản cáo trạng là văn bản pháp lý tổng hợp

của hoạt động tư duy lôgíc trên cơ sở phân tích, đánh giá nhiều mặt

từ các chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội. Cáo

trạng không phải là sự chắp vá các mảnh vụn của các sự kiện và

không phải chỉ là sự tổng hợp trên những trang viết mà là kết quả

của lao động trí tuệ trên cơ sở trí thức khoa học pháp lý và kinh

nghiệm nghề nghiệp của Kiểm sát viên.

Bản cáo trạng truy tố bị can phải đảm bảo những quy định tại

Điều 167 Bộ luật TTHS, bởi đó là hình thức thực hiện thẩm quyền

quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân được ghi nhận tại

Điều 13 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và các

điều 36, 166, 167 Bộ luật TTHS.

Như vậy, bản cáo trạng là văn bản pháp lý mang tính quyền lực

nhà nước. Quyền công tố là quyền lực nhà nước do Viện kiểm sát

nhân dân - là cơ quan nhà nước duy nhất thực hiện để truy tố người

phạm tội ra trước Toà án nhân dân để xét xử. Bản cáo trạng thể

hiện quan điểm của Nhà nước đối với tội phạm và người phạm tội.

Theo khoản 1 và khoản 3 Điều 166 Bộ luật TTHS thì sau khi

nhận được hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra chuyển sang đề nghị

truy tố, nếu có căn cứ thì Viện kiểm sát quyết định truy tố bằng

bản cáo trạng. Khoản 3 Điều 166 Bộ luật TTHS quy định: "Trong

trường hợp truy tô/ thì trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết

định truy tô bằng bản cáo trạng... ". Như vậy, bản cáo trạng cũng

chính là quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân.

"1. Nội dung bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, giờ, tháng,

năm, địa điểm xảy ra tội phạm; thủ đoạn, mục đích, động

cơ phạm tội, hậu quả của tội phạm và những tình tiết quan

trọng khác; những chứng cứ xác định tội trạng của bị can,

những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự, nhân thân của bi can và mọi tình tiết khác có ý

nghĩa đối với vụ án.

Phần kết luận của cáo trạng ghi rõ tội danh và điều

khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng

2. Bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, tháng, năm tập cáo

trạng; họ tên; chức vụ và chữ ký của người ra bản cáo

trạng" Điều 167 Bộ luật TTHS'?

2. Địa vị pháp lý của bản cáo trạng

Theo quy định của BLTTHS, Cơ quan điều tra có trách nhiệm

khởi tố và điều tra các vụ án hình sự. Sau khi kết thúc việc điều

tra nếu thấy đủ căn cứ pháp luật để truy tố thì cơ quan điều tra

làm bản kết luận điều tra đề nghị Viện kiểm sát truy tố. Bản kết

luận điều tra và hồ sơ vụ án được chuyển sang Viện kiểm sát cùng

cấp để nghiên cứu, quyết định việc truy tố.

Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ thực hành quyền công tố

và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình điều tra của

Cơ quan điều tra. Sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án, nếu có

đủ căn cứ pháp luật để truy tố người phạm tội ra Toà, thì Viện

kiểm sát làm bản cáo trạng truy tố vụ án trước Toà án cùng cấp.

Bản cáo trạng và hồ sơ vụ án được chuyển sang Toà án để xét xử.

Như vậy, bản cáo trạng là văn bản pháp lý do Viện kiểm sát

ban hành để thực hiện quyền công tố nhà nước trong việc quyết

định truy tố người phạm tội ra Toà án để xét xử. Trong các cơ quan

tiến hành tố tụng, Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất được giao

trọng trách truy tố người phạm tội ra Toà.

Bản cáo trạng và bản kết luận điều tra tuy là hai văn bản pháp

lý xác định trách nhiệm hình sự về một vụ án hình sự và người

phạm tội cụ thể, nhưng giữa chúng có những khác nhau căn bản.

Nếu như bản kết luận điều tra đánh dấu kết thúc giai đoạn điều

tra, thì bản cáo trạng là khởi đầu giai đoạn xét xử vụ án hình sự.

Nếu như bản kết luận điều tra trình bày diễn biến hành vi phạm

tội, nêu rõ các căn cứ chứng minh tội phạm và các ý kiến đề xuất

giải quyết vụ án, thì bản cáo trạng phải trình bày cụ thể về nội

dung vụ án, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ

trách nhiệm hình sự, ghi rõ tội danh và điều khoản của BLHS.

Bản cáo trạng không chỉ là văn bản pháp lý quyết định đưa

người phạm tội ra Toà để xét xử, mà còn là văn bản xác nhận giới

hạn của việc xét xử của Toà án. Nghĩa là, Toà án chỉ được xét xử

trong phạm vi nội dung của bản cáo trạng đã nêu. Theo quy định

tại Điều 196 Bộ luật TTHS thì "Toà án chỉ xét xử những bị cáo và

những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tôi và Toà án

đã quyết định đưa vụ án ra xét xử. Toà án có thể xét xử bị cáo theo

khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tô/trong cùng một

điều luật hoặc về một tội phạm khác bằng jloặc nhẹ hơn tội mà

Viện kiểm sát truy tôi

Bản cáo trạng cũng là căn cứ để Toà án chuẩn bị cho việc xét xử

như: Quyết định đưa vụ án ra xét xử (Điều 178 Bộ luật TTHS); Triệu

tập những người cần xét hỏi đến phiên toà (Điều 183); Quyết định

số lượng thành viên của Hội đồng xét xử (Điều 185); yêu cầu Đoàn

luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho bị cáo

về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình và bị cáo là

người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể

chất (khoản 2 Điều 57 Bộ luật TTHS); thành phần hội đồng xét xử

phải có Hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ đoàn thanh niên Cộng sản

Hồ Chí Minh nếu bị cáo là người chưa thành niên (Điều 307).

Ngoài ra, bản cáo trạng còn làm phát sinh quyền và nghĩa vụ

của những người có liên quan. Vì bản cáo trạng chính là Quyết

định truy tố người phạm tội ra trước Toà án, nên không những làm

phát sinh quyền và nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng như

Viện kiểm sát, Toà án mà còn làm phát sinh nhiều chủ thể tham

gia tố tụng như bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân

sự người bào chữa, người giám hộ, người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan . . . Khi bản cáo trạng được ban hành thì Cơ quan tiến

hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng căn

cứ vào nội dung cáo trạng để chuẩn bị thực hiện quyền và nghĩa vụ

của mình tại phiên Toà.

3. Thực trạng hoạt động xây dựng bản cáo trạng

a- ưu điểm của hoạt động xây dưng bản cáo trạng

Căn cứ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và quy chế

công tác của ngành, thời gian qua Viện kiểm sát các cấp đã chú

trọng xây dựng bản cáo trạng theo đúng mẫu hướng dẫn của Viện

kiểm sát nhân dân tối cao. Các bản cáo trạng cơ bản đáp ứng được

các yêu cầu về hình thức và nội dung, thể hiện tinh thần đấu tranh

kiên quyết với các loại tội phạm, phục vụ kịp thời yêu cầu của công

cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đáp ứng nguyện vọng của

nhân dân.

Các bản cáo trạng đã đảm bảo tính có căn cứ và tính hợp pháp,

truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần làm giảm

đáng kể tình trạng oan, sai. Các bản cáo trạng đã phản ánh được

tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, mục đích, động cơ

phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, nhân thân người

phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, các chứng cứ kết

tội gỡ tội.

Viện kiểm sát nhân dân các cấp cơ bản đã thực hiện đúng yêu

cầu của ngành về kỹ thuật xây dựng văn bản. Bản cáo trạng có bố

cục khoa học, nội dung văn bản ngắn gọn, súc tích, rõ ràng, chính

xác đầy đủ văn phong trong sáng, phản ánh được các thông tin

cần thiết như: cơ quan ra quyết định truy tố theo điều, khoản,

điểm của BLHS, việc áp dụng các chế tài. hình phạt. . .

- Những tồn tại chủ yếu trong việc xây dựng bản cáo trạng:

         + Về hình thức của bản cáo trạng.

Hiện nay nhiều bản cáo trạng đã nêu được các căn cứ Điều 36,

Điều 166, Điều 167 Bộ luật TTHS quy định về nhiệm vụ, quyền

hạn của Viện kiểm sát nhân dân đối với hoạt động điều tra và là

căn cứ để Viện kiểm sát truy tố bị can ra trước Toà án bằng bản

cáo trạng.

Tuy nhiên, có nhiều bản cáo trạng việc vận dụng các căn cứ

pháp luật thiếu chính xác, một số bản cáo trạng không trích rõ

điểm, khoản, điều luật áp dụng. Hoặc có bản cáo trạng không ghi

rõ nơi nhận. Có bản cáo trạng lại chia thành những phần lớn như:

nội dung sự việc phạm tội, kết luận, lý lịch bị can, đánh giá. . . việc

chia cáo trạng thành những phần như thế này làm cho bản cáo

trạng thiếu tính lôgíc. Đáng lưu ý là có vụ án, cùng sự việc phạm

tội, nhưng Viện kiểm sát truy tố bị can bằng ba bản cáo trạng.

Ví dụ, Vụ án Nguyễn Hồng Lĩnh

Trong vụ án này bị cáo bị Viện kiểm sát tỉnh ~ truy tố

bằng ba bản cáo trạng cùng ngày 18 . 6. 2004, cùng số 49.

Bản thứ nhất truy tố bị can Lĩnh về tội "Tàng trữ, mua bán

trái phép chất ma tuý" theo điểm b, h khoản 2 Điều 194

BLHS. Bản cáo trạng thứ hai lại truy tố bị can Lĩnh về hai

tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm b, h khoản

1 Điều 194 Bộ luật hình sự và tội "Mua bán trái phép chất

ma tuý" theo khoản 1 Điều 194 BLHS. Bản cáo trạng thứ

ba cũng số và ngày trên đây nhưng lại truy tố bị can hai tội

"Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm h khoản 2 Điều

194 BLHS và tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo

ư ' ' b khoản 2 Điều 194 BLHS. Trong khi đó, bị can

Nguyễn Hồng Lĩnh chỉ nhận được bản cáo trạng truy tố bị

can về tội " Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm h

khoản 2 Điều 194 BLHS(I).

Có nhiều bản cáo trạng khi nêu căn cứ pháp lý còn chung

chung, không viện dẫn điều luật cụ thể như: căn cứ Luật tổ chức

Viện kiểm sát nhân dân; căn cứ BLHS và BLHS. Trong khi đó, có

bản cáo trạng lại căn cứ vào quyết định khởi tố vụ án hình sự của

Cơ quan điều tra về hành vi phạm tội của bị can, không căn cứ vào

tội danh và điều luật là không đúng với quy định của pháp luật.

Nhiều bản cáo trạng khi đề cập đến nhân thân bị can thì viết rất

đơn giản, ví dụ bị cáo sinh năm . . . , trú quán . . . (không ghi ngày,

tháng, năm sinh).

+ Những tồn tại về mặt nội dung. 

Thứ nhất, bản cáo trạng nhìn chung còn tập trung các tình tiết

tăng nặng. Thực tiễn cho thấy, các bản cáo trạng thường mô tả như

bản kết luận điều tra, chỉ tập trung nêu các tình tiết tăng nặng, ít

chú ý đến các tình tiết giảm nhẹ. Đặc biệt nhiều bản cáo trạng chỉ

tập trung nêu chứng cứ buộc tội và các tình tiết tăng nặng, còn các

chứng cứ gỡ tội, các tình tiết giảm nhẹ thì không chú ý đề cập, làm

cho bản cáo trạng phân tích một chiều, không khách quan. Việc

phân tích, chứng minh hành vi phạm tội chưa sâu sắc. Vì vậy,

nhiều trường hợp tại phiên Toà bị cáo, người bào chữa đưa ra

những chứng cứ gỡ tội, những tình tiết giảm nhẹ yêu cầu Kiểm sát

viên đối đáp thì Kiểm sát viên lúng túng.

Ví dụ, Vụ án Lê Bá Mai

Bản cáo trạng số 1 5/KSĐ T- TA ngày 26. 0 1 . 2005 của

Viện kiểm sát truy tố Lê Bá Mai về tội "Hiếp dâm trẻ em"

và tội "giết người" theo Điều 112 và Điều 93 BLHS. Bản

cáo trạng này chúng tả hành vi hiếp dâm, giết cháu út của

bị can Lê Bá Mai và nêu nội dung bản khám nghiệm tử thi

và kết luận hành vi phạm tội của Lê Bá Mai. Trong khi đó,

vụ án này có nhiều tình tiết mâu thuẫn, nhiều tình tiết gỡ

tội cho bị can nhưng cáo trạng không đề cập như bị can

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

có nhiều lời khai mâu thuẫn với nhau, lời khai của bi can

mâu thuẫn với lời khai của những người làm chứng, lời khai

người làm chứng thì mâu thuẫn với nhau và mâu thuẫn với

biên bản khám nghiệm hiện trường nhưng không được cáo

trạng đề cập, phân tích hay để từ đó có lập luận bác bỏ

hay đồng tình với các tình tiết, hoặc là cáo trạng truy tố bị

can về tội hiếp dâm trẻ em nhưng bản cáo trạng không

nêu rõ tại sao hành vi của bị can lại phạm tội đó, người bị

hại bao nhiêu tuổi. Do vậy, cáo trạng truy tố Lê Bá Mai về

tội hiếp dâm trẻ em và tội giết người là chưa có lập luận và

viện dẫn chứng cứ để chứng minh(1)

Nhiều bản cáo trạng chỉ căn cứ lời khai của người bị hại (như

kết luận điều tra) để kết tội bị can mà không xem xét các chứng

cứ khác như lời khai của bị can và những người làm chứng khác,

các tài liệu đồ vật vật chứng thu được, nhất là các tài liệu, dấu

vết thu lượm tại hiện trường, các dấu vết thương tích trên cơ thể

nạn nhân... để xem xét, phân tích, đánh giá, kết luận. Bởi vì một

nguyên tắc có tính chất kinh điển mà bất cứ khoa học pháp lý

quốc gia nào cũng thừa nhận là: lời khai của người bị hại chỉ

được coi là chứng cứ khi lời khai đó phù hợp với các chứng cứ

khác như lời khai của bị can, người làm chứng, người có quyền lợi

nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, vật chứng khác của vụ án.

Đồng thời, khi đã có đủ chứng cứ chứng minh các lời khai và các

vật chứng phù hợp, thì cũng phải xem xét với hành vi đó đã cấu

thành tội phạm cụ thể chưa?

Ví dụ, Vụ án Nguyễn Văn Lãm bị Viện kiểm sát huyện

D bị truy tố tội trộm cắp tài sản.

Theo bản cáo trạng sau khi đi xem bóng đá về qua khu

nhà trọ, Lãm phát hiện có một phòng cửa chỉ khép hờ, liền

lấy đèn gìn dài vào thấy một chiếc điện thoại di động nằm

trên chiếc tủ ti vi kê gần cửa ra vào. Sau đó Lãm bèn lấy

một cây gậy có bịt băng keo thò vào để khều chiếc điện

thoại nhưng chiếc điện thoại rơi. Do vậy, bị phát hiện và

Lãm bị bắt. Theo người người bị hại khai thì lúc đó anh ta

vừa nằm xuống, mới chợp mắt thấy có ánh đèn và có tiếng

động từ của phòng. Anh ta thấy có bóng người, một tay

cầm đèn gìn, một tay cầm gậy đang thò cây gậy vào

(1) Nguồn hồ sơ VKSNDTC

phòng để khều điện thoại. Liền lúc đó anh ta hô và cùng

mọi người bắt được thủ phạm. Lời khai này là cơ sở để

Viện kiểm sát làm cáo trạng truy tố bị can. Tuy nhiên, bị

cáo Lãm lại khai rằng bi cáo thừa nhận có vào khu nhà trọ

để trộm cắp như người người bị hại khai, nhưng vừa rọi đèn

vào phòng thì bị phát hiện truy hô. Bị cáo không thừa nhận

dùng gậy có bịt băng keo để khều điện thoại. Như vậy, bị

cáo đã thò cây gậy vào để khều điện thoại hay chưa thì

giữa bị cáo và người bị hại khai còn mâu thuẫn. Tuy nhiên,

với các chứng cứ này có căn cứ kết luận bị cáo có hành vi

chuẩn bị thực hiện tội phạm. Tại phiên Toà, Hội đồng xét

xử cho rằng Viện kiểm sát truy tố bị cáo khoản 1 Điều 138

BLHS là tội phạm ít nghiêm trọng, nhưng bị cáo chỉ có

hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm, cho nên bị cáo không

phải chịu trách nhiệm hình sự ở giai đoạn chuẩn bị thực

hiện tội phạm đối với tội ít nghiêm trọng. Điều đáng nói ớ

đây là cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị can về tội

trộm cắp tài sản, nhưng không phân tích, đánh giá như thế

nào về hành vi phạm tội mà chỉ ghi tội danh trộm cắp(1).

Việc chỉ dựa vào lời khai của bị can để xây dựng bản cáo trạng,

mà không chú ý xem xét các chứng cứ khác làm cho bản cáo trạng

không phản ánh đúng thực tế của vụ án.

Ví dụ, Vụ án Lê Hồng út phạm tội giết người ở tỉnh G

Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh G,

khoảng 20h ngày 11.2.2006, Phạm Văn Thư đi xe máy

đến nhà trọ số 328 đường Hai Bà Trưng tim bạn tên là

Luyến. Đến nơi Thư gõ cửa gọi Luyến. Lúc này, Lê Hồng

út ở phòng bên nói với Thư. "La vừa thôi, để người khác

nghỉ, ở đây có người lớn, người nhỏ'? Thế rồi hai bên cãi

nhau. Sau đó Thư dùng tay đâm vào mặt út, út đấm lại

Thư Tiếp đó, út lấy dao Thái Lan đâm vào cổ Thư và Thư

ôm út kẻo ra sân. Trong lúc đang bị Thư ôm, út cầm giao

đâm nhiều nhát vào người Thư, làm Thư chết khi đưa đi

cấp cứu Nội dung trên đây của bản cáo trạng chỉ dựa vào

lời khai của bị cáo, không chú ý lời khai của những người

làm chứng khác. những người làm chứng khác cho rằng:

thấy út và Thư đi từ phòng trọ thiên cổng trước, vừa đi vừa

(1) Nguồn báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh

cãi vã nhau, sau đó út và Thư giằng co nhau thì út đâm

Thư ngã gục xuống đất. Lời khai của những người làm

chứng thống nhất với nhau và phù hợp hiện trường. Còn lời

khai của bị can không phù hợp với thực tế khách quan, bởi

vì theo bi cáo khai: sau khi Thư bị đâm một nhát dao vào

cổ thì Thư ôm bị cáo kẻo ra sân. Điều này không phù hợp

với thực tế ở chỗ: Thư bị đâm một nhát vào cổ - vết thương

gây nên cái chất cho Thư - thì Thư lấy đâu sức mà ôm bị

cáo kẻo ra sân như bi cáo khai được nữa. Như vậy, bản

cáo trạng này cũng chỉ căn cứ vào lời khai của bị cáo để

kết luận là không chính xác (1).

Thứ hai, chưa chú trọng việc phân tích, đánh giá các chứng cứ.

Nhiều bản cáo trạng chỉ mô tả hành vi phạm tội của bị can, ít quan

tâm đến trích dẫn các tài liệu chứng cứ để chứng minh (như các

bút lục). Có bản cáo trạng chỉ tập trung phân tích hành vi phạm

tội của bị can này, để lọt các bị can khác, nhưng khi viện dẫn chứng

cứ để chứng minh (các bút lục có trong hồ sơ) lại nêu ở phần "tang

vật thu giữ '. Bên cạnh đó, có bản cáo trạng trong quá trình mô tả

hành vi phạm tội không trích dẫn bút lục mà sau khi mô tả mới

trích dẫn các bút lục, làm cho bản cáo trạng có bố cục không hợp

lý, không lôgíc và rất dài dòng. Cũng có bản cáo trạng, do nghiên

cứu hồ sơ không kỹ, quan điểm đánh giá chứng cứ không toàn diện

nên dẫn đến để lọt tội.

Ví dụ, Do mâu thuẫn từ trước với Trịnh Minh Tuấn, nên

Dương Văn Tám đã rủ Tạ Văn Sấm, Nguyễn Văn Thành

tìm Tuấn để đánh. Trên đường đi tìm Tuấn, bị can Tám

luôn có lời lẽ kích động đồng bọn như tạm cách đánh chết

mẹ nó đi , hoặc "đêm nay tìm được sẽ đánh chết" hoặc là

tâm đánh chết nó đi . Khi gặp Tuấn, Sấm đã rút dao nhọn

đâm chết Tuấn. Sau đó cả bọn chạy trốn, đi được một

đoạn, Sấm nói với mọi người "Em đâm nó rồi'? Tiếp đó

Tám bảo Sấm lau máu trên dao và chạy trốn. Cáo trạng

chỉ truy tố Tạ Văn Sấm về tội "Giết người" theo điểm n

khoản 1 Điều 93 BLHS. Trong vụ án này, mối quan hệ giữa

Dương Văn Tám, Nguyễn Văn Thành, Tạ Văn Sấm là

quan hệ tay ba và giữa chúng có sự thống nhất ý chí cho

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

đến khi hành động. Đây là nguyên nhân dẫn đến kết quả

để bị can Sấm dùng dao đâm chết nạn nhân. Trong đó,

Dương Văn Tám là tên khởi xường, rủ rê, lôi kéo và liên tục

kích động các đối tượng khác thực hiện tội phạm. Thế

nhưng cáo trạng chỉ truy tố bị can Sấm tội giết người là bỏ

lọt tội giết người đối với các bi cáo Tuấn và Thành (1)

Thứ ba, trách nhiệm dân sự nêu còn quá sơ sài. Đây là thiếu

sót của bản cáo trạng và bản kết luận điều tra. Bản cáo trạng chỉ

mới tập trung làm rõ các nội dung về hình sự, còn về dân sự thì

nêu rất sơ sài. Vì vậy, trong thực tiễn nhiều trường hợp phải huỷ

để điều tra xét xử lại.

Ví dụ, Vụ án Vương Xuân Nam phạm tội giết người.

Tại bản cáo trạng số 62/C TNKS/PI ngày 11  . 1 1 . 2005 ích 

nêu về dân sự có ghi: "Tại Cơ quan điều tra ông Vương

Xuân Luyến đà bố đẻ của bị can Nam) đã bồi thường cho

gia đ nhanh Ngữ số tiền 1 5. 700. 000 đồng. Hiện gia đ nhanh Ngữ còn yêu cầu bồi thường số tiền 113 triệu đồng . Tuy

nhiên, vụ án này về mặt dân sự còn nhiều vấn đề chưa được

điều tra làm rõ như chị Mai vợ anh Ngữ có hai đứa con (một

cháu 8 tuổi, một cháu 1 tuổi) và đề nghị cấp dưỡng hai cháu

nhưng Kiểm sát viên không chú ý nên khi truy tố, xét xử chỉ

đề cập bồi thường cho một cháu. V vậy, vụ án phải bị huỷ

phần dân sự để điều tra xét xử lại từ đầu (2).

 

b- Những tồn tại trong phần kết luận và quyết định của cáo trạng.

Nhiều bản cáo trạng trong phần kết luận không nêu rõ một

cách tổng hợp ngắn gọn hành vi phạm tội của bị can như hướng

dẫn đã đề cập, không nêu rõ tội danh và điều khoản của BLHS cần

áp dụng mà viết luôn lý lịch bị can, sau đó mới tổng hợp hành vi

phạm tội của bị can. Khi kết luận hành vi phạm tội của bị can lại

không nêu rõ khoản của điều luật cần áp dụng. Những bản cáo

trạng như vậy làm cho người đọc không hiểu bị can bị Viện kiểm

sát truy tố về tội gì.

 

Nhiều bản cáo trạng trong phần kết luận lại viết như bản luận

Nguồn hồ sơ vụ án tại VKSNDTC.

Nguồn hồ sơ vụ án tại VKSNDTC

tội Ví dụ, "Bị can Nguyễn Văn Hùng là một công dân có trình độ

hiểu biết pháp luật, nhận thức rõ hậu quả do hành vi của mình gây

ra, nhưng bất chấp mọi quy định của pháp luật, bị can cô/ý thực

hiện hành vi phạm tội liên cùng và thể hiện quyết tâm rất cao. Do

đó, cần phải có biện pháp trừng trị một cách nghiêm khắc đối với

ngư thực hiện hành vi này.". Trong khi đó, có bản cáo trạng

không nêu bị can hiện có bị tạm giam hay tại ngoại, nếu đang bị

tạm giam thì đang tạm giam ở đâu. Ngược lại, có bản cáo trạng nêu

quá cụ thể như: lệnh tạm giam theo lệnh số nào và Viện Kiểm sát

phê chuẩn ra sao. . . nêu như vậy là không cần thiết.

Về lý lịch của bị can đã được Viện kiểm sát nhân dân tối cao,

Toà án nhân tối cao, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) có Thông tư

liên ngành số 03/ TTLN ngày 20.6.1992 hướng dẫn rất cụ thể về

xác minh lý lịch bị can, bị cáo nhưng trong thực tiễn có trường hợp

Kiểm sát viên chưa chú ý kiểm tra xem Cơ quan điều tra đã xác

minh kỹ chưa, nếu chưa rõ thì yêu cầu xác minh tiếp. Có trường

hợp nêu địa chỉ không đúng, hoặc lấy tên người khác nhưng việc

xác minh cũng rất sơ sài, không cụ thể dẫn đến kết luận không

đúng, người này có hành vi phạm tội lại kết luận cho người khác.

Ví dụ, Ngày 15 . 1 1 . 2002, anh Nguyễn Khắc Minh trú tại

xã Đồng Thái, huyện Ba V, tỉnh Hà Tây có đơn gửi Viện

kiểm sát nhân dân tối cao khiếu nại có nội dung: Từ năm

1997 đến nay, tôi Nguyễn Khắc Minh không làm việc gì trái

pháp luật. Nhưng bỗng nhiên có một tai vạ do cơ quan pháp

luật ập lên đầu tôi. Đó là ngày 12 . 09. 2002 tôi cùng người

yêu đi đăng ký kết hôn thì chính quyền xã Đồng Thái yêu

cầu tôi nộp án phí cho Toà án nhân dân tỉnh Bà Ria- Vũng

Tàu theo Bản án số 66/HSST ngày 13. 6. 1998 đã tuyên phạt

Nguyễn Khắc Minh 3 năm về tội cướp tài sản công dân. Đề

nghị quý Viện giải quyết cho tôi nỗi oan nghiệt ngã này.

 

Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tổ chức điều tra, xác

minh tại các cơ quan có liên quan tại tỉnh Bà Ria - Vũng

Tàu và Uỷ ban nhân dân xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, tỉnh

Hà Tây, kết quả như sau: Chu Văn Đức có hộ khẩu thường

trú tại xã Đồng Phú, huyện Ba V, tỉnh Hà Tây nhưng theo

bố, mẹ đi làm kinh tế tại huyện Kỳ Sơn tỉnh Hoà Bình từ

năm 1994. Năm 1997, Chu Văn Đức đi lang thang vào

thành phố Vũng Tàu và phạm tội cướp tài sản công dân

nhưng không khai tên minh mà lại khai nhận họ, tên và lý

lịch, hộ khẩu, nơi sinh của anh Nguyễn Khắc Minh tại xã

Đồng Thái, huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây. Cơ quan điều tra đã

có công văn gửi các cơ quan liên quan ở tỉnh Hà Tây đề

nghị xác minh nhân thân lai lịch đối tượng phạm pháp

Nguyễn Khắc Minh theo lý lịch trên đây nhưng không có kết

quả cụ thể Do vậy, vụ án được truy tố, xét xử và Nguyễn

Khắc Minh bị Toà án phạt 3 năm tù về tội cướp tài sản như

đã nêu trên. Căn cứ kết quả xác minh, Viện trưởng Viện

kiểm sát nhân dân tối cao đã có kháng nghị tái thẩm và Toà

hình sự Toà án nhân dân tối cao đã có Quyết định số

56/HS/TT ngày 25. ~1.2003 huỷ phần quyết định của bản

án hình sự sơ thẩm số 66/HSST ngày 13.6. 1998 của Toà

án nhân dân tỉnh Bà Ria- Vũng Tàu đã kết án đối với

Nguyễn Khắc Minh. Giao hồ sơ cho Viện kiểm sát tối cao

giải quyết lại vụ án từ giai đoạn điều tra (1).

Về tình tiết hoàn cảnh gia đình cũng được hướng dẫn rất chi

tiết, nhưng cáo trạng lại không đề cập cụ thể, không chính xác

nhất là bị can có vợ con như thế nào, các con bao nhiêu tuổi,

người nhà trong gia đình có được thưởng huân chương và các danh

hiệu Nhà nước phong tặng không. Hoặc là các tình tiết về tiền sự,

tiền án... Đây là các tình tiết quan trọng liên quan đến xác định

việc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, nhưng Kiểm sát

viên không chú ý.

Có nhiều bản cáo trạng, trong phần ghi nơi nhận không đúng,

chưa đầy đủ các thông tin cần thiết ở mục này. Có bản cáo trạng

ghi nơi gửi không chính xác như: cấp uỷ địa phương, chính quyền

địa phương, lưu hồ sơ thì không rõ hồ sơ vụ án hay hồ sơ kiểm sát

điều tra . . .

Có bản cáo trạng, trong phần kết luận có viện dẫn điều luật áp

dụng đối với bị can, nhưng không viện dẫn khoản của điều luật có

cấu thành cơ bản. Viện dẫn như vậy là chưa đúng với các quy định

của pháp luật.

c Nguyên nhân của những tồn tại trên

Thứ nhất, nhận thức về vị trí và tầm quan trọng của bản cáo

trạng cũng như nhận thức về các quy định của pháp luật của Kiểm

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

sát viên các cấp chưa đầy đủ, ý thức trách nhiệm của các Kiểm sát

viên và lãnh đạo chưa cao trong việc xây dựng bản cáo trạng, nhiều

nơi chưa thực hiện tất trách nhiệm của mình trong việc thực hành

quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự. Có biểu hiện

chủ quan cẩu thả, chưa tuân thủ yêu cầu của mẫu cáo trạng do

Viện kiểm sát tối cao hướng dẫn.

Thứ hai, năng lực, trình độ của một số Kiểm sát viên còn hạn

chế, khả năng tổng hợp, phân tích, đánh giá các chứng cứ, các tình

tiết để bảo vệ quan điểm của mình còn yếu. Khi phân tích, đánh

giá, tổng hợp không viện dẫn các chứng cứ để chứng minh

Thứ ba, tình hình tội phạm ngày càng có chiều hướng phức tạp,

tính chất mức độ của tội phạm ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nhưng

việc nghiên cứu hướng dẫn các quy định của pháp luật của các cơ

quan trung ương chưa kịp thời. Mẫu cáo trạng đã được Viện kiểm

sát tối cao hướng dẫn từ ngày 14.9.2004, nhưng không được tổng kết

rút kinh nghiệm để tập huấn nâng cao chất lượng bản cáo trạng.

Điều đáng quan tâm là hiện nay nội dung bản cáo trạng ít được

đề cập đến trách nhiệm dân sự. Nhiều trường hợp Kiểm sát viên chỉ

chú y đến việc xem xét trách nhiệm hình sự, còn trách nhiệm dân

sự thì ít được chú y. Nguyên nhân của tình trạng trên là hướng dẫn

của Viện kiểm sát tối cao về xây dựng bản cáo trạng không đề cập

nội dung này. Đây là thiếu sót cần khắc phục trong thời gian tới.

4. Bố cục của bản cáo trạng

Theo mẫu hướng dẫn viết cáo trạng số 122/HD ngày 14.9.2004

của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì bố cục của bản cáo trạng

gồm có 4 phần:

- Phần nêu căn cứ pháp lý;

- Phần mô tả hành vi phạm tội của các bị can;

- Phần kết luận;

Phần quyết định.

Yêu cầu nội dung từng phần của bản cáo trạng

phần nêu căn cứ pháp 

 

Ngoài tiêu đề và cụm từ viên trưởng Viện kiểm sát nhân dân . . ."

cần nêu các căn cứ pháp luật trong việc truy tố của Viện kiểm sát

nhân dân là các điều 36, 166, 167 Bộ luật TTHS năm 2003.

Nêu các căn cứ về các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can

hoặc các quyết định khác như: phục hồi điều tra, khởi tố bổ sung,

nhập hoặc tách vụ án hình sự (nếu có).

Việc nêu các căn cứ pháp luật và các quyết định của Cơ quan

điều tra trên đây tuy chỉ là hình thức, là phần mở đầu nhưng có ý

nghĩa rất quan trọng. Vì đây là căn cứ để xác định tính hợp pháp

và tính có căn cứ của hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra cũng

như tính có căn cứ và tính hợp pháp của việc truy cứu trách nhiệm

hình sự đối với một con người cụ thể.

Sau phần mở đầu là câu chuyển tiếp: "Trên cơ sở kết quả điều

tra đã xác định được như sau:...". Đây là phần trọng tâm của bản

cáo trạng. Căn cứ Điều 167 Bộ luật TTHS thì nội dung phần này

của bản cáo trạng phải đạt được những yêu cầu sau đây:

- Thời gian, địa điểm xay ra tội phạm

+ Về thời gian, cần ghi đầy đủ như hướng dẫn: "ngày, giờ,

tháng, năm địa điểm xảy ra tội phạm". Ngày tháng năm ghi trong

bản cáo trạng lưu ý phải là ngày, tháng, năm dương lịch (không

ghi ngày, tháng âm lịch). Còn giờ phải ghi đầy đủ giờ, phút. Ví dụ,

vụ án xảy vào lúc 15 giờ 35 phút ngày... nhưng bản cáo trạng lại

ghi vào khoảng 3 giờ rưỡi chiều là sai mà phải ghi: vào lúc 15 giờ

35 phút ngày. . .

+ Về địa điểm, cần ghi đầy đủ tên thôn làng, xóm, ấp, tổ, số

nhà, (ở thành phố còn phải ghi đường phô), xã (hoặc phường),

huyện (hoặc quận), tỉnh (hoặc thành phô). Ghi đúng địa chỉ mà

chính quyền địa phương đã quy định.

- Về mô tả hành vi phạm tội

Theo hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì bản cáo

trạng phải ghi "thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, hậu quả của

tội phạm và những tình tiết quan trọng khác". Hành vi phạm tội

của bị can phải được mô tả chính xác, đầy đủ, dễ hiểu. Không nên

kể lể miên man, không phân tích quá sâu các sự kiện mà chỉ mô tả

đầy đủ các sự kiện. Đặc biệt đối với các loại tội có tính chất nhạy

cảm và liên quan đến thuần phong mỹ tục (như các tội lợi dụng các

quyền tự do dân chủ... theo Điều 258 BLHS, các tội phạm liên

quan về tình dục như Điều 111, 112, 113, 114, 115, 116 150, 253,

254, 255, 256 thì không nhất thiết mô tả cụ thể, chi tiết các động

tác Khi mô tả các sự kiện đều phải có mục đích, nhằm làm sống

lại quá trình diễn biến của hành vi phạm tội. Qua mô tả hành vi

phạm tội làm cho mọi người có thể hình dung được hành vi của bị

can đã diễn ra khách quan như thế nào (lời nói, hành động cụ thể

hoặc không hành động). Bị can đã thực hiện tội phạm với thủ đoạn,

mục đích, động cơ phạm tội ra sao; công cụ, phương tiện mà bị can

sử dụng để thực hiện phạm tội là gì, hậu quả thực tế của hành vi

phạm tội đến mức nào. Khi đánh giá hậu quả của hành vi phạm

tội cần lưu ý hậu quả vật chất và phi vật chất. Hậu quả vật chất

là hậu quả do hành vi phạm tội gây ra mà cơ quan pháp luật có thể

cân, đong, đo đếm được. Hậu quả phi vật chất là hậu quả do hành

vi phạm tội gây ra về chính trị, xã hội. Đây là hậu quả mang tính

chất trừu tượng, do vậy, muốn xác định chính xác phải căn cứ vào

tình hình chính tri, xã hội ở địa bàn đó và vào thời điểm tội phạm

xảy ra như thế nào.

Ví dụ, Vụ án tham nhũng đất Ở ĐỒ Sơn thành phố

Hải Phòng.

Theo bản cáo trạng thì về hậu quả vật chất chỉ mới đề

cập hành vi phạm tội theo quyết định số 1382/QĐ-UB

ngày 23. 6. 2003 Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng

giao đất cho 113 hộ làm nhà ớ. Đối với hành vi phạm tội

theo quyết đinh số 807/QĐ-UB ngày 02.04.2004 về việc

cấp đất cho 101 hộ không được truy tố vì chưa xác định

được hậu quả. Tuy nhiên, hậu quả của Quyết định cấp đất

cho 101 hộ là đã có nhưng chưa được điều tra làm rõ.

Hậu quả về vật chất cần phải được điều tra làm rõ như

về giá tri thực tế của diện tích đất cấp sai đối tượng của

hai dự án trên là bao nhiêu (tính theo trị giá đồng Việt

Nam). Do chưa xác định giá trị thực tế của diện tích đất

cấp sai này nên chưa đánh giá được tính chất nghiêm

trọng của vụ án.

Về hậu quả phi vật chất của vụ án: việc làm sai trái của

những người liên quan đến vụ án này đã và đang gây nên

sự phản đối quyết liệt trong dư luận nhân dân, làm mất

lòng tin nghiêm trọng đến uy tín của các cơ quan đảng và

nhà nước. Những hậu quả này, quá trình điều tra, truy tố

chưa được làm sáng rõ. Như vậy, trong vụ án này khi đánh

giá hậu quả của tội phạm cần chú ý đánh giá cả hậu quả

về vật chất và hậu quả về phi vật chất, có như vậy bản cáo

trạng mới có sức thuyết phục. Đối với vụ án này, ngày

 2. 09. 2006 Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã

có quyết định số 03/QĐKN-VKSTC-VPTI kháng nghị bản

án hình sự sơ thẩm số 1 82/2006/HSS T ngày 28. 8. 2006

của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng. Yêu cầu Toà

Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội áp dụng

khoản 1 Điều 250 BLTTHS tuyên huỷ toàn bộ bản án sơ

thẩm nói trên để tiến hành điều tra, truy tố và xét xử lại

theo quy đinh chung(1)

Cần chú ý việc nêu động cơ phạm tội là một quy định mới. Cáo

trạng cần nêu đầy đủ động cơ phạm tội sẽ giúp cho việc đánh giá

được tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.

Đối với các vụ án có đồng phạm, sau khi nêu nội dung tổng quát

vụ án cần nêu hành vi cụ thể của từng bị can, vai trò, vị trí, trách

nhiệm của của từng bị can (chú ý phân tích các dấu hiệu, đặc điểm

pháp lý riêng của mỗi bị can như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ

trách nhiệm hình sự). Nếu vụ án có một số bị can phạm tội trong

một thời gian nhất định, thì có thể viết diễn biến hành vi phạm tội

theo thời gian. Nếu bị can phạm nhiều tội khác nhau, thì có thế

nêu theo tính chất của từng hành vi phạm tội, từ tội đặc biệt

nghiêm trọng trước đến tội ít nghiêm trọng sau. . .

- Việc viện dẫn những chứng cứ xác định tội trạng của bị can

Những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự đã được

Điều 63 BLTTHS quy định. Đây là nội dung hết sức quan trọng

của bản cáo trạng. Bản cáo trạng có sức thuyết phục hay không

phụ thuộc rất nhiều vào việc viện dẫn các chứng cứ chứng minh

hành vi phạm tội. Bị can khai nhận hành vi phạm tội như thế nào,

các tình tiết mà bị can thừa nhận đã được xác minh chưa? Các lời

khai và việc xác minh được thể hiện ở bút lục nào. Lời khai nhận

tội đó phù hợp với lời khai của người làm chứng nào, phù hợp với

các dấu vết thu tại hiện trường ra sao, phù hợp với bản kết luận

giám định pháp y như thế nào. Đối với các trường hợp bị can chối

tội thì bản cáo trạng phải đưa ra các chứng cứ, lập luận để bác bỏ

như xác minh các nội dung chối tội là không có căn cứ. Trường hợp

bị can, người làm chứng, người bị hại mà thay đổi lời khai không

có căn cứ thì bản cáo trạng cũng phải viện dẫn chứng cứ và phân

tích để bác bỏ.

Khi mô tả hành vi phạm tội của bị can, xác định hậu quả của

vụ án, chính là nhằm trình bày những chứng cứ chứng minh tội

trạng của bị can. Các chứng cứ đưa ra để chứng minh động cơ, mục

đích, phương thức, thủ đoạn, công cụ, phương tiện phạm tội của bị

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

can chính là góp phần cùng Hội đồng xét xử xem xét đánh giá vụ

án khách quan, toàn diện. Những chứng cứ được viện dẫn trong

cáo trạng mà có chọn lọc, bảo đảm chặt chẽ, lôgic thì sẽ có tính

thuyết phục cao, làm cho người nghe "tâm phục, khẩu phục". Do

vậy, Kiểm sát viên phải biết cách chọn lọc các chứng cứ điển hình,

có giá trị chứng minh cao như các dấu vết, tài liệu, đồ vật, chứng

từ thu thập được và các tài liệu về kết luận của Giám định viên.

- Những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự

Theo Điều 167 Bộ luật TTHS thì đây là nội dung khác nhau

căn bản giữa bản cáo trạng và bản kết luận điều tra. Theo Điều

163 BỘ luật TTHS, thì bản kết luận điều tra không nêu các tình

tiết này. Các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự đã được Điều 46, 48 BLHS quy định cụ thể, rõ ràng. Hướng

dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tối cáo cũng đã xác định cáo trạng

phải nêu đầy đủ các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ. Việc bản cáo

trạng nêu đầy đủ các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ

không những sẽ giúp cho bản cáo trạng có sức thuyết phục mà còn

giúp cho Hội đồng xét xử quyết định hình phạt công bằng, khách

quan, góp phần vừa cải tạo, giáo dục người phạm tội, vừa thể hiện

nguyên tắc trừng trị kết hợp với khoan hồng trong chính sách hình

sự của Đảng và Nhà nước. Với ý nghĩa này chúng tôi thấy không

chỉ bản cáo trạng hay bản án phải nêu đầy đủ các tình tiết tăng

nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mà bản kết luận

điều tra của Cơ quan điều tra cũng cần nêu các tình tiết này. Việc

bản kết luận điều tra nêu các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự cũng phù hợp với Điều 63 Bộ luật TTHS.

Vì vậy, quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật TTHS cần nghiên cứu

quy định bản kết luận điều tra cũng phải nêu các tình tiết tăng

nặng và giảm nhẹ.

- Về nhân thân của bị can

Nhân thân không phải là yếu tố cấu thành tội phạm, nhưng việc

nghiên cứu về nhân thân lại có ý nghĩa quan trọng trong quá trình

giải quyết vụ án. Hiểu rõ hoàn cảnh, điều kiện giáo dục và quá trình

hình thành, phát triển nhân cách, trình độ nhận thức, lý lịch tư

pháp, quan hệ xã hội của từng bị can sẽ giúp cho việc đánh giá tính

chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm. Bị can nhất thời phạm tội

khác với bị can đã có nhiều tiền án, tiền sự; bị can có trình độ văn

hoá thấp khác với bị can có nhận thức cao; bị can có quá trình công

tác học tập tốt khác với bị can ăn chơi đua đòi, nghiện ngập . . .

Khi trình bày về nhân thân bị can cần chú ý đến: Tuổi chịu

trách nhiệm hình sự, năng lực về nhận thức và năng lực điều khiển

hành vi, các tình tiết tăng nặng, các tình tiết giảm nhẹ trách

nhiệm hình sự quy định tại các điều 12, 13, 46, 47, 48 BLHS để áp

dụng đối với họ. Hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tối cáo đã

nêu cụ thể về các nội dung về nhân thân của bị can. Do vậy, Kiểm

sát viên cần chú ý các nội dung này để nếu hồ sơ không đáp ứng

thì yêu cầu khắc phục.

- Các tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án

Ngoài các nội dung trên đây, đối với các tình tiết khác như sự

kiện bất ngờ, phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất

kích thích manh khác, phòng vệ chính đáng, tình thế khẩn cấp,

đồng phạm, các yêu cầu bồi thường thiệt hại...(các điều 11, 14, 15,

16, 20, 42 BLHS) cũng phải được đề cập nếu có. Trong đó, đáng chú

ý về các yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đây là nội dung mà trong

thực tiễn 'nhiều bản cáo trạng không đề cập hoặc có đề cập cũng rất

sơ sài Mặt khác, hướng dẫn mẫu cáo trạng có thiếu sót là không

đề cập đến nội dung này. Do vậy, bản hướng dẫn viết cáo trạng

phải được bổ sung phần về bồi thường dân sự trong các vụ án hình

sự và cần có sơ kết về nội dung này để tập huấn cho cán bộ, Kiểm

sát viên về kỹ năng giải quyết các yêu cầu bồi thường ngoài hợp

đồng theo Nghị quyết số 03/ 2006/NQ-HĐTP ngày 08.7.2006 của

Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

           Phần kết luận.

Trong phần này cáo trạng cần nêu lên những nội dung sau đây:

- Tổng hợp ngắn gọn hành vi phạm tội của bị can, tính chất,

mức độ, hậu quả của vụ án, xác định vai trò trách nhiệm của bị can

trong vụ án (chú ý sắp xếp theo trật tự từ bị can chính, nguy hiểm

đến các bị can có vai trò thấp hơn. Nếu bị can phạm nhiều tội thì

chú ý nêu tội đặc biệt nghiêm trọng trước đến tội rất nghiêm trọng,

tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng. Sau đó có câu chuyển tiếp:

"Như vậy, có đủ căn cứ để xác định các bị can có lý lịch dưới đây

đã phạm các tội như sau...".

- Nêu lý lịch từng bị can (sắp xếp từ bị can chính đến bị can thứ

yếu ), nếu về lý lịch có những tình tiết như thương binh, bệnh

binh, được tặng thưởng huân, huy chương. . . hoặc thân nhân của

họ là thương binh, liệt sỹ, nếu được thưởng các danh hiệu Nhà

nước cũng cần được thể hiện đầy đủ.

- Tiền sự chỉ cần ghi các tiền sự được phản ánh qua trích lục

tàng thư của Công an trong phạm vi một năm đến ngày phạm tội.

- Tiền án ghi rõ ngày xét xử, toà án nào xét xử, tội danh, khoản,

điều của BLHS, hình phạt (thời gian tạm giam nếu có).

Trên cơ sở đó cần khẳng định hành vi của bị can trên đây

phạm tội gì, theo quy định tại khoản, điều nào của BLHS. Đây là

nội dung mà trong thực tiễn xây việc dựng cáo trạng có nhiều

thiếu sót, nhất là việc vận dụng pháp luật như thế nào để áp dụng

chính xác.

Ví dụ, Vụ án Bùi Như Lạc phạm 2 tội "Giết người" và tội

'Cướp tài sản .

Do có ý định cướp tài sản, ngày 10. 8. 2005 Bùi Như Lạc

và Bùi Văn Phùng đã lừa anh Nguyễn Huy Trung (người

mua đồng nát) ra khu ruộng để mua đồng. Tại đây, Lạc và

Phùng đã sử dụng dao mang theo chém anh Trung chết

tại chỗ, sau đó lục soát túi quần của anh Trung lấy được

148.000 đồng chia nhau. Cáo trạng đã áp dụng điểm e, n

khoản 1 Điều 93 và điểm d khoản 2 Điều 133 BLHS để

truy tố các' bị cáo về tội "Giết người" và tội 'Cướp tài sản'?

Bản án sơ thẩm ngày 22. 8. 2006 đã áp dụng điểm g

khoản 1 Điều 93 và điểm d khoản 2 Điều 133 BLHS, xử

phạt Bùi Như Lạc 1 8 năm tù về tội giết người, 6 năm tù về

tội cướp tài sản. Tổng hợp hình phạt Bùi Như Lạc ~ 8 năm

tù; xử phạt Bùi Văn Phùng 12 năm tù về tội giết người, 4

năm tù về tội cướp tài sản. Tổng hợp hình phạt bùi Văn

Phùng ~2 năm. Bản án sơ thẩm này bị Viện kiểm sát

kháng nghị tăng hình phạt, bị cáo Phùng kháng cáo xin

giảm hình phạt.

Vấn đề cần rút kinh nghiệm là: với hành vi nêu trên của

các bị cáo cho thấy, để thực hiện hành vi cướp tài sản, các

bị cáo đã giết anh Trung sau đó mới thực hiện hành vi cướp

tài sản. Như vậy, về tội giết người các bi cáo đã phạm vào

một tinh tiết định khung tăng nặng là: "Để thực hiện hoặc

che dấu tội phạm khác" quy đinh tại điểm g khoản ~ Điều

93 BLHS. Cáo trạng truy tố các bị cáo theo điểm e, n khoản

1 Điều 93 BLHS là không đúng với tính chất hành vi phạm

tội Bản án sơ thẩm đã áp dụng điểm g khoản 1 Điều 93

BLHS để xử phạt bị cáo là đúng với quy đinh của pháp luật

Về tội "Cướp tài sản', hành vi sử dụng dao giết chết

anh Trung đã bị truy tố, xét xử về tội giết người nên không

thể tiếp tục coi việc sử dụng dao là tình tiết định khung

tăng nặng ở tội cướp tài sản. Bởi vì theo nguyên tắc của

pháp luật hình sự, một hành vi không thể bị truy tố 2 lần.

Cáo trạng áp dụng điểm d khoản 2 Điều 133 BLHS để xử

phạt bị các bị cáo là không đúng. Trong trường hợp này

phải truy tố các bị cáo theo khoản 1 Điều 133 BLHS(1).

Trong vụ án nếu có người đã được đình chỉ điều tra hay tạm

đình chỉ, có bị can được tách ra để xử lý sau, những người không

khởi tố để xử lý bằng hình thức khác cũng phải ghi rõ và nêu căn

cứ pháp luật.

           PHẦN QUYẾT ĐỊNH

- Truy tố trước Toà án: nêu tên Toà án để chuẩn bị xét xử bị

cáo; họ và tên bị can, về tội hoặc các tội.

- Nếu nhiều bị can cùng bị truy tố về một tội danh và áp dụng

điểm, khoản, điều luật giống nhau, thì ghi tất cả họ và tên bị can

đến tội danh, điều, khoản, điểm của BLHS.

- Kèm theo bản cáo trạng gồm có: hồ sơ gồm bao nhiêu trang?

được đánh số từ trang 1 đến trang bao nhiêu? đây là những quy

định mang tính thủ tục và việc thực hiện không khó khăn, nhưng

trong thực tế có nhiều bản cáo trạng không thực hiện được.

Danh sách những ngưu cần triệu tập ra phiên toà: đây là

những người mà quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát điều

tra, Kiểm sát viên thấy cần triệu tập ra phiên Toà để thẩm vấn thì

đề nghị Toà án triệu tập.

- Kèm theo hồ sơ là bản thống kê vật chứng (nếu có).

Phần cuối của bản cáo trạng phải ghi rõ họ tên, chức vụ và

chữ ký của người ra bản cáo trạng và đóng dấu Viện kiểm sát nơi

làm việc.

Về thẩm quyền ký bản cáo trạng, theo Điều 36 Bộ luật TTHS

thì nếu là Viện kiểm sát cấp huyện, tỉnh trực thuộc trung ương,

Viện trưởng là người có thẩm quyền ký bản cáo trạng. Theo khoản

2 Điều 36 Bộ luật TTHS thì khi được Viện trưởng uỷ quyền, Phó

Viện trưởng ký bản cáo trạng. Như vậy, Viện trưởng, Phó Viện

trưởng được Viện trưởng uỷ quyền là người có thẩm quyền ký bản

cáo trạng. Trong trường hợp Phó Viện trưởng ký thì phải ghi rõ ký

thay Viện trưởng.

Theo Quyết định số 41/QĐ-VKSTC ngày 02.3.2005 Viện trưởng

Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã phân công cho các Kiểm sát viên

Viện kiểm sát nhân dân tối cao đảm nhiệm chức vụ là Vụ trưởng

trong khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp

luật trong hoạt động điều tra, được thừa uỷ quyền Viện trưởng

Viện kiểm sát nhân dân tối cao ký bản cáo trạng. Trong trường hợp

này phải ghi rõ là thừa uỷ quyền.

Theo quy định của Điều 166 Bộ luật TTHS thì sau khi hoàn

thành bản cáo trạng, trong thời hạn 3 ngày, Viện kiểm sát nơi ban

hành bản cáo trạng phải giao bản cáo trạng cho bị can và thông báo

cho người bào chữa biết. Đồng thời, bản cáo trạng phải được gửi cho

Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, gửi cho cơ quan điều tra, lưu vụ

án hình sự, lưu hồ sơ kiểm sát điều tra, gửi văn phòng lưu trữ.

Theo khoản 3 Điều 166 BỘ luật TTHS, trong thời hạn ba ngày,

kể từ ngày ra quyết định truy tố bằng bản cáo trạng, Viện kiểm sát

phải gẫu hồ sơ và bản cáo trạng đến Toà án.

      Yêu cầu về hình thức của bản cáo trạng

- Bản cáo trạng phải được lập theo đúng kỹ thuật xây dựng văn

bản. Người ký bản cáo trạng phải là người có thẩm quyền theo quy

định của pháp luật là Viện trưởng, Phó Viện trưởng (Viện kiểm sát

các địa phương), Vụ trưởng (Viện kiểm sát nhân dân tối cao).

- Bản cáo trạng phải được lập theo đúng quy định tại Điều 167

Bộ luật TTHS. Bố cục của bản cáo trạng phải chặt chẽ, câu văn phải

trong sáng, đúng ngữ pháp, không sai lỗi chính tả. Các lý lẽ đưa ra

phải chặt chẽ, lập luận phải lôgíc, sắc bén, có tính thuyết phục cao.

Vì cáo trạng là văn bản pháp lý kết tội bị can, yêu cầu phải được

trình bày

                IV KỸ NĂNG XÂY DỰNG BẢN LUẬN TỘI

1. Khái niệm, căn cứ pháp luật của bản luận tội.

- Khái niệm về luận tội. Theo từ điển tiếng Việt thì luận tội

được hiểu là "phân tích, cân nhắc để kết tội"(l).

y sạch sẽ, rõ ràng, đầy đủ, không tẩy xoá, viết tắt, viết thêm.

Điều 17 Luật tổ chúc Vện kiểm sát nhân dân năm

2002 quy định:

"Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các

vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có một trong những

nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát nhân

dân liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên toà;

2. Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên toà sơ

thẩm, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại

phiên toà phúc thẩm; tranh luận với người bào chữa và

những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà sơ thẩm,

phúc thẩm;

3. Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về

việc giải quyết vụ án tại phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm"

Điều 217 BLTTHS quy định:

"trinh tự phát biểu khi tranh luận:

Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên toà, Kiểm sát viên

trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay

một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn . . . "

Điều 23 Quy chê' số 12112004/QĐ-VKSTC ngày

16.9.2004 đã quy định về trách nhiệm của Kiểm sát viên

trong việc xây dựng và trình bày bản luận tội tại phiên toà:

"1- Trước khi tham gia phiên toà Kiểm sát viên phải viết

bản dự thảo luận tội theo mẫu hướng dẫn của Viện kiểm

sát nhân dân tối cao. Đối với vụ án trọng điểm, phức tạp

hoặc xét xử lưu động, bản dự thảo luận tội của Kiểm sát

viên phải báo cáo lãnh đạo Viện cho ý kiến.

2- Tại phiên toà Kiểm sát viên phải ghi chép những tài

liệu chứng cứ đã được kiểm tra và ý kiến của bị cáo, người

bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những

người tham gia tố tụng khác để bổ sung và sửa chữa bản

dự thảo luận tội

sau khi kết thúc việc xét hỏi Kiểm sát viên trình bày

luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần

nội dung cáo trạng hoặc kết luận tội nhẹ hơn. Luận tội của

Kiểm sát viên chỉ căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã

được kiểm tra tại phiên toà '?

Từ các quy định trên đây có thể hiểu luận tội của Kiểm sát viên

tại phiên toà sơ thẩm như sau:

- Về bản chất của luận tội:

Xét về mặt tiến trình tố tụng, thì luận tội của Kiểm sát viên

đối với bị cáo tại phiên toà là hành vi pháp lý của Kiểm sát viên

mà pháp luật quy định để thực hiện chức năng buộc tội đối với bị

cáo Xét về mặt mục đích, nội hàm của nó thì luận tội là luận cứ,

quan điểm của Viện kiểm sát do Kiểm sát viên thực hành quyền

công tố nhà nước trình bày tại phiên toà về vụ án hình sự nhằm

làm sáng tỏ các tình tiết khách quan của vụ án, góp phần cùng với

Hội đồng xét xử giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp

luật không để xảy ra oan sai cũng như bỏ lọt tội phạm. Như vậy,

bản chất của bản luận tội không chỉ là các luận cứ, quan điểm buộc

tội bị cáo mà còn đề cập đến những nội dung gỡ tội cho bị cáo, nhằm

bảo vệ sự đúng đắn của cáo trạng. Trên cơ sở đó, Kiểm sát viên đưa

ra các kết luận yêu cầu và đề nghị cụ thể với Hội đồng xét xử về tội

danh, khoản, điều của BLHS và các biện pháp tư pháp cần áp ôụd~

đối Với bị cáo.

- Sự khác nhau giữa bản luận tội và các văn bản pháp lý khác

Từ sự phân tích trên đây có thể rút ra nhận xét: bản luận tội,

bản kết luận điều tra, bản cáo trạng tuy là văn bản pháp lý do Cơ

quan tiến hành tố tụng ban hành theo quy định của pháp luật và

có mục đích chung là đấu tranh xử lý các hành vi phạm tội, nhưng

giữa chúng có sự khác nhau căn bản như sau:

+ Bản kết luận điều tra: Theo quy định tại Điều 163 Bộ luật

TTHS thì khi có đầy đủ chứng cứ để xác định có tội phạm và bị can,

thì Cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố. Bản

kết luận điều tra trình bày diễn biến hành vi phạm tội, nêu rõ các

chứng cứ chứng minh tội phạm, những ý kiến đề xuất giải quyết

vụ án, có nêu rõ lý do và căn cứ đề nghị truy tố.

Như vậy, bản kết luận điều tra có hai nội dung: trình bày diễn

biến hành vi phạm tội nêu rõ các chứng cứ chứng minh và những

ý kiến đề xuất giải quyết vụ án, có nêu rõ lý do và căn cứ đề nghị

truy tố. Xét về giai đoạn tố tụng, thì bản kết luận điều tra là căn

cứ xác định kết thúc giai đoạn tố tụng điều tra do Cơ quan điều tra

thực hiện

+ Bản cáo trạng: cáo trạng là văn bản pháp lý, thể hiện quan

điểm của Viện kiểm sát về vụ án hình sự trên cơ sở kết quả hoạt

động điều tra và ra quyết định truy tố bị can ra trước Toà án để xét

xử Nếu như bản kết luận điều tra chỉ tập trung nêu các chứng cứ

chứng minh tội phạm, thì bản cáo trạng phải ghi cụ thể hơn và

không chỉ nêu các chứng cứ buộc tội mà nêu cả các chứng cứ gỡ tội,

các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ.

+ Bản luận tội: trên cơ sở trình bày diễn biến của hành vi phạm

tội, nêu những chứng cứ chứng minh . . . như bản kết luận điều tra

và bản cáo trạng, bản luận tội còn đi sâu phân tích tác hại của hành

vi phạm tội và nêu lên những bài học về phòng ngừa tội phạm và

đề xuất mức hình phạt cụ thể để toà án xem xét quyết định.

Xét về tiến trình của hoạt động tố tụng, nếu như bản kết luận

điều tra là căn cứ để xác định cuộc điều tra đã kết thúc thì bản cáo

trạng là sự mở đầu của một giai đoạn mới, đó là giai đoạn bắt đầu

xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Còn bản luận tội là thời điểm bắt

đầu giai đoạn tranh luận giữa Kiểm sát viên với bị cáo, người bào

chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham

gia tố tụng khác (Điều 218 Bộ luật TTHS).

2. Địa vị pháp lý của luận tội

Theo quy định tại Điều 217 Bộ luật TTHS thì xét về mặt hình

thức thì sau khi Kiểm sát viên trình bày bản luận tội sẽ làm

phát sinh giai đoạn tranh luận giữa Kiểm sát viên và bị cáo,

người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những

người tham gia tố tụng khác. Đây được coi là giai đoạn "đấu lý"

quan trọng nhất, giai đoạn làm việc vất vả nhất của Kiểm sát

viên tại phiên Toà.

Xét về mặt nội dung, thì bản luận tội không những là căn cứ để

bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và

những người tham gia tố tụng khác đưa ra ý kiến, quan điểm của

mình về toàn bộ nội dung vụ án mà Viện kiểm sát đã truy tố trước

Toà án, là cơ sở để Toà án xem xét, quyết định trong việc đưa ra

phán quyết của mình đối với người phạm tội và toàn bộ vụ án theo

đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Nội

dung của bản luận tội phải thể hiện các phần chính:

- Phân tích, đánh giá các chứng cứ của vụ án một cách khách

quan, toàn diện, đầy đủ; đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy

hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, vai trò trách

nhiệm và nhân thân bị cáo, các tình tiết táng nặng, giảm nhẹ để đề

xuất biện pháp xử lý phù hợp; khi nêu hành vi phạm tội phải viện

dẫn các chứng cứ chứng minh, bảo đảm lôgíc và lập luận sắc bén.

- Phân tích, phê phán thủ đoạn phạm tội của bị cáo, bác bỏ

những quan điểm không có căn cứ, không phù hợp với thực tế khách

quan của các chứng cứ đã thu thập được nhằm làm sáng tỏ sự thật,

góp phần bảo vệ chính sách pháp luật, thể hiện tinh thần đấu tranh

không khoan nhượng và tính thuyết phục cao của bản luận tội.

- Phải xác định rõ các nguyên nhân và điều kiện phạm tội,

tuyên truyền giáo dục pháp luật, góp phần đấu tranh phòng và

chống tội phạm, vi phạm pháp luật. Bản luận tội phải phân tích,

phê phán trước dư luận những nhận thức sai trái của bị cáo, qua

đó rút ra những bài học cảnh giác trong nhân dân và kiến nghị các

biện pháp phòng ngừa để khắc phục những thiếu sót, sơ hở trong

công tác quản lý kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, khi nêu những nội

dung này phải bảo đảm phù hợp với thực tế và hoàn cảnh cụ thể

của vụ án, tránh cường điệu, lan man.

- Đề nghị áp dụng pháp luật để xử lý vụ án, trong đó có hình phạt

chính, hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp, bồi thường thiệt

hại (nếu có), đảm bảo chính xác theo các quy định của pháp luật.

3. Thực trạng luận tội trong thời gian qua

a- ưu điểm. Theo số liệu trung bình hàng năm Viện kiểm sát

nhân dân các cấp truy tố và được Toà án các cấp xét xử khoảng

50.000 vụ với khoảng 80.000 bị cáo. Tương ứng với việc truy tố và

xét xử nêu trên thì toàn ngành đã ban hành từng ấy bản luận tội.

Về chất lượng luận tội mặc dù ở mức độ khác nhau nhưng nhìn

chung luận tội của Kiểm sát viên ngày càng được nâng lên về chất

lượng, góp phần cùng Toà án đảm bảo xét xử dân chủ, công bằng.

Thông qua luận tội, các Kiểm sát viên không những đã góp phần

tuyên truyền giáo dục pháp luật mà còn góp phần nâng cao hiệu

quả phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật. Thông qua thực

hành quyền công tố, Kiểm sát xét xử các vụ án hình sự lớn về tham

những, án buôn lậu, các vụ án ma túy lớn, các vụ án mang tính chất

xã hội đen, các vụ án giết người, cướp của, các Kiểm sát viên đã

trình bày lời luận tội, trên cơ sở đó đã phát huy được vị trí vai trò

của mình trong việc đấu tranh không khoan nhượng với tội phạm

có tổ chức, tội phạm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Các Kiểm sát viên đã chú ý làm tất công tác chuẩn bị như

nghiên cứu kỹ hồ sơ, xác minh thêm chứng cứ, báo cáo xin ý kiến

lãnh đạo Viện Kiểm sát, xây dựng dự thảo luận tội, đề cương thẩm

vấn Đồng thời, tại phiên toà các Kiểm sát viên đã căn cứ vào các

chứng cứ đã được kiểm tra làm rõ thông qua tranh luận công khai

để sữa chữa bổ sung kịp thời bản dự thảo luận tội phù hợp với thực

tế diễn biến của phiên toà.

Khi luận tội, các Kiểm sát viên không chỉ chứng minh hành vi

phạm tội của bị cáo bằng các chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên

toà một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ mà còn phân tích phê

phán thủ đoạn phạm tội của bị cáo, hậu quả do hành vi phạm tội

gây ra. Cũng thông qua luận tội Kiểm sát viên đã phân tích, phê

phán bác bỏ những quan điểm sai trái của bị cáo, người bào chữa

và những người tham gia tố tụng khác nhằm bảo vệ quan điểm

đúng đắn dựa trên các chứng cứ khách quan đã được làm sáng tỏ

tại phiên toà. Trên cơ sở đó, Kiểm sát viên đề xuất đường lối giải

quyết vụ án phù hợp, làm cho việc luận tội được sinh động và có

sức thuyết phục hơn.

Nhiều bản luận tội của Kiểm sát viên đã dựa vào các chứng cứ,

tài liệu tại phiên toà, gàn với đặc điểm tình hình của địa phương

để tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật và chủ

trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong nhân

dân, góp phần nâng cao cảnh giác trong việc đấu tranh phòng,

chống tội phạm, vi phạm pháp luật ở địa phương.

Cuối cùng điều quan trọng của nhiều bản luận tội là đã phân

tích có lý, có tình, làm cho bị cáo thấy được tội lỗi của mình và tính

tất yếu phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật. Vì vậy,

luận tội đã góp phần mở ra cho bị cáo con đường cải tà quy chính,

thấy được tội lỗi của mình mà ăn năn hối cải.

Tóm lại, luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo tại phiên toà

đã được Viện kiểm sát các cấp đặc biệt quan tâm. Do vậy, chất

lượng bản luận tội ngày càng được nâng lên rõ nét. Đây không chỉ

là sự cố gắng của toàn ngành Kiểm sát nói chung mà còn là sự cố

gắng của các Kiểm sát viên nói riêng trong quá trình thực hiện chủ

trương cải cách tư pháp và đổi mới tổ chức, hoạt động của Viện

kiểm sát nhân dân.

b- Tồn tại thiếu sót của luận tội

Thử nhất, do việc nghiên cứu hồ sơ không kỹ nên nhiều bản

luận tội viện dẫn các chứng cứ - chứng cứ buộc tội và chứng cứng

tội còn sơ sài. Trong lúc đó nhiều bản luận tội còn quá nhấn mạnh

việc miêu tả hành vi phạm tội nhưng việc viện dẫn chứng cứ để

chứng minh không đầy đủ và không chặt chẽ nên sức thuyết phục

không cao. Thực hiện cơ chế từ "chuyên khâu sang "thông khâu

đã tạo điều kiện cho các Kiểm sát viên nắm chắc hồ sơ vụ án từ

giai đoạn điều tra ban đầu cho đến khi thực hành quyền công tố và

kiểm sát xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, nhiều trường hợp Kiểm sát

viên nghiên cứu không kỹ, không nắm chắc các chứng cứ nên khi

luận tội chưa chặt chẽ.

Thứ hai, về hình thức, nhiều bản luận tội có kết cấu không theo

mẫu do Viện kiểm sát tới cao quy đinh. Có bản luận tội không phân

tích, đánh giá chứng cứ để chứng minh tội phạm, chưa thật sự đưa

ra các luận cứ, quan điểm của Viện kiểm sát về vụ án. Có bản luận

tội chuẩn bị sẵn, không chú ý kết quả thẩm vấn công khai tại Toà

án để bổ sung vào lập luận của mình. Thậm chí có bản luận tội được

chuẩn bị một cách sơ sài bằng cách gạch đầu dòng, không lập luận,

phân tích, chứng minh. Do vậy, đã có trường hợp, quá trình điều tra

bị can chỉ khai nhận một phần hành vi phạm tội của mình, mặc dù

có đầy đủ chứng cứ để kết tội, cho nên Kiểm sát viên đã chuẩn bị

bản luận tội và sơ bộ kết luận theo hướng bị cáo ngoan cố không

thành khẩn nhận tội. Tuy nhiên, tại phiên toà, với các chứng cứ

được chứng minh nên bị cáo đã thành khẩn nhận tội và xin giảm

nhẹ hình phạt. Thế nhưng tại phiên toà, Kiểm sát viên không chú

ý ghi chép đầy đủ về lời khai nhận tội của bị cáo nên vẫn trình bày

một cách "cứng nhắc" trên cơ sở bản luận tội đã được chuẩn bị sẵn

để kết luận bị cáo ngoan cố. Sự chuẩn bị thiếu cẩn trọng này đã làm

cho người nghe rất bất bình, gây cười cho mọi người tham dự phiên

toà về cách làm việc thiếu trách nhiệm của Kiểm sát viên.

Thử ba, phương pháp luận tội còn yếu. Muốn cho bản luận tội

có tính thuyết phục người nghe, thì bản luận tội đó phải kết hợp

giữa phân tích và chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Nhiều

bản luận tội chưa chú ý phân tích và viện dẫn các chứng cứ chứng

minh, hoặc chứng minh nhưng không chặt chẽ. Đồng thời, nhiều

bản luận tội chưa chú ý vận dụng các căn cứ pháp luật để phân tích

các cấu thành tội phạm cho phù hợp với hành vi phạm tội cụ thể.

Việc phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, các tình tiết về

nhân thân còn sơ sài, có bản luận tội còn quên không ghi các tình

tiết này. Những bản luận tội này thường "khô cứng", không những

tính thuyết phục không cao mà còn có lúc lại phản tác dụng. Bởi vì

những thiếu sót, sơ hở của bản luận tội là cơ sở để bị cáo, người bào

chữa và những người tham gia tố tụng khác căn cứ vào đó để phản

bác bản luận tội.

Thứ tư, công tác tuyên truyền còn hạn chế. Những tồn tại

thiếu sót trên đây của bản luận tội đều có ảnh hưởng nhất định

đến yêu cầu tuyên truyền của bản luận tội. Bản luận tội mà

không phân tích, chứng minh hành vi tội phạm một cách lôgíc,

chặt chẽ, có tình có lý thì sẽ "không tâm phục khẩu phục", như

vậy tác dụng giáo dục thuyết phục sẽ rất hạn chế. Một số bản

luận tội phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hậu quả do

hành vi phạm tội gây ra, phân tích những nguyên nhân, điều

kiện phạm tội không sát với thực tế. . . nên tác dụng tuyên truyền

giáo dục pháp luật không cao.

c- Nguyên nhân của những tồn tại

- Năng lực của Kiểm sát viên về bản xây dựng luận tội còn yếu.

Trong đó, kỹ năng phân tích, chứng minh, lập luận về đánh giá

chứng cứ, đánh giá các tình tiết phạm tội còn hạn chế. Phương

pháp phân tích, tổng hợp của Kiểm sát viên chưa đạt yêu cầu.

Kiểm sát viên có thể liệt kê các sự kiện phạm tội nhưng khi tổng

hợp, phân tích, kết luận thì còn hạn chế.

- Trách nhiệm trong việc xây dựng bản luận tội của Kiểm sát

viên chưa cao. Nhiều trường hợp Kiểm sát viên chuẩn bị bản luận

tội còn sơ sài. Việc tổng kết, sơ kết, bồi dưỡng về kỹ năng xây dựng

bản luận tội chưa được quan tâm.

4. Kỹ năng xây dựng bản luận tội

Để nâng cao chất lượng bản luận tội, Kiểm sát viên cần quán

triệt các yêu cầu, nội dung và phương pháp sau đây:

a- Những yêu cầu đặt ra đối với bản luận tội

Một là, yêu cầu về bảo đảm tính chính xác cao:

Bảo đảm tính chính xác là yêu cầu số một của hoạt động tố

tụng trong bất cứ giai đoạn tố tụng nào. Tính chính xác thể hiện

những nội dung của bản tội đã được chứng minh bằng các chứng

cứ được thu thập đầy đủ trong hồ sơ vụ án. Các tình tiết, chứng

cứ nêu trong bản luận tội là có thực và được thể hiện tại các bút

lục của hồ sơ vụ án. Tính chính xác còn thể hiện các căn cứ áp

dụng cũng phải được bảo đảm đúng với các điểm, khoản, điều mà

Kiểm sát viên trích dẫn. Tính chính xác yêu cầu "chứng cứ đến

đâu kết tội liên đó", hoặc "trọng chứng hơn trọng cung". Bản luận

tội không được suy diễn chủ quan, hoặc chỉ nêu phản ảnh theo dư

luận chung chung. ~

Điều 10 Bộ luật TTHS quy định: "Cơ quan điều tra, Viện kiểm

sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định

sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm

rõ những chứng cử xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội,

những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự của bị can, bị cáo". Trong giai đoạn xét xử, Kiểm sát viên

thực hành quyền công tố nhà nước trình bày bản luận tội trước

phiên toà là nhằm vạch trần và lên án mạnh mẽ những hành vi

nguy hiểm cho xã hội do người phạm tội gây ra, qua đó góp phần

cùng Toà án xét xử công bằng, khách quan và dân chủ. Do vậy, yêu

cầu trước hết đối với bản luận tội của Kiểm sát viên là phải bảo

đảm tính chính xác cao. Càng chính xác bao nhiêu thì tính thuyết

phục càng cao bấy nhiêu.

Tính chính xác cao thể hiện: thử nhất, việc mô tả hành vi phạm

tội phân tích đánh giá chứng cứ, phân tích vai trò trách nhiệm của

bị cáo gắn liền với việc viện dẫn chứng cứ để chứng minh phải

chính xác, lôgíc. Phải khắc phục tình trạng việc mô tả hành vi

phạm tội không gắn liền với các chứng cứ nêu ra, hoặc chỉ nêu

hành vi phạm tội mà không viện dẫn chứng cứ chứng minh; thứ

hai, việc đề xuất đường lối xử lý phải trên cơ sở phân tích đánh giá

chứng cứ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, nhân thân người

phạm tội, vai trò trách nhiệm của từng bị cáo trong vụ án, các tình

tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời, xem

xét đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự và các văn bản

pháp luật khác có liên quan để cân nhắc lựa chọn điều, khoản của

BLHS để đề xuất Toà án áp dụng pháp luật xử lý chính xác, phù

hợp với tính chất mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra.

Trong thực tiễn có nhiều bản luận tội trình bày không chính

xác, dẫn đến bản án của Toà án sai và phải kháng nghị huỷ án để

điều tra, xét xử lại. Những bản luận tội không chính xác thường

gặp khi giải quyết các loại tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điềui39

BLHS; Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS);

Tham Ô (Điều 278 BLHS); giết người (các điều 93, 94, 95, 96, 97,

98, 99 BLHS); cố y gây thương tích (các điều 104, 105, 106, 107

BLHS); Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông

đường bộ (Điều 202 BLHS). Do vậy, khi xây dựng bản luận tội đối

với các loại tội trên đây Kiểm sát viên cần chú ý nghiên cứu kỹ hồ

sơ vụ án và các các dấu hiệu đặc trưng của từng loại tội theo quy

định của pháp luật để lập luận chính xác cả về chúng cứ, tội danh

và đề xuất xử lý

Hai là. yêu cầu về tính đấu tranh và tính thuyết phục cao:

Yêu cầu về tính đấu tranh thể hiện bản luận tội phải phê phán

và lên án mạnh mẽ trước dư luận về những hành vi phạm tội của

bị cáo. Bản luận tội phải phân tích về tính chống đối trật tự pháp

luật của hành vi phạm tội, về tác hại của hành vi phạm tội không

chỉ đối với hậu quả cụ thể của tội phạm, mà còn phải trên bình diện

chung của tình hình để phê phán tác hại của hành vi phạm tội đối

với trật tự pháp luật chung. Tính đấu tranh còn thể hiện không chỉ

là lời cảnh cáo đối với người có hành vi phạm tội, nhận rõ được tác

hại của mình khi gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà còn là

lời cảnh tỉnh cho những ai có ý định phạm tội, coi hành vi phạm tội

của bị cáo là việc cần tránh xa. Tính đấu tranh của bản luận tội

thể hiện tinh thần đấu tranh không khoan nhượng của xã hội đối

với hành vi phạm tội.

Yêu cầu về tính thuyết phục của bản luận tội thể hiện ở chỗ: Khi

Kiểm sát viên trình bày xong bản luận tội 'được người nghe đánh giá

là có tình có lý. Việc bản luận tội đề cập một cách chính xác như

phần trên đã nêu là đã mang tính thuyết phục rồi. Tuy nhiên, trong

thực tế cũng có trường hợp bản luận tội đảm bảo tính chính xác,

nhưng lời lẽ và phương pháp trình bày của Kiểm sát viên không

khéo léo, tế nhị, thì có thể gây cho người nghe cảm giác khó chịu.

Bản luận tội phải được xây dựng với thái độ kiên quyết, không

khoan nhượng, nhưng phương pháp phải mềm dẻo, khoan dung.

Ba là, yêu cầu về tuyên truyền giáo dục ý thức tuân thủ

pháp luật.

Điều 1 Bộ luật TTHS quy định: "Bộ luật tô' tụng hình sự góp

phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước,

quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự

pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thụ giáo dục mọi người ý thức

tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chông tội phạm".

Như chúng ta đều biết, mỗi vụ án xảy ra có những đặc điểm riêng

có của nó. Đặc điểm đó phụ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm

cho xã hội của hành vi phạm tội, vào hậu quả do hành vi phạm tội

gây ra, cũng như động cơ, mục đích phạm tội, nhân thân người

phạm tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội. Đồng thời, việc tuyên

truyền còn phụ thuộc vào trình độ hiểu biết pháp luật của người

dân nơi xét xử vụ án, phụ thuộc vào tình hình, đặc điểm của địa

phương và tình hình đặc điểm thời kỳ đó. Vì vậy, muốn cho việc

tuyên truyền giáo dục pháp luật tốt bản luận tội phải bám sát diễn

biến của phiên toà và tình hình hoàn cảnh cụ thể của địa phương

nơi diễn ra phiên toà.

Tại điểm c khoản 3 Điều 23 Quy chế 121/2004/QĐ-VKSTC quy

định "Phải xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, tuyên

truyền giáo dục pháp luật, góp phần đấu tranh chông và phòng

ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật". Tình hình tội phạm xảy ra phụ

thuộc vào năng lực quản lý xã hội của các cơ quan Nhà nước trên

hai lĩnh vực là xây dựng thể chế và hoạt động điều hành. Do vậy,

qua việc nghiên cứu vụ án, Kiểm sát viên phải rút ra những

nguyên nhân và điều kiện phạm tội, nhất là những sơ hở trong

công tác quản lý và xây dựng pháp luật để kiến nghị khắc phục.

Đồng thời, nêu ra những bài học cảnh giác trong phòng ngừa để

giáo dục, tuyên truyền trong nhân dân.

Luận tội đạt tính chính xác cao, đấu tranh phê phán đúng

mức những sai phạm của bị cáo sẽ có tác dụng hỗ trợ Hội đồng

xét xử ra bản án khách quan, chính xác, dân chủ, đây chính là

góp phần vào việc thuyết phục quần chúng nhân dân đồng tình

và ủng hộ các cơ quan pháp luật. Đây cũng là cơ sở để đấu tranh

thuyết phục bị cáo nhận rõ hành vi sai trái của mình, tạo điều

kiện cho họ để ăn năn hối cải, "cải tà quy chính", cải tạo thành

người có ích cho xã hội.

Bốn là, yêu cầu về việc bảo vệ cáo trạng:

Theo quy định tại Điều 167, Điều 217 Bộ luật TTHS nếu bản

cáo trạng là quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát về việc truy

tố người phạm tội ra Toà án để xét xử, thì bản luận tội là quan điểm

của Kiểm sát viên về tội trạng của bị cáo nhằm bảo vệ quan điểm

truy tố của cáo trạng. Do vậy, luận tội của Kiểm sát viên trước toà

là hoạt động nghiệp vụ thực hành quyền công tố nhà nước trước Toà

án để nhằm bảo vệ quan điểm truy tố của Viện trưởng Viện kiểm

sát Do vậy, nội dung của bản luận tội phải bám sát nội dung truy

tố của bản cáo trạng. Bản cáo trạng truy tố những hành vi phạm tội

nào, bị can nào thì nội dung của bản luận tội phải phân tích, đánh

giá, kết luận về hành vi phạm tội đó và bị can đó, không được bỏ sót

vấn đề nào. Chính vì vậy, bản luận tội phải tập trung phân tích,

viện dẫn các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ đã được

làm rõ tại phiên toà để chứng minh làm sáng tỏ nội dung truy tố

của cáo trạng. Mặt khác, bản luận tội cần viện dẫn các quy định của

pháp luật để đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng xử lý như cáo trạng

đã nêu. Cho nên, về nguyên tắc thì bản luận tôi Chỉ đl~rlc bổ sung

thêm nhằm làm sáng tỏ các nội dung truy tố của cáo trạng chứ

không được bổ sung thêm để làm xấu đi tình trạng của bị cáo.

Trong trường hợp, sau khi xét hỏi nếu có những tình tiết mới

làm thay đổi nội dung bản cáo trạng mà có lợi cho bị cáo, thì Kiểm

sát viên có thể rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố. Tuy

nhiên, những tình tiết này phải được làm sáng tỏ và hoàn toàn có

đủ căn cứ, cơ sở kết luận. Đồng thời, sau khi phiên toà kết thúc,

Kiểm sát viên phải báo cáo ngay với Viện trưởng Viện kiểm sát

cùng cấp. Trong trường hợp có căn cứ xác định bị cáo phạm một tội

nặng hơn tội Viện kiểm sát truy tố, thì Kiểm sát viên đề nghị hoãn

phiên toà để báo cáo lãnh đạo Viện quyết định. Khoản 2 Điều 19

Quy chế số 121/2004/QĐ-VKSTC quy định: "Tại phiên toà, sau khi

xét hỏi nếu có căn cứ rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tô,

có tình tiết mới theo hướng có lợi cho bị cáo làm thay đổi quyết định

truy tôlhoặc đường lôi xử lý đã được lãnh đạo Viện cho ý kiến thì

Kiểm sát viên quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định

của mình. Sau phiên toà Kiểm sát viên phải báo cáo ngay với lãnh

đạo Viện và Thủ trưởng đơn vị.

Trường hợp những tình tiết mới đưa ra tại phiên toà có đủ căn

cứ đểkêt luận về một tội danh khác nặng hơn, thì Kiểm sát viên đề

nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà và báo cáo lãnh đạo Viện

quyết định".

Năm là, yêu cầu về việc kiểm tra chứng cứ tại phiên toà:

Theo quy định của Bộ luật TTHS, nếu những nội dung của bản

cáo trạng là dựa trên kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ của Cơ

quan điều tra và Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra, thì bản

luận tội chủ yếu dựa vào kết quả đấu tranh xét hỏi công khai tại

phiên toà. Điều 217 BỘ luật TTHS quy định "Luận tội của Kiểm sát

viên phải căn cử vào những tài liệu, chứng cử đã được kiểm tra tại

phiên toà và y kiên của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền

lợi của đương sự và những người tham gia tô tụng khác tại phiên

toà, Theo pháp luật tố tụng hình sự của nhiều quốc gia thì cuộc

điều tra thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra chỉ là cuộc điều

tra sơ bộ, cuộc xét hỏi công khai tại phiên toà là cuộc điều tra công

khai, cuộc điều tra chính thức. Theo quy định của pháp luật tố

tụng hình sự Việt Nam thì các chứng cứ, các tình tiết được Cơ quan

điều tra và Viện kiểm sát thu thập trong quá trình điều tra đều

phải được điều tra, xét hỏi làm rõ tại phiên toà.

Vì vậy, Kiểm sát viên phải tham gia xét hỏi để làm sáng tỏ

những hành vi phạm tội và các tình tiết khác liên quan đến vụ án

mà cáo trạng đã truy tố. Nếu qua xét hỏi tại phiên toà mà xuất

hiện những tình tiết mới như: bị cáo nhận tội (trong quá trình điều

tra bị cáo không nhận tội), hoặc khai thêm người phạm tội khác,

khai những tình tiết giảm nhẹ, hoặc chối tội . . . ; người bị hại , người

làm chứng khai thêm một số tình tiết khác . . . thì Kiểm sát viên

phải ghi chép đầy đủ và tham gia xét hỏi để làm rõ những vấn đề

mà bị cáo và những người khác khai tại phiên toà. Trên cơ sở đó,

đối chiếu với các tài liệu, vật chứng, đồ vật khác để kết luận những

vấn đề mà bị cáo, người bị hại, người làm chứng khai thêm tại

phiên toà. Nếu việc khai thêm đó là có căn cứ, Kiểm sát viên sửa

đổi bổ sung dự thảo bản luận tội cho phù hợp với diễn biến phiên

toà Xuất phát từ nội dung đó, khoản 2 Điều 23 Quy chế số

121/2004/QĐ-VKSTC quy định: "Tại phiên toà Kiểm sát viên phải

ghi chép những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra và ý kiên của

bị cáo, người bào chữa, ngư bảo vệ quyền là của đương sự và

những người tham gia tô tụng khác đểbổsung và sữa chữa bản dự

thảo luận tội".

Sáu là yêu cầu về việc kết hợp giữa luận tội và luận chứng

Nếu như luận tội là việc phê phán, lên án hành vi, thủ đoạn

phạm tội, nêu lên những nguyên nhân và điều kiên phạm tội,

những bài học cảnh giác trong nhân dân, đề xuất hình thức xử lý

thì luận cứ là phân tích, đánh giá, kết luận về các tình tiết, các

chứng cứ của vụ án một cách khoa học, lôgíc để xác định tội phạm

và người phạm tội theo các điều, khoản của BLHS.

Nội dung dự thảo bản luận tội đối với bất cứ vụ án nào, dù vụ

án đó được phát hiện quả tang, chứng cứ rõ ràng, đơn giản vẫn

phải thể hiện đầy đủ yêu cầu luận tội kết hợp với luận cứ. Tuy

nhiên, tuỳ từng trường hợp cụ thể của từng vụ án để xác định vấn

đề nào cần tập trung phân tích khi luận tội. Đối với vụ án phạm

tội quả tang, đơn giản, chứng cứ rõ ràng bị cáo nhận tội thì việc

phân tích, chứng minh cũng cần ngắn gọn. Đối với vụ án mà chứng

cứ có nhiều phức tạp, bị cáo không nhận tội, người làm chứng khai

mâu thuẫn... thì Kiểm sát viên phải phân tích, chứng minh chặt

chẽ, sắc bén, lôgíc để giải quyết các mâu thuẫn, làm nổi bật vấn đề

mình đang kết luận, đồng thời, bác bỏ những vấn đề mâu thuẫn,

bất hợp lý.

b- Những nội dung cụ thể của bản luận tội

Để bảo đảm thực hiện sáu yêu cầu của bản luận tội như nêu ở

phần trên, bản luận tội cần phải phải được bố cục gồm ba phần:

- Phần mở đầu;

- Phần nội dung;

- Phần kết luận. Sau đây chúng ta nghiên cứu từng phần của

bản luận tội.

Phần mở đầu: Có thể nói, bản luận tội chính là bài văn nghị

luận, trong đó phần mở đầu có hai nội dung cần đề cập: tự giới

thiệu bản thân người trình bày bản luận tội và mục đích, ý nghĩa

của việc đưa vụ án ra xét xử.

Tư giới thiệu về mình: theo hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân

dân tối cao về viết luận tội có ghi "Kiểm sát viên tự giới thiệu về

mình là đại diện Viện kiểm sát...". Phần này cần ghi rõ họ tên,

chức vụ, đại diện cho Viện kiểm sát nơi Kiểm sát viên công tác.

Việc nêu họ tên cần lưu ý nêu đầy đủ họ, tên thường dùng, không

nêu bí danh hoặc gọi tắt. Ví dụ, Tôi tên là Nguyễn Thị Bích Liên,

chức vụ Kiểm sát viên, đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh

B, thực hành quyền công tố tại phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án . . .

dù trong đời sống hàng ngày có thể mọi người gọi là Bích Liên

nhưng trong bản luận tội phải ghi đầy đủ họ và tên là Nguyễn Thị

Bích Liên. Tuy nhiên, thực tế có nhiều bản luận tội Kiểm sát viên

không xưng danh đầy đủ họ tên của mình theo đúng quy định của

Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Khi nêu tên vụ án cũng cần lưu ý, nếu vụ án có nhiều bị cáo và

phạm nhiều tội thì chỉ nêu tên bị cáo chính và tên tội danh chính.

Tên bị cáo chính cũng nêu đầy đủ họ và tên, kèm theo tên thường

gọi. Ví dụ, vụ án Trương Văn Cam (tức Năm Cam) và đồng bọn

phạm tội giết người . . .

Ví dụ, Vụ án Phạm Thị Miền phạm tội tham ô, lạm dụng

tín nhiệm tại tỉnh Thái Bình

Phiên Toà xét xử ngày 21. 1.2002. Mở đầu luận tội ghi

"Hôm nay TAND tỉnh Thái Bình mở phiên toà hình sự sơ

thẩm công khai đưa vụ án Phạm Thị Miền ra xét xử về 2 tội

tham Ô tài sản và lạm dụng chức vụ quyền hạn để chiếm

đoạt tài sản . . . " Vụ án này có nhiều bị cáo, luận tội chỉ cần

nêu họ tên bị cáo chính Phạm Thị Miền như trên (1).

Nêu ý nghĩa và tầm quan trọng của vụ án: phần này theo

hướng dẫn chỉ giới thiệu tóm tắt tội danh của vụ án, các bị cáo được

đưa ra xét xử, không nêu nội dung vụ án. Vì vậy, chỉ nêu ngắn gọn

về tên vụ án, mục đích, ý nghĩa của việc đưa vụ án ra xét xử như

tình hình địa phương nơi xảy ra vụ án, hậu quả nghiêm trọng của

vụ án. Phần này cũng nên ghi ngắn gọn, tránh nêu dài dòng.

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

Ví dụ, Vụ án Phan Quang Thiết phạm tội giết người và

cướp tài sản Ô tỉnh Nghệ An.

Trong phần ý nghĩa và tầm quan trọng của bản luận tội

vụ án đã nêu: "Trong thời gian gần đây trên địa bàn tỉnh

Nghệ An liên tiếp xảy ra nhiều vụ án mạng đặc biệt nghiêm

trọng. Một tình trạng đáng báo đông hiện nay là nhiều

người đã bất chấp pháp luật, tự giải quyết các mâu thuẫn

trong cuộc sống bằng con đường bạo lực giết người và

cướp tài sản, xảy ra tương đối nhiều và đã gây tâm lý hoang

mang lo sợ, phẫn uất trong quần chúng nhân dân, gây mất

ổn định trật tự xã hội Nhân dân đòi hỏi pháp luật phải

thẳng tay trừng trị đích đáng kẻ phạm tội, trả lại cuộc sống

tự do, kỷ cương phép được cho nhân dân. Hôm nay Toà án

nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên toà lưu động xét xử công

khai bị cáo Phan Quang Thiết phạm tội giết người và cướp

tài sản là phù hợp với sự mong muốn của người dân, tội ác

phải được trừng trị nghiêm minh, kịp thời. Đồng thời, đây là

tiếng chuông cảnh tỉnh cho những ai có ý định mong muốn

giải quyết mâu thuẫn bằng con đường bạo lực(1).

Phần mở đầu tuy có tính chất thủ tục, nhưng nếu bản luận tội

nêu nhắn gọn, lưu loát thì sẽ tạo cho người nghe thấy được lý do

của việc đưa vụ án ra xét xử. Từ đó người nghe cũng đánh giá được

người trình bày luận tội là người thay mặt Nhà nước có phong cách

và năng lực như thế nào. Ngược lại, nếu Kiểm sát viên trình bày

phần mở đầu mà không lưu loát, ấp úng, trục trặc không rõ được

lý do của việc đưa vụ án ra xét xử, thì sẽ gây cho người nghe có cảm

giác khó chịu, thiếu cảm tình với vị Kiểm sát viên duy trì công tố

trước Toà .

Phần nội dung: Đây là phần quan trọng nhất, là hạt nhân của

bản luận tội. Nếu bản luận tội giải quyết tốt phần này thì bản luận

tội đó sẽ có tính thuyết phục cao, ngược lại nếu phần này không

được chuẩn bị kỹ, thì Kiểm sát viên sẽ đối mặt với rất nhiều khó

khăn, thậm chí rất dễ bị những người tham dự phiên toà phản bác.

Do vậy, Kiểm sát viên cần đặc biệt quan tâm đầu tư trí tuệ, thời

gian vào việc giải quyết tốt phần nội dung của bản luận tội. Vì đây

là phần quan trọng, Kiểm sát viên phải giải quyết một loạt vấn đề

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

nhằm làm rõ chứng cứ chứng minh tội phạm, nêu lên tác hại của

hành vi phạm tội và phân tích những bài học phòng ngừa. Vì vậy,

thông thường nội dung này của bản luận tội được chia làm ba phần.

                  

                     Phân tích, tổng hệ chứng cứ

                             trong bản luận tội

Đây là nội dung cốt lõi của bản luận tội. Chỉ có trên cơ sở phân

tích, tổng hợp chứng cứ, chứng minh đầy đủ các tình tiết của hành

vi phạm tội, thì việc giải quyết vụ án mới được khách quan toàn

diện, đây cũng là cơ sở để giải quyết tốt các phần tiếp theo của việc

thực hành quyền công tố.

Trên cơ sở hệ thống chứng cứ đã được ghi chép tổng hợp qua

nghiên cứu hồ sơ vụ án, qua xác minh các tình tiết, chứng cứ của

vụ án, qua xét hỏi, thẩm vấn bị cáo, người bị hại, người làm

chứng, giám định viên, bị đơn dân sự, nguyên đơn dân sự, người

có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, xem xét tại chỗ các vật chứng. . .

Kiểm sát viên phải xem xét, phân tích, tổng hợp lại toàn bộ chứng

cứ để xác định sự thật vụ án. Mục đích, phương pháp, thời hạn của

việc phân tích, tổng hợp chứng cứ của các chủ thể tiến hành tố

tụng có khác nhau nên nội dung xem xét phân tích, tổng hợp cũng

có sự khác nhau. Thông thường trong quá trình điều tra, Điều tra

viên mong muốn thu thập đầy đủ chứng cứ để kết tội bị can, nghĩa

là mục đích phân tích, tổng hợp chứng cứ của Điều tra viên là

phát hiện và ngăn chặn tội phạm và người phạm tội; còn mục đích

l;thân tích, tổng hợp chứng cứ của Luật sư thì trước hết là để có lạp

luận gỡ tội cho bị cáo.

Do vậy, để cho bản luận tội có sức thuyết phục về phân tích,

tổng hợp chứng cứ, cần làm rõ về mặt lý thuyết và thực tiễn thế

nào là chứng cứ trong tố tụng hình sự.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 64 Bộ luật TTHS: "Chứng cứ là

những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này

quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm

căn cứ đê xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện

hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc

giải quyết đúng đắn vụ án". Khoản 1 Điều 66 BỘ luật TTHS quy định:

"chứng cứ phải được đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và

liên quan". Đây là khái niệm mang tính pháp định mà nội hàm của

chứng cứ có ba đặc điểm: khách quan, hợp pháp và liên quan.

Thứ nhất, về tính khách quan của chứng cứ.

Tính khách quan của chứng cứ thể hiện đó là các tài liệu, đồ

vật, vật chứng có thật, tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý

chí con người và phù hợp với các tình tiết khác của vụ án. Điều này

có nghĩa, chứng cứ là dấu vết, là sản phẩm của hành vi phạm tội,

chỉ được hình thành khi có hành vi phạm tội và gắn liền với hành

vi phạm tội, sự kiện phạm tội. Nắm rõ đặc điểm này để cho chúng

ta có phương pháp tư duy biện chứng là: hành vi phạm tội tất yếu

sẽ để lại dấu vết, dấu vết đó là chứng cứ biểu hiện về mặt khách

quan của tội phạm. Do vậy, bất cứ vụ án nào cũng có chứng cứ.

Người phạm tội có âm mưu nham hiểm, với thủ đoạn tinh vi, xảo

quyệt đến mấy thì khi thực hiện hành vi phạm tội đều để lại các

dấu vết của tội phạm. Vấn đề là ở chỗ cơ quan và người tiến hành

tố tụng có đủ năng lực, trách nhiệm và phương tiện để phát hiện

và thu thập đầy đủ các dấu vết, chứng cứ đó hay không.

Mặt khác, tính khách quan của chứng cứ cũng đòi hỏi cơ quan

và người tiến hành tố tụng có trách nhiệm phải thu thập đầy đủ,

khách quan, vô tư các dấu vết, đồ vật, vật chứng, tài liệu có liên

quan đến vụ án, không được thêm, bớt hoặc làm mất mát, hư hỏng,

thay đổi các tài liệu, đồ vật, vật chứng đó và điều quan trọng khi

tiến hành phân tích, tổng hợp các dấu vết, đồ vật, tài liệu đó không

được suy diễn chủ quan. Thực tiễn cho thấy vụ án nào mà cơ quan

tiến hành tố tụng làm mất đi tính khách của chứng cứ như khám

nghiệm hiện trường không thu lượm hết các dấu vết, đồ vật, khi

lấy lời khai thì gợi ý, mớm cung, khi thực nghiệm điều tra thì tiến

hành không đúng với hiện trường. . . Tình trạng này tất yếu sẽ dẫn

đến sai lầm nghiêm trọng khi giải quyết vụ án.

Các vụ án "Nguyễn Thị Lâm" Ở Bình Thuận, "Nguyễn Thị út"

Ở thành phố HỒ Chí Minh, vụ án "Mai Than" Ở Cần Thơ, vụ án Lê

Bá Mai ở Bình Phước đã chứng minh điều đó. Trong các vụ án này,

cơ quan tố tụng đã không thu thập đầy đủ các dấu vết, vật chứng

có tại hiện trường như cái thang tre trong vụ án "Nguyễn Thị út",

tóc và dép trong vụ án "Nguyễn Thị Lâm", chiếc bật lửa trong vụ

án "Lê Bá Mai" . . . Đây là các vật chứng vô cùng quan trọng trong

việc đánh giá tính khách quan của vụ án, nhưng không được thu

thập làm cho việc xác định sự thật của vụ án rất khó khăn. Thậm

chí có vụ án cơ quan tố tụng lấy lời khai, cho bị can tự ghi lời trình

bày nhận tội nhưng không đảm bảo khách quan, mang tính áp đặt.

Trong vụ " Nguyễn Thị Lâm", bị cáo viết thư thông cung nhận tội

từ trong trại cho đối tượng khác nhưng do người khác chỉ đạo; hoặc

trong vụ án hiếp dâm ở Cần Thơ, lời tự khai nhận tội của ông Mai

Than lại do người khác viết, trong vụ án Nguyễn Văn Mạnh Ở

Thanh Hoá, lá thư do Mạnh viết từ trong trại giam về cho gia đình

theo bị can là có sự ép buộc. Đây là những vụ án có rất nhiều vi

phạm trong việc điều tra, thu thập chứng cứ, làm cho các chứng cứ

được thu thập không bảo đảm tính khách quan dẫn đến những sai

lầm nghiêm trọng trong việc đánh giá chứng cứ.

Thứ hai, về tính hợp pháp của chứng cứ:

Tính hợp pháp của chứng cứ trước hết thể hiện ở chỗ các chứng

cứ của vụ án phải được thu thập một cách hợp pháp, nghĩa là nó

phải được thu thập theo một trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng

hình sự quy định. Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự,

trong giai đoạn điều tra, việc thu thập chứng cứ phải được Cơ quan

điều tra và Viện kiểm sát thu thập. Việc thu thập chứng cứ ở bất

cứ giai đoạn tố tụng nào, thời gian nào đều phải tiến hành lập biên

bản. Biên bản điều tra phải lập theo quy định tại Điều 95 Bộ luật

TTHS. Như vậy, nếu việc thu thập chứng cứ mà không lập biên

bản, hoặc lập biên bản mà không theo mẫu quy định thì chứng cứ

được thu thập đó coi như không hợp pháp.

Điều 95 Bộ luật TTHS quy định:

"1. Khi tiến hành các hoạt động tố tụng, bắt buộc phải

lập biên bản theo mẫu quy định thống nhất.

Trong biên bản ghi rõ địa điểm, ngày, giờ, tháng, năm

tiến hành tố tụng, thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc,

nội dung của hoạt động tố tụng, những người tiến hành,

tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động tố tụng, những

khiếu nại, yêu cầu hoặc đề nghị của họ .

Tính hợp pháp của chứng cứ còn thể hiện pháp luật tố tụng đã

quy định trình tự, thủ tục tố tụng trong điều tra như thế nào thì

cơ quan và người tiến hành tố tụng phải chấp hành nghiêm chỉnh

như vậy. Những hoạt động tố tụng về thu thập chứng cứ không

tuân theo các trình tự, thủ tục tố tụng thì các chứng cứ thu thập

được cũng trở thành không hợp pháp. Ví dụ, một người nào đó chỉ

được coi là bị can khi có quyết định khởi tố bị can (theo Điều 49 Bộ

luật TTHS) và chỉ lúc đó mới được hỏi cung họ với tư cách là bị can.

Trong thực tế có nhiều trường hợp, Điều tra viên lấy lời khai bị can

khi vụ án chưa được khởi tố. Trong trường hợp này bản cung đó

cũng không được coi là hợp pháp và không được coi là chứng cứ của

vụ án hoặc Bộ luật TTHS quy định: "Không được hỏi cung vào ban

đêm, trừ trường hợp không thèm hoãn được, nhưng phải ghi rõ lý

do vào biên bản" (Khoản 2 Điều 131 BỘ luật TTHS); hoặc "Khi lấy

lời khai của người làm chứng dưới 16 tuổi phải mồ cha mẹ hoặc

người đại diện hợp pháp khác hoặc thầy giáo, cô giáo của người đó

tham dự '- khoản 5 Điều 135 Bộ luật TTHS; hoặc "Đối với đương sự

là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc

thể chất thì người bảo vệ quyền lợi của họ có quyền có mặt khi cơ

quan tiến hành tô/tụng lấy lờ khai của người mà mình bảo vệ". Điểm d

khoản 3 Điều 59 BỘ luật TTHS. . . 

Đây là những quy định hết sức

chặt chẽ của Bộ luật TTHS nhưng trong thực tế cơ quan và người

tiến hành tố tụng còn nhiều vi phạm. Ví dụ: trong vụ án giết người

và hiếp dâm ở tỉnh C do Nguyễn Văn Phát thực hiện, người làm

chứng quan trọng của vụ án là con trai Phát mới 1 1 tuổi nhưng khi

lấy lời khai của cháu không cho mẹ cháu tham dự với tư cách là

người giám hộ. Sau đó chính cháu này đã khai việc cháu có lời khai

như vậy là do bị sợ hãi mà khai. Đây là trường hợp thu thập chứng

cứ không hợp pháp nên vụ án không được giải quyết thoả đáng.

Để bảo đảm chứng cứ được thu thập mang tính hợp pháp, theo

quy định của pháp luật, việc tiến hành thu thập chứng cứ thuộc

thẩm' quyền và trách nhiệm của cơ quan và người tiến hành tố

tụng nhất định. Ngoài những cơ quan và người tiến hành tố tụng

ra thì không ai được giao nhiệm vụ này.

Theo quy định tại Điều 33 Bộ luật TTHS thì:

"1. Các cơ quan tiến hành tố tụng gồm có:

a) Cơ quan điều tra;

bị Viện kiểm sát,

c) Toà án.

2. Những người tiến hành tố tụng gồm có:

a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều

tra viên;

bị Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát, Kiểm

sát viên;

c) Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội

thẩm, Thư ký Toà án'?

Thực tiễn cho thấy, trong nhiều trường hợp, việc khám nghiệm

hiện trường không phải do Điều tra viên và Kiểm sát viên tiến

hành. Rõ ràng trong các trường hợp này việc thu thập các chứng

như vậy là không hợp pháp. Những vi phạm này thường xảy ra đối

với các vụ án vi phạm quy định về an toàn giao thông gây hậu quả

nghiêm trọng. Các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương

tiện giao thông đường bộ trên đường Láng - Hoà Lạc, vụ án vi

phạm quy định về điều khiển phưưong tiện giao thông đường bộ

thị trấn Yên Bình tỉnh Yên Bái là những trường hợp có nhiều vi

phạm trong việc thu thập chứng cứ và đã làm cho việc giải quyết

không khách quan, kéo dài.

Ví dụ, Vụ án sau đây chứng minh về sự không tuân

theo tính hợp pháp của chứng cứ. Ngày 19 . 9. 2005, tại thị

trấn Yên Bình, huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái, anh Trinh đi

xe máy va chạm vào xe máy anh Mỹ. Vụ tai nạn làm cho

anh Mỹ bị thương tật 42%. Sau đó vụ án được khởi tố, truy

tố và xét xử Tuy nhiên, tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo inh

và Luật sư cho rằng biên bản khám nghiệm không khách

quan, mặt khác biên bản khám nghiệm hiện trường không

do Điều tra viên và Kiểm sát viên tiến hành. Do vậy, đây

là tài liệu không hợp pháp. Những ý kiến của người bị hại,luật sư về tính không hợp pháp của hoạt động điều tra

hoàn toàn có sức thuyết phục. V vậy, sau đó vụ án được

Viện kiểm sát rút truy tố và phải đinh chỉ vụ án. Từ đó có

thể thấy rằng việc thu thập các tài liệu không hợp pháp thì

các tài liệu đó không thể trở thành chứng cứ có giá trị

chứng minh được..

Vấn đề này cũng cần nhận thức đúng đắn giữa người

thu thập chứng cứ và người đưa ra chứng cứ. Như phần

trên đã phân tích, chỉ có cơ quan và người tiến hành tố

tụng mới được giao nhiệm vụ thu thập chứng cứ, còn việc

đưa ra chứng cứ thì bất cứ ai cũng có quyền cung cấp

chứng cứ. Bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự,

bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan . . . có

quyền "Đưa ra tài "cu, đồ vật, yêu cầu" điểm d, khoản 2,

Điều 49, điểm đ khoản 2 Điều 50, điểm a khoản 2 Điều 51,

điểm a khoản 2 Điều 52, điểm b khoản 2 Điều 53, điểm a

khoản 1 Điều 54 Bộ luật TTHS. Đặc biệt, Bộ luật TTHS

năm 2003 đưa ra quy đinh mới về việc thu thập chứng cứ

của người bào chữa có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình

tiết liên quan đến việc bào chữa (điểm d khoản 2 Điều 58

Bộ luật TTHS). Tuy nhiên, luật cũng quy định: "Tuỳ theo

mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên

quan đến vụ án, thì người bào chữa có trách nhiệm giao

cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án. Việc giao

nhận các tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và cơ

quan tiến hành tố tụng phải được lập biên bản theo quy

định tại Điều 95 của Bộ luật này”.

Thứ ba, về tính liên quan của chứng cứ. Tính liên quan của

chứng cứ là mối quan hệ giữa tài liệu, vật chứng (do người tiến

hành tố tụng thu thập được) với hành vi phạm tội và hậu quả do

hành vi phạm tội gây ra. Đó là mối liên hệ nội tại, khách quan giữa

chứng cứ với những hành vi phạm tội - đối tượng cần chứng minh

trong tố tụng hình sự. Nhờ mối liên hệ này mà các cơ quan tiến

hành tố tụng có thể đánh giá được diễn biến của hành vi phạm tội

xảy ra trong thực tế như thế nào. Trên cơ sở đó, Cơ quan điều tra

xác định được phương hướng điều tra. Vì vậy, vấn đề rút ra ở đây

là khi tiến hành điều tra thu thập chứng cứ, Kiểm sát viên cần lưu

ý các Điều tra viên phải thu thập hết các tài liệu, đồ vật có liên

quan, không bỏ sót các tài liệu đồ vật nào.

Ví dụ, Vụ án Nguyễn Thị Lâm giết người ở Bình Thuận

Khi khám nghiệm hiện trường thì có một con dao quắm,

nhưng Cơ quan điều tra không thu giữ. Nếu quan sát bằng

mắt thường cũng dễ nhận thấy những vết thương trên mặt,

đầu nạn nhân (chị Mỹ) rất phù hợp với con dao quắm. Tuy

nhiên, Cơ quan điều tra cho rằng bị can Nén dùng con dao

phay chém chất chị Mỹ, bởi vì việc này do bị can Nén khai

khi chém chất chị Mỹ, con dao đã được chôn cất và theo lời

khai của bị can Nén, Cơ quan điều tra đã thu được một số

mảnh kim loại. Nhưng luật sư cho rằng vất thương hình

vòng cung không thể do dao phay tạo thành mà chính do

con dao quắm tạo thành. Mặt khác, con dao phay mà Cơ

quan điều tra tìm được chứa những mảnh sắt vụn không rõ

hình thù và việc này do bị can Nén tưởng tượng ra vì sợ bị

đánh, chứ thật sự không có sư việc này. Vấn đề rút ra ở đây

là: con dao quắm là đồ vật, vật chứng liên quan đến vụ án

nhưng không được thu thập. Như vậy, công tác điều tra

chưa quán triệt và đảm bảo tính liên quan của chứng cứ khi

thực hiện việc chứng minh tội phạm. Sai lầm này dẫn đến

hậu quả nghiêm trọng là việc điều tra bị chệch hường, đối

tượng không phát hiện được, trong lúc đó một số người bị

khởi tố bắt giam, truy tố, xét xử oan(1)

Tuy nhiên, cũng có trường hợp, quá trình điều tra, Cơ quan

điều tra có thể thu thập được nhiều tài liệu, đồ vật, nhưng khi xem

xét đánh giá thì có nhiều tài liệu, đồ vật không có liên quan đến vụ

án. Nếu giữa các chứng cứ đó không có mối liên quan với nhau thì

đó không phải là chứng cứ trong tố tụng hình sự.

Do vậy, khi xem xét đánh giá chứng cứ chúng ta cần nghiên

cứu kỹ các chứng cứ đó như thế nào, ai thu thập, thu thập lúc nào,

có liên quan đến vụ án hay không, liên quan như thế nào . . . Trên

cơ sở đó mới có căn cứ kết luận các tài liệu, đồ vật đó có liên quan

đến vụ án hay không và như vậy các tài liệu, đồ vật đó có phải là

chứng cứ hay không.

Vì vậy, có thể khẳng định: tính khách quan, thính hợp pháp,

tính có liên quan là 3 thuộc tính của chứng cứ. Đã gọi là thuộc tính

thì trong việc đánh giá chứng cứ phải coi đó là yêu cầu bắt buộc.

Muốn cho bản luận tội có sức thuyết phục về phần đánh giá chứng

cứ, Kiểm sát viên phải hiểu và quán triệt đầy đủ về các thuộc tính

của chứng cứ. Làm như vậy Kiểm sát viên sẽ có y thức từ đầu việc

nghiên cứu hồ sơ, ghi chép, xác minh, đến việc phân tích, tổng hợp,

đánh giá chứng cứ. Đồng thời đây cũng là cơ sở tạo cho Kiểm sát viên

có phương pháp nghiên cứ vụ án, xây dựng bản luận tội khoa học.

              Đánh giá chứng cứ

Điều 66 Bộ luật TTHS quy đinh về đánh giá chứng cứ.

"1. Mỗi chứng cứ phải được đánh giá để xác định tính

hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án. Việc xác đinh

các chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết

vụ án hình sự

2. Điều tra viên, Kiểm sát viên, thẩm phán và Hội thẩm

xác đinh và đánh giá mọi chứng cứ với đầy đủ tinh thần

trách nhiệm, sau khi nghiên cứu một cách tổng hợp, khách

quan, toàn diện và đầy đủ tất cả tình tiết của vụ án .

Thứ nhất, khái niệm về đánh giá chứng cứ

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

Trên cơ sở các chứng cứ đã được hệ thống, kiểm tra từ giai đoạn

nghiên cứu hồ sơ vụ án, báo cáo lãnh đạo Viện, tiến hành điều tra

xác minh một số tình tiết và kết quả xét hỏi công khai tại phiên

toà, Kiểm sát viên cần phải phân tích, đánh giá từng chứng cứ,

từng nhóm chứng cứ. Với phương pháp phân tích dựa trên các

thuộc tính của chứng cứ để nghiên cứu, phân tích, xem xét mỗi

chứng cứ có độ tin cậy và giá trị chứng minh như thế nào đối với

các sự kiện, tình tiết của vụ án. Như vậy, đánh giá chứng cứ chính

là hoạt động chứng minh. Mà hoạt động chứng minh tội phạm là

hoạt động của những người tiến hành tố tụng được thực hiện theo

quy định của pháp luật từ giai đoạn phát hiện, thu thập, bảo quản,

kiểm tra, phân tích và đánh giá chứng cứ. Trong đó, đánh giá

chứng cứ là giai đoạn cuối cùng của hoạt động chứng minh. Bản

luận tội được xây dựng trên cơ sở các chứng cứ đã được thu thập

đầy đủ và việc đánh giá chứng cứ của bản luận tội cũng là hoạt

đồng chứng minh ở khâu cuối cùng.

Từ trước đến nay đã có nhiều nhà khoa học đưa ra các khái

niệm đánh giá chứng cứ. Có người cho rằng đánh giá chứng cứ là

hoạt động tư duy của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và

Hội thẩm nhân dân tiến hành dưới dạng lôgíc biện chứng trên cơ

sở pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, ý thức pháp luật

xã hội chủ nghĩa và niềm tin nội tâm nhằm nghiên cứu đánh giá

độ tin cậy và giá trị của từng chứng cứ riêng biệt, cũng như tổng

hợp chứng cứ trong vụ án hình sự. Đánh giá chứng cứ là một hoạt động tư duy

 của Điều tra viên, của cán bộ kiểm sát, của Toà án được tiên hành dưới dạng

lôgíc biện chứng, trên cơ sở pháp luật hình sự, tôi tụng hình sư, trên cơ sở ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa và niềm tin nội tâm, nhằm nghiên cứu, đánh giá độ tin cậy và giá trị của từng chứng cứ riêng biệt cũng như tổng hợp các chứng cứ trong vụ án hình sự. Đánh giá chứng cứ là cơ sở để tiên hành công tác điều tra, truy tô/và xét xử đi đúng hướng, giải quyết đúng đắn các thủ tục tôltụng, áp dụng đúng pháp luật"(1). 

Còn theo TS. Phan Hữu Thư thì "Đánh giá chứng cứ là là một khâu 

của quá trình chứng minh vụ án hình sự, trong đó Chủ thể chứng minh gồm những người tiên hành tô/ tụng là Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và một sô/người tham gia tô tụng là người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, bị can, bị cáo xác định giá trị cua các chứng cứ đã thu thập nhằm chứng minh những vấn đề khác nhau của vụ án hình sự (2).

Ghôgin, Lý luận về luật HS, TTHS và tội phạm. NXB Hà Nội, 1981, Tr.118

Phan Hữu Thư, Kỹ năng hành nghề luâtj sư, NXB Công an, 2001, tr.8

Trên đây là các khái niệm dưới giác độ rộng và hẹp. Tuy nhiên,

nếu cho rằng bị can, bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền

lợi cũng có quyền và nghĩa vụ chứng minh thì không phù hợp với

quy định tại Điều 63 Bộ luật TTHS là: trách nhiệm chứng minh

thuộc cơ quan tiến hành tô tụng như Cơ quan điều tra, Viện kiểm

sát và Toà án. 

Căn cứ Điều 66 Bộ luật TTHS và từ sự phân tích trên đây có

thể đưa ra định nghĩa về đánh giá chứng cứ như sau: đánh giá

chứng cứ là hoạt động chứng minh của Điều tra viên, Kiểm sát

viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong việc phân tích, đánh

giá các tài liệu, đồ vật đã được thu thập một cách tổng hợp, khách

quan, toàn diện và đầy đủ nhằm xác định tội phạm, người phạm

tội và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,

tính chất mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Như vậy,

nếu xét dưới góc độ xây dựng bản luận tội thì khi đánh giá chứng

cứ cần lưu ý các nội dung sau đây:

- Chủ thể đánh giá chứng cứ là: Điều tra viên, Kiểm sát viên,

Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Trong giai đoạn thực hành

quyền công tố, trình bày luận tội trước Toà thì Kiểm sát viên là chủ

thể đánh giá chứng cứ Do vậy, Kiểm sát viên phải có trách nhiệm

nghiên cứu, phân tích, đánh giá chứng cứ một cách khoa học,

khách quan và trách nhiệm cao.

- Nội dung đánh giá chứng cứ: như đã phân tích trên đây, đánh

giá chứng cứ là hoạt động chứng minh của Kiểm sát viên.

Theo quy định tại Điều 63 Bộ luật TTHS về những

vấn để phải chứng minh trong vụ án hình sự thì:

"Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, Cơ quan

điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải chứng minh:

1. Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa

điểm và những tình tiết khác của.hành vi phạm tội,

2. Ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay

không có lỗi, do cố ý hay vô ý, có năng lực trách nhiệm

hình sự hay không; mục đích động cơ phạm tội,

3. Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách

nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về

nhân thân của bị can, bị cáo;

4. Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội

gây ra .

Tại văn bản hướng dẫn viết luận tội của Viện kiểm sát nhân

dân tối cao có ghi: "Trên cơ sở hồ sơ vụ án và kết quả thẩm vấn tại

phiên toà, cần đánh giá khách quan, toàn diện và đầy đủ đê xác

định được sự thật của vụ án, xác định tội phạm đã xẩy ra và người

phạm tội, hành vi phạm tội xảy ra như thế nào? Nên chứng cứ

chứng minh (lời khai, kết quả giám định, các chứng từ. . . có nêu bút

lục Chú ý nêu đúng hành vi phạm tội và viện dẫn chứng cứ chứng

minh. Sau khi chứng minh toàn bộ hành vi phạm tội, lưu ý cả hậu

quả của tội phạm, ý thức chủ quan). Nếu có lời bào chữa của bị cáo,

người bào chữa và những người tham gia tôltụng khác thì dự thảo

luận tội phải lập luận bác bỏ hoặc chấp nhận và viện dẫn chứng

cứ chứng minh. Từ đó, Kiểm sát viên đánh giá tổng hợp, kết luận

về sự việc phạm tội, người phạm tội và viện dẫn chứng cử để chứng

minh như. Các biên bản khám nghiệm hiện trường, kiểm tra, thu

giữ vật chứng...".

Như vậy, khi xây dựng bản luận tội Kiểm sát viên phải xem

xét đánh giá toàn bộ chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thể hiện tại

bản cáo trạng và được thẩm tra, xét hỏi tại phiên toà để xác định

sự thật, xác định đối tượng chứng minh như Điều 66 Bộ luật TTHS

đã quy định. Từ đó, Kiểm sát viên đánh giá tổng hợp và kết luận

về từng sự kiện phạm tội, con người phạm tội, hành vi và hậu quả

của tội phạm. Khi đánh giá chứng cứ, Kiểm sát viên cần viện dẫn

các chứng cứ để chứng minh như: lời khai của bị cáo, người bị hại,

người làm chứng, người bào chữa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên

quan; biên bản phạm pháp quả tang, biên bản khám nghiệm hiện

trường, khám nghiệm tử thi, giám định thương tật, giám định

pháp y, giám định thiệt hại tài sản, giám định tuổi, giám định chất

ma tuý, tiền giả, ngân phiếu giả . . . Khi viện dẫn các chứng cứ để

chứng minh cần lưu ý chứng minh những sự kiện phạm tội và

phản bác những quan điểm đánh giá chứng cứ của những người

tham gia tố tụng đưa ra.

Trong trường hợp bị cáo nhận tội, thì Kiểm sát viên cần đánh

giá lời nhận tội đó có phù hợp với lời khai người làm chứng và

người bị hại không; hoặc lời nhận tội đó có phù hợp với biên bản

khám nghiệm hiện trường như thế nào, phù hợp với khám nghiệm

tử thi ra sao, phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang như thế

nào. Trong trường hợp bị cáo không nhận tội, thì Kiểm sát viên cần

dựa vào các chứng cứ khác để đánh giá việc khai báo không trung

thực của bị cáo và nêu các căn cứ để bác bỏ lời khai không chính

xác đó Bị cáo khai không dùng dao đâm nạn nhân nhưng trên áo

của bị cáo có máu. Cơ quan giám định đã kết luận máu trên áo bị

cáo có Cùng nhóm máu với nạn nhân. Cơ quan điều tra thu được

con dao tại hiện trường phù hợp với vết thương của nạn nhân.

Trong thực tiễn có nhiều trường hợp khi luận tội, Kiểm sát viên

đưa ra những quan điểm đánh giá chứng cứ không chính xác, lập

luận không thuyết phục.

Ví dụ, Vụ án Dương Thành Nhơn phạm tội cố ý gây

thương tích ở thành phố Tuy Hoà tỉnh Bình Định

Khi luận tội, Kiểm sát viên khẳng định hành vi phạm tội

của bị cáo phải bị xét xử theo khoản 3 Điều 104 BLHS (có

nhiều tình tiết đinh khung) nhưng lại đề nghị áp dụng cho

bị cáo tình tiết giảm nhẹ "phạm tội thuộc trường hợp vượt

quá giới hạn phòng vệ chính đáng . Lập luận của bản luận

tội này là không có cơ sở vì "phạm tội thuộc trường hợp

vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng" là cấu thành của

tội theo quy định tại Điều 106 BLHS, chứ không phải quy

định tại Điều 104 BLHS(I).

Trên cơ sở đánh giá toà bộ chứng cứ tại phiên toà, Kiểm sát

viên cần khẳng định tính đúng đắn của bản cáo trạng, trong

trường hợp cần sửa đổi thì cũng cần lập luận vững chắc.

Thử hai đánh giá tính chất, mức độ tội phạm, vai trò trách

nhiệm của bị cáo 

Tại hướng dẫn viết luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

có ghi: "Trên cơ sở đánh giá chứng cứ đê phân tích đánh giá chung

tính chất, mức độ của vụ án, tính chất hành vi và thủ đoạn phạm

tội xem xét mục .đích và động cơ phạm tội, mức độ hậu quả tác hại

do tội phạm gây ra (chú ý phân tích đánh giá hậu quả tác hại về

các mặt kinh tê, chính trị trật tự xã hội). Cần đánh giá đúng mức

độ không thổi phồng...".

Đây là nội dung quan trọng khi đánh giá chứng cứ. Do vậy,

Kiểm sát viên phải nghiên cứu, đánh giá thận trọng về tính chất

vụ án, tính chất hành vi và thủ đoạn phạm tội, xem xét mục đích

động cơ phạm tội. Trên cơ sở đó đánh giá về mức độ hậu quả thiệt

hại, cân nhắc đầy đủ các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ

trách nhiệm hình sự. Khi đánh giá về nguyên nhân, điều kiện

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

phạm tội Kiểm sát viên cần đối chiếu với chính sách, pháp luật,

yêu cầu chính trị địa phương để đề xuất hình phạt và các biện

pháp tư pháp khác một cách có lý, có tình. Trong phần này, Kiểm

sát viên lưu ý sự việc như thế nào thì đánh giá đúng như vậy,

không được suy diễn hoặc thổi phồng. Khi phân tích, đánh giá các

tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự phải theo

đúng quy định tại Điều 46 và Điều48 BLHS.

Đối với các vụ án có nhiều bị cáo phạm nhiều tội khác nhau,

trước hết Kiểm sát viên cần phân tích, đánh giá về hành vi phạm

tội và thủ đoạn phạm tội đối với từng bị cáo. Chú ý phân tích, đánh

giá vai trò trách nhiệm của từng bị cáo, nhân thân của từng bị cáo,

phân tích trong số đó ai là người lôi kéo, rủ rê, ai là người thực hiện,

mức độ thiệt hại và bồi thường cho người bị hại ra sao. Kiểm sát

viên cũng lưu ý đánh giá nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm

nhẹ của từng bị cáo bị cáo để đề xuất phương thức xử lý hợp lý.

VÍ dụ, Vụ án Đoàn Đức Lập phạm tội vi phạm quy đinh

về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ bi Viện

kiểm sát nhân dân huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh khởi tố.

Nghiên cứu vụ án này cho thấy. nguyên nhân dẫn đến

vụ tai nạn này do lỗi của bị cáo, hậu quả người bị hại chỉ

tổn hại sức khoẻ 65%. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết

giảm nhẹ như tự nguyện bồi thường cho người bị hại 28

triệu đồng và thành khẩn khai báo, khắc phục hậu quả tai

nạn do mình gây ra (sửa chữa xe cho người bị hại). Về

nhân thân: bị cáo có anh trai là liệt sỹ, bản thân là cán bộ

công nhân viên nhà nước có 28 năm làm công tác giáo

dục ở huyện miền núi, người bị hại cũng có đơn xin giảm

nhẹ hình phạt cho bị cáo; cơ quan vả công đoàn Phòng

Giáo dục huyện Ba Chẽ có văn bản đề nghị cho bị cáo

được hưởng án treo để tiếp tục công tác phục vụ sự nghiệp

giáo dục của huyện miền núi. Với hành vi phạm tội và

nhân thân bị cáo như như nêu trên có thể cho bị cáo được

hưởng án treo theo quy định tại Điều 60 BLHS(1)

Trong việc phân tích vai trò trách nhiệm của từng bị cáo, Kiểm

sát viên cũng cần tuân thủ trình tự đi từ phân tích, đánh giá chứng

cứ đối với bị cáo phạm tội nghiêm trọng trước đến bị cáo phạm tội

ít nghiêm trọng sau. Thông thường, khi phân tích đánh giá chứng

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

cứ đối với vụ án có nhiều bị cáo, thì bản luận tội cần sắp xếp nhóm

bị cáo phạm tội nghiêm trọng trước đến nhóm bị cáo phạm tội ít

nghiêm trọng sau. Sau khi phân tích, đánh giá vai trò, vị trí của bị

cáo xong thì cần khẳng định bị cáo phạm tội gì, được quy định tại

điều, khoản nào của BLHS.

Trên cơ sở phân tích vai trò trách nhiệm của các bị cáo, bản

luận tội cần làm rõ những sơ hở, thiếu sót, vi phạm trong công tác

quản lý về kinh tế, xã hội là nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh

tội phạm để kiến nghị với các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm khắc

phục, sửa chữa nhằm bịt những sơ hở, thiếu sót trong công tác

quản lý. Điều quan trọng của bản luận tội không phải là dùng

những lời lẽ "đao to búa lớn", phê phán quá gay gắt để làm suy sụp,

tê liệt ý chí của bị cáo, thực ra làm như vậy chỉ tạo thêm cho bị cáo

có mặc cảm với thái độ xử lý của các cơ quan bảo vệ pháp luật,

không thấy được con đường cải tạo thành người có ích cho xã hội.

Bản luận tội phải chỉ rõ cho bị cáo về tính tất yếu phải chịu hình

phạt do hành vi phạm tội của mình gây ra, mở ra cho bị cáo con

đường cải tà quy chính. Đồng thời, cùng với việc luận tội bị cáo, bản

luận tội cần phải nêu các luận cứ để người bị hại, người bảo vệ,

người có nghĩa vụ liên quan và những người tham gia phiên toà

thấy được pháp luật của nhà nước ta là hết sức nghiêm minh,

không khoan nhượng với hành vi phạm tội, nhưng cũng rất nhân

đạo, công bằng và dân chủ. Có như vậy bản luận tội sẽ mang ý

nghĩa giáo dục, phòng ngừa cao.

 

Đề nghị xử lý 

Bản hướng dẫn viết luận tội có ghi: "Trên cơ sở

đánh giá, phân tích tính chất, mức độ, hậu quả của vụ án, mục

đích và động cơ phạm tội, thủ đoạn thực hiện tội phạm, các tình

tiết tăng nặng, giảm nhẹ của vụ án, vai trò, vị trí của từng bị cáo

trong vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ được áp dụng cho

từng bị cáo; nguyên nhân, điều kiện phạm tội... và chú ý đến phục

vụ tình hình đấu tranh phòng chông tội phạm nói chung... tình

hình thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương... mà đề nghị xử

lý đối với từng bị cáo".

Trên cơ sở phân tích, đánh giá chúng cứ, dự thảo bản luận tội

cần đề xuất biện pháp xử lý đối với vụ án (về hình phạt chính, hình

phạt bổ sung và các biện pháp tư pháp khác). Có trường hợp sau

khi phân tích vai trò, trách nhiệm của từng bị cáo, Kiểm sát viên

đề xuất ngay hình phạt chính đối với bị cáo đó. Cuối cùng Kiểm sát

viên mới đề xuất hình phạt bổ sung và các biện pháp tư pháp khác.

Nhưng thông thường Kiểm sát viên nên tập trung đề cập ở phần

đề nghị là hợp lý hơn. Bởi vì nếu đề cập xử lý ở phần trên, trong

trường hợp bị cáo bị Kiểm sát viên đề xuất hình phạt cao sẽ có

phản ứng làm mất trật tự phiên toà. Mặt khác, đề xuất xử lý ở

phần này sẽ tiện đối chiếu và không bị sót các hình thức đề nghị.

Dự thảo bản luận tội về phần đề nghị xử lý cần lưu ý các nội dung:

- Đề nghị hình phạt chính trước đối với bị cáo chính (theo trật

tự như đã phân tích ở phần đánh giá vai trò, vị trí của từng bị cáo).

Mức án đề nghị phải là mức hình phạt được quy định trong khung

hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố (qua điều tra trước Toà xác

định là đúng). Việc đề nghị hình phạt dưới mức thấp nhất của

khung hình phạt phải tuân theo quy định của Điều 47 BLHS. Việc

đề nghị "cải tạo không giam giữ' hoặc "cho hưởng án treo" phải

đúng với quy định tại Điều 31, Điều 60 BLHS và các văn bản

hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền. Bị cáo nào phạm nhiều tội

thì phải đề nghị hình phạt cho từng tội riêng biệt và tổng hợp hình

phạt theo quy định tại Điều 50 BLHS về quyết định hình phạt

trong trường hợp phạm nhiều tội. Nếu bị cáo đang chấp hành một

bản án khác, thì phải đề nghị tổng hợp hình phạt theo quy định tại

Điều 51 Bộ luật hình sự về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.

- Đề nghị hình phạt bổ sung. Tất cả các bị cáo bị xét xử về các

tội phạm mà theo quy định của BLHS, việc áp dụng hình phạt bổ

sung là bắt buộc thì đều phải đề nghị áp dụng. Trường hợp không

đề nghị phải nói rõ lý do. Đối với hình phạt bổ sung mà luật quy

định có thể (tuỳ nghi) thì phải cân nhắc để quyết định tội nào và

với bị cáo nào thì áp dụng; tội nào và với bị cáo nào không áp dụng.

- Về bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cũng được đề

cập trong luận tội. Đây là nội dung mà thực tiễn luận tội không chú

ý đề cập. Việc đề nghị bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây

ra cần theo đúng hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP

ngày 08.7.2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

                 

                        Phần kết luận

Thông thường trong phần kết luận, Kiểm sát viên cần lưu ý với

Hội đồng xét xử về yêu cầu chính trị của việc xét xử vụ án, có thể

lưu ý thêm một số điểm quan trọng của vụ án, một số điểm mới

phát sinh mà Kiểm sát viên đã thay đổi khác với nội dung cáo

trạng để Hội đồng xét xử quan tâm khi nghị án.

          V. KỸ NĂNG XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG XÉT HỎI, 

                        KẾ HOẠCH ĐỐI ĐÁP

 

1. Xây dựng đề cương xét hỏi

Theo quy định tại Điều 22 Quy chế số 121/2004/QĐ-VKSTC

thì:

"1. Trước khi tham gia phiên toà Kiểm sát viên phải dự thảo đề

cương tham gia xét hỏi và những nội dung cần làm sáng tỏ tại

phiên toà để tham gia xét hỏi nhằm xác định sự thật của vụ án và

các tình tiết khác có liên quan đến việc định tội và đề xuất hình

phạt. Chú ý các mâu thuẫn và cách xét hỏi để giải quyết các mâu

thuẫn, để bác bỏ những lời chối tội không có cơ sở, dự kiên nội dung

bào chữa và chuẩn bị các câu hỏi để làm sáng tỏ vấn đề mà ngưu

bào chữa quan tâm . . . "

Như vậy, theo quy định của pháp luật thì xét hỏi tại phiên toà

là trình tự bắt buộc và quan trọng của tố tụng hình sự. Muốn cho

việc xét hỏi tại phiên toà có kết quả tốt thì Kiểm sát viên phải

chuẩn bị kỹ về nội dung. Trong quá trình thực hành quyền công tố,

kiểm sát điều tra, Kiểm sát viên đã nắm chắc các tình tiết của vụ

án, nắm chắc thái độ khai báo của bị can, người bị hại, người làm

chứng, bị đơn dân sự, nguyên đơn dân sự, những người có quyền lợi

nghĩa vụ liên quan nên có điều kiện trong việc dự kiến các tình

huống xảy ra tại phiên toà. Vì vậy, trên cơ sở kết quả thực hành

quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án, qua nghiên cứu hồ sơ vụ án,

xem xét tại chỗ các vật chứng, gặp bị can, người bị hại, người làm

chứng, bị đơn dân sự, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan và nghiên cứu các dư luận báo chí, các khiếu nại tố cáo

của đương sự... Kiểm sát viên cần dự báo bị cáo, người bị hại, người

làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người

tham dự phiên toà khác sẽ khai báo như thế nào để chuẩn bị các

câu hỏi. Trong đó, Kiểm sát viên hết sức chú ý dự báo có thể bị cáo

sẽ chối tội, phản cung như thế nào, người làm chứng sẽ khai khác

với trước đây ra sao, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của

đương sự sẽ tập trung xét hỏi những vấn đề gì để gỡ tội cho bị cáo. . .

Có thể nói, dự báo chính xác diễn biến phiên toà là nhân tố quyết

định sự thành công của Kiểm sát viên tại phiên toà. Muốn dự báo

tốt thì Kiểm sát viên không những phải nghiên cứu nắm chắc hồ sơ,

chứng cứ vụ án mà còn phải am hiểu các dư luận xã hội (các thông

tin đại chúng, ý kiến của các cơ quan tổ chức, các khiếu nại, tố

cáo ) đối với việc đưa vụ án ra xét xử. Thực tiễn cho thấy, có nhiều

vụ án, do nắm chắc nội dung vụ án, nắm chắc các khiếu nại của bị

cáo người bị hại, nắm chắc dư luận báo chí về vụ án nên Kiểm sát

viên đã dự kiến tốt các tình huống xảy ra tại phiên toà (bị cáo sẽ

chối tội như thế nào, luật sư sẽ phản bác bản luận tội ra sao, người

làm chứng sẽ thay đổi lời khai như thế nào...) từ đó đặt những câu

hỏi sát với tình hình. Tuy nhiên, cũng có trường hợp, Kiểm sát viên

chuẩn bị không cụ thể, chỉ chú ý nghiên cứu vụ án mà không quan

tâm đến dư luận xã hội nên tại phiên toà có nhiều tình tiết mới khi

người bào chữa đưa ra Kiểm sát viên sẽ bị động. Bên cạnh những

cố gắng thời gian qua trong việc xây dựng đề cương xét hỏi tại phiên

toà nhiều Kiểm sát viên chưa chuẩn bị tốt đề cương xét hỏi. Có

trường hợp do Kiểm sát viên chuẩn bị không tốt nên khi bị cáo,

Ví dụ, Vụ án Phạm Hồng Quân phạm tội vi phạm Quy

định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại

Hà Nội.

Quá trình giải quyết vụ án này có nhiều tờ báo đưa tin

về việc Cơ quan điều tra đã có nhiều vi phạm trong việc

lập biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện

trường... Thế nhưng, Kiểm sát viên quá tin vào kết quả

điều tra của Cơ quan điều tra, do vậy tại phiên toà người

bào chữa, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ

liên quan đưa ra nhiều tài liệu chứng minh những vi phạm

của Cơ quan điều tra về lập biên bản và vẽ sơ đồ hiện

trường. Đây là những tài liệu quan trọng nhưng chưa được

làm rõ. Vì vậy, nhiều vấn đề về chứng cứ của vụ án cũng

như tính hợp pháp của hoạt động điều tra được người bào

chữa đưa ra tại phiên toà làm cho Kiểm sát viên bị động.

Kết quả tranh luận tại phiên toà càng trở nên phức tạp và

vụ án phải huỷ để điều ta lại nhiều lần, gây bức xúc trong

dư luận (1).

Việc chuẩn bị đề cương xét hỏi thông thường phải chuẩn bị một

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

cách toà diện, không bỏ sót bất cứ chi tiết nào liên quan đến vụ án.

Tuy nhiên Kiểm sát viên cần tập trung chuẩn bị những nội dung

bảo vệ cáo trạng, trong đó chú y đến các câu hỏi liên quan đến buộc

tội và gỡ tội, nhất là đối với các trường hợp bị cáo không nhận tội,

người làm chứng thay đổi lời khai. Do vậy, những tình tiết thay đổi

lời khai của bị cáo, người bị hại và người làm chứng phải được

Kiểm sát viên chuẩn bị thật chu đáo, kỹ lưỡng.

Yêu cầu của việc chuẩn bị đề cương xét hỏi là phải sát với các

tình tiết của vụ án, câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng và dễ trả lời, không

hỏi chung chung, không nên đặt câu hỏi không gắn với các tình tiết

có liên quan của vụ án.

Bản đề cương xét hỏi của Kiểm sát viên cần được xây dựng tỷ

mỹ, toàn diện nội dung vụ án. Kiểm sát viên phải tự đặt câu hỏi và

trả lời: xét hỏi vấn đề gì? Dự kiến câu hỏi đặt ra như thế nào? Nếu

vụ án có nhiều bị can, các bị can khai mâu thuẫn với nhau thì xét

hỏi bị can nào trước, xét hỏi bị can nào sau? Dự kiến người được hỏi

sẽ trả lời như thế nào? Trong tường hợp người trả lời khác với nội

dung trước đây thì cần đưa ra tài liệu nào để đấu tranh với người được hỏi

Trong trường hợp dự kiến hỏi ai trước, ai sau thì Kiểm

sát viên cần trao đổi với Chủ toạ phiên toà trước khi xét xử.

 

2. Xây dựng kế hoạch đối đáp

Khi xây dựng kế hoạch xét hỏi cần gắn với xây dựng kế hoạch đối

đáp Quy chế số 121/2004/QĐ-VKSTC chỉ mới quy định Kiểm sát

viên chuẩn bị dự thảo đề cương xét hỏi mà chưa đề cập đến việc

chuẩn bị nội dung đối đáp. Thực tiễn xét xử cho thấy, trong các vụ án

phức tạp nếu Kiểm sát viên chuẩn bị càng kỹ bao nhiêu về kế hoạch

đối đáp sẽ tạo điều kiện cho việc tranh luận đối đáp tại phiên toà.

Căn cứ để xây dựng kế hoạch đối đáp tại phiên toà chính là

xuất phát từ các mâu thuẫn trong các lời khai của bị cáo, người bị

hại, người làm chứng, bị đơn dân sự, nguyên đơn dân sự, người có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ý kiến của người bào chữa và phản

ứng của dư luận báo chí. Đây là cơ sở để bị cáo, người bào chữa,

người bảo vệ quyền lợi của đương sự, nguyên đơn dân sự, bị đơn

dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan làm tài liệu để phản

bác luận tội của Kiểm sát viên, vì vậy, Kiểm sát viên cần nắm chắc

các tài liệu về khiếu nại, tố cáo của bị can, người bị hại, nguyên đơn

dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Muốn

dự báo chính xác các tình huống xảy ra tại phiên toà về các ý kiến

của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác đối với bản

luận tội thì Kiểm sát viên không những phải nắm chắc hồ sơ,

chứng cứ nhất là những mâu thuẫn trong hồ sơ, mà còn cần nắm

chắc những dư luận của báo chí về các tình tiết của vụ án, những

khiếu nại, tố cáo liên quan đến vụ án.

Ví dụ, Vụ án chống người thi hành công vụ ở xã Đông

Minh huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình.

Trong dự thảo kế hoạch tranh luận, đối đáp tại phiên

toà xét xử vụ án thi có 5 bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố theo

Điều 257 BLHS gồm: Phạm Văn Thăng, Phạm Văn Hoán,

Phạm Thị Phượng, Cao Xuân Lục và Nguyễn Văn Trái. Vụ

án được Toà án quyết định đưa ra xét xử vào ngày

23. 6. 2006. Ngày 26. 5. 2006 Văn phòng luật sư Vũ Văn

Đảng có Công văn số 140 về "Đề nghi Toà án nhân dân

huyện Tiền Hải ra quyết định đình chỉ vụ án vì lý do: Hành

vi của các bị cáo không cấu thành tội "Chống người thi

hành công vụ . Trước hành vi cưỡng chế trái pháp luật của

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Tiền Hải, công dân có

quyền bảo vệ tài sản của mình. Kiểm sát viên đã nghiên

cứu kỹ văn bản này và căn cứ Điều 9 Quy chế số

1 2 1/2004/QĐ- VKS TC Kiểm sá t viên được phân công đã

tiến hành xây dựng kế hoạch đối đáp, tranh luận với luật

sư về những tình huống xảy ra tại phiên toa xét xử sơ thẩm

đối với 5 bi cáo. Kiểm sát viên đã chuẩn bi kế hoạch đối

đáp như sau:

Quan điểm của luật sư. (trên cơ sở Công văn số 140

của luật sư)

1. Về thửa đất 101 diện tích 426m2 là đất của gia đình

ông Tần đi khai hoang từ năm 1957, nay tách hộ cho con

trai Phạm Văn Hoán làm nhà là hợp pháp không vi phạm

Luật đất đai.

2. Căn cứ Điều 64 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành

chính năm 2002 thì Quyết đinh cường chế hành chính số

58/QĐ-UB ngày 18.01.2006 của Chủ tịch Uỷ ban nhân

dân huyện Tiền Hải đối với hộ gia đình ông Phạm Đình

Tân là chưa đảm bảo về mặt thời gian như Pháp lệnh xử

phạt vi phạm hành chính quy đinh, lại mâu thuẫn ngay với

Quyết định xử phạt hành chính số 40/QĐ-UB ngày

13.01.2006 (tức là phải sau 10 ngày). Trước hành vi trái

pháp luật trên thì công dân có quyền bảo vệ tài sản của

mình, do vậy hành vi của các bị cáo không cấu thành tội

"Chống người thi hành công vụ .

Căn cứ các tình tiết của vụ án và các quy đinh của

pháp luật, Kiểm sát viên lên kế hoạch đói đáp với luật sư

và dự kiến các tình huống như sau: Hôm nay Toà án nhân

dân huyện Tiền Hải quyết định đưa vụ án hình sự ra xét

xử sơ thẩm công khai đối với 5 bị cáo phạm tôi: "Chống

người thi hành công vụ? Hành vi phạm tội của các bị cáo

đã được Viện kiểm sát công bố tại bản cáo trạng số

17/KSĐT ngày 14.4.2006. Qua cuộc thẩm vấn công khai

trước toà, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã trình

bày lời luận tội và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đây

không phải là vụ án dân sự - hành chính hay vụ án kinh

tế như luật sư đề cập. Một lần nữa tôi đề nghị Hội đồng

xét xử trên cơ sở tài liệu và chứng cứ trong hồ sơ vụ án,

kết quả thẩm vấn công khai dân chủ, bình đẳng trước toà

đã chứng minh hành vi phạm tội: "Chống người thi hành

công vụ của các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ phù hợp.

Sau khi Hội đồng xét xử nghị án sẽ tuyên một bản án hình

sự đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Không

đi sâu xem xét đề cập các quan hệ về dân sự, hành chính

hay kinh tế, bởi vì các quan hệ ấy thuộc phạm vi điều

chỉnh ở một quan hệ pháp luật khác.

Song để có căn cứ xác định hành vi phạm tội "Chống

người thi hành công vụ" của bi cáo, tuy có liên quan đến

việc xác lập quyền sở hữu tài sản là nguyên nhân, điều kiện

làm vụ án phát sinh. Trước hất nói về nguồn gốc thửa đất

10 1, diện tích 426m2 vẫn còn lịch sử để lại 3 thời điểm đăng

ký sử dụng đất và đo đạc năm 1982, 1990 và 1995 đều do

Uỷ ban nhân dân xã Đông Minh quản lý. Gia tỉnh ông

Phạm Đình Tần chưa một lần nào đăng ký quyền sử dụng

và không có một cấp chính quyền nào giao đất hoặc cho

hộ ông Tần thuê thửa đất 101m , ông Tần cũng không có

một loại giấy tờ gì liên quan đến thửa đất này ông Tần

không phải là hộ sử dụng ổn định liên tục qua các thời kỳ

và gia đình ông Tần từ trước đến nay không thực hiện bất

cứ một nghĩa vụ nào đối với thửa đất 101m2 nói trên.

Tại Điều 1 Luật đất đai năm 1993, Điều 5 Luật đất đai

năm 2003 cũng như Điều 690 Bộ luật dân sự đã quy định:

"Đất đai thuộc sở hữu toàn dân'?

Khoản 2 Điều 690 BỘ luật dân sự. "quyền sử dụng đất

đai của cá nhân, hộ gia đình được xác lập do nhà nước

giao đất hoặc cho thuê đất .

Điều 247 Bộ luật dân sự còn quy định: "Người chiếm

hữu tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước không có

căn cứ pháp luật thi dù ngay tình liên tục công khai, dù thời

gian chiếm giữ là bao lâu cũng không thể trở thành chủ sở

hữu tài sản đó .

Khoản 2 Điều 698 Bộ luật dân sự quy định về căn cứ

chấm dự quyền sử dụng đất. "Đất mà nhà nước chưa giao

cho tổ chức hộ gia đ nít cá nhân bị lấn chiếm, đều bị thu hồi .

Vậy trên cơ sở pháp lý nào Luật sư bảo vệ quyền lợi

cho các bị cáo lại đưa ra quan điểm thửa đất 101 là đất

của gia đình ông Tần đi khai hoang từ năm 1957? Các con

của ông Tần có quyền định đoạt và sử dụng thửa đất này?

Kể từ năm 2003 đến nay gia đình ông Tần đã làm đơn

khiếu nại đề nghị Uỷ ban nhân dân xã Đông Minh, phòng

Tài nguyên môi trường huyện Tiền Hải làm thủ tục xác lập

quyền sớ hữu đối với thửa đất trên, nhưng không được

chấp thuận. Bởi vì gia đình ông Tần đã sở hữu tổng số

2090m2 đất các loại, trong đó có 400m2 đất thổ cư, là trên

hạn mức đất đai quy định.

Tình huống thứ nhất. Nếu các bi cáo nhận tội như tài liệu

trong hồ sơ, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Các bi cáo

đã có hành vi san nền, xây móng, xây tường nhà, làm dàn

sắt cốp pha để đổ mái nhà trên thửa đất không có thủ tục

giấy tờ gì. . .Ngày 15.01.2006, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã

Đông Minh ra thông báo: Sáng ngày 17 . 01 . 2006 gia đình

ông Tần phải tự thu dỡ giàn giáo, tường xây, nếu không sẽ

bị cưỡng chế. Ngày 18.01.2006 gia đình ông Tần tiếp tục

làm dàn sắt, cốp pha để thực hiện việc đổ mái nhà vào

sáng ngày 19.01.2006. Từ những vi Phạm trên, Chủ tịch Uỷ

ban nhân dân huyện Tiền Hải đã áp dụng biện pháp khẩn

cấp Quyết định cưỡng chế hành chính số 58/QĐ-UB ngày

18.01.2006. Khi lực lượng cưỡng chế triển khai, các con,

cháu ông Tần đã có hành vi chống trả nên đã phạm tội

"Chống người thi hành công vụ .

Quan điểm của Luật sư bào chữa cho các bị cáo lại căn

cứ vào Điều 64 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính

năm 2002 "vì chưa quá hạn sau 10 ngày, Uỷ ban nhân dân

huyện Tiền Hải đã ra quyết định cường chế vào ngày

19.01.2006 là trái pháp luật'?

Tại khoản 1 Điều 64 Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành

chính còn quy định: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã phường,

thị trấn có trách nhiệm chỉ đạo thường xuyên việc kiểm tra,

phát hiện các hành vi lấn chiếm đất đai, sử dụng không đúng

mục đích, chuyển mục lịch sử dụng đất trái pháp luật trong

thời hạn không quá một ngày kể từ khi phát hiện vi phạm,

hoặc được thông báo có vi phạm, thì phải tổ chức việc kiểm

tra lập biên bản, ra quyết định anh chỉ hành vi vi phạm, xử

phạt hành chính theo thẩm quyền và yêu cầu tự khôi phục

tình trạng sử dụng đất ban đầu. Nếu người có hành vi vi

phạm không chấp hành quyết đinh anh chùm ra quyết định

cưỡng chế khôi phục lại tinh trạng sử dụng đất ban đầu và

báo cáo bằng văn bản lên Uỷ ban nhân dân cấp trên.

Từ những quy định của pháp luật nêu trên cần phải đặt

câu hỏi với luật sư tại sao phải đợi công dân Phạm Văn

Hoán đổ mái nhà xong trên đất lấn chiếm sau ngày

28.01.2006 mới đưa ra thi hành lệnh cường chế thu dỡ,

nếu vì yếu tố thời gian như ý kiến của luật sư nêu ra sẽ

không chỉ gây thiệt hại tài sản cho công dân mà còn làm

suy giảm hiệu lực của các cơ quan công quyền và cơ quan

quản lý nhà nước

Tóm lại, luật sư đã phủ nhận một cách vội vàng, không

có căn cứ về lịch sử thửa đất 101, diện tích 426m2 là do Uỷ

ban nhân dân xã Đông Minh quản lý hợp pháp, công dân

Phạm Văn Hoán làm nhà là chiếm đất công, khi có quyết

định cưỡng chế sau nhiều lần vi phạm, các bị cáo đã có

hành vi sử dụng nhiều loại công cụ khác nhau để chống

lại lực lượng đến cưỡng chế, tại sao luật sư lại coi đây là

hành vi cưỡng chế trái pháp luật? Như vậy, không phù hợp

với khoản 2 Điều 182 Nghị định 181/CP ngày 29. 10. 2004

của Chính phủ. Hành vi phạm tội của các bi cáo phải bị

truy tố, xét xử theo Điều 257 BLHS.

Tích huống thứ hai. Các bị cáo đồng nhất quan điểm

với luật sư bào chữa không nhận tội "Chống người thi hành

công vụ" /à hoàn toàn mâu thuẫn với các tài liệu và lời khai

của từng bị cáo trong hồ sơ vụ án (sẽ công bố bút lục).

Sau đó tiếp tục thẩm vấn các bị cáo về những công cụ,

phương tiện được đưa lên mái nhà: 2 dao tông, 04 đoạn

sắt 03 đoạn tuýt nước, 04 cọc tre nhọn đầu, 02 can đựng

dung dịch lỏng là xăng hay axit để chuẩn bị mục đích gì?

Xác định ai là người ném gạch làm bị thương anh Mạnh ở

đồn Biên phòng 72? Bị cáo Thắng sử dụng micrô đứng

trên nóc nhà tầng 2 hò hét mọi người để nhằm làm mục

đích gì? Riêng bị cáo Hoán cần thẩm vấn từng lần vi phạm

hành chính, đình chỉ việc san lấp, xây móng, xây tường và

đổ mái nhà và thống kê tất cả có bao nhiêu lần ?(1).

Trên đây là đề cương đối đáp, tranh luận của Kiểm sát viên cấp

huyện chuẩn bị xét xử vụ án "Chống người thi hành công vụ', đây

là thể hiện sự chuẩn bị rất chu đáo về dự kiến các tình huống để

chuẩn bị tranh luận, đối đáp tại phiên toà. Việc chuẩn bị kỹ như

thế này sẽ giúp cho Kiểm sát viên rất tự tin và bình tĩnh để xử lý

các tình huống tại phiên toàn(2)

                                CHƯƠNG IV

        

         KỸ NĂNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ

              TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ THẨM

1 KỸ NĂNG ĐỌC CÁO TRẠNG

1. Một số đánh giá nhận xét

Kỹ năng thực hành quyền công tố tại phiên toà sơ thẩm hình

sự là những thao tác, những hoạt động nghiệp vụ cụ thể của Kiểm

sát viên trong việc sử dụng hệ thống các biện pháp pháp lý tại

phiên toà do pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm làm sáng

rõ các tình tiết của vụ án, góp phần cùng Toà án giải quyết vụ án

dân chủ, công bằng, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp

luật không được để lọt tội, không làm oan người vô tội. Những biện

pháp pháp lý đó là: Trình bày cáo trạng, tham gia xét hỏi, đưa ra

Kỹ năng đối đáp, tranh luận của KSV…Vụ 3 VKSNDTC.

Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

chứng cứ và sử dụng chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội,

tranh luận với bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân

sự, bị đơn dân sự, người đại diện hợp pháp, người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan như: trình bày luận tội, đối đáp với bị cáo, người

bào chữa và những người tham gia tố tụng khác nhằm xác định sự

thật của vụ án.

Thời gian qua, hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ

thẩm hình sự đã có nhiều cố gắng trong việc thực hành quyền công

tố tích cực đấu tranh, đưa ra các chứng cứ tại phiên toà để chứng

minh quan điểm truy tố của Viện kiểm sát. Nhất là thời gian gần

đây, các kiểm sát viên đã không ngừng phát huy những thuận lợi,

khắc phục những khó khăn, rèn luyện phẩm chất đạo đức người cán

bộ Kiểm sát, tích cực học tập, trau dồi nghiệp vụ chuyên môn, thực

hiện nghiêm chỉnh quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về cải

cách tư pháp. Tại phiên toà xét xử các vụ án Trương Văn Cam và

đồng bọn tại thành phố Hồ Chí Minh, vụ án Là Thị Kim Oanh tại

thành phố Hà Nội và nhiều vụ án khác về ma tuý, buôn lậu, tham

nhũng.. .đã chứng minh về vai trò tích cực, tính trách nhiệm và tính

cẩn trọng, cầu thị của Kiểm sát viên. Các Kiểm sát viên đã phát

huy vai trò đại diện cho Nhà nước giữ quyền công tố, truy tố người

phạm tội, góp phần cùng Toà án xét xử mỗi năm hàng vạn vụ án

hình sự (số án truy tố năm 2006 là 56.553 vụj92.632 bị can), vừa

bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ quyền

dân chủ của công dân, tình trạng oan, sai ngày càng được giảm dần,

vừa góp phần phục vụ giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã

hội, phục vụ tốt sự nghiệp đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, có nhiều vụ án hình sự,

Kiểm sát viên chưa phát huy hết vai trò của mình trong việc xét

hỏi, tranh luận, đối đáp với bị cáo, người bào chữa, và những người

tham gia tố tụng khác để làm sáng rõ các tình tiết của vụ án.

Nhiều vụ án, Chủ toạ phiên toà dường như làm mọi việc như điều

hành diễn biến phiên toà, cho đến xét hỏi làm rõ nội dung vụ án.

trong khi đó, Hội thẩm, Kiểm sát viên còn thụ động, cho rằng việc

xét xử là thuộc trách nhiệm của Thẩm phán. Theo quy định tại

Điều 189 Bộ luật TTHS thì sự có mặt của Kiểm sát viên là bắt

buộc, nếu vắng mặt thì phải hoãn phiên toà. Nhưng luật chưa quy

định bắt buộc Kiểm sát viên phải hỏi và tranh luận như thế nào.

Điều này dẫn đến hệ quả việc Kiểm sát viên hỏi ai và tranh luận

như thế nào là do Kiểm sát viên tự quyết định. Do vậy, không ít

phiên toà khi Chủ toạ đề nghị Kiểm sát viên hỏi thêm hoặc đối đáp

với các ý kiến của bị cáo, người bào chữa và những người tham dự

phiên toà thì Kiểm sát viên thường trả lời bằng câu mang tính

kinh điển: "Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tô trước

phiên toà hôm nay, tôi giữ nguyên quan điểm về vụ án như cáo

trạng đã công bô". Thậm chí, có Kiểm sát viên, khi bị cáo, người

bào chữa và những người tham dự phiên toà đưa ra các chứng cứ

bác bỏ cáo trạng, luận tội thì Kiểm sát viên không sử dụng chứng

cứ để đấu tranh, phản bác các ý kiến sai trái đó mà từng bước rút

quan điểm truy tố.

Ví dụ, Vụ án lừa đảo và thiếu trách nhiệm trong việc làm

đường Hồ Chí Minh do Viện kiểm sát nhân dân tối cao truy

tố uỷ quyền cho Viện kiểm sát tỉnh K. thực hành quyền

công tố. Tóm tắt nội dung vụ án: Đoạn đường HỒ Chí Minh

đi qua tỉnh K. được khởi công năm 2002 - 2003. Vì đoạn

đường này đi qua núi đá và trên đó là đường dây điện 500

KV Do vậy, phương án đánh mìn phá đá ở đoạn này có

những đặc thù so với các nơi khác. Phương pháp đánh mìn

ở điểm có đường dây 500KV đi qua là đánh nhỏ, có tấm

chắn để khi nổ mìn thì đá không văng lên làm hư hỏng

đường dây tải điện. Nếu đánh mìn theo phương pháp này

thi chi phí rất cao và về thủ tục phải được cơ quan nhà

nước có thẩm quyền phê duyệt. Việc nổ mìn theo phương

pháp này được Bùi Hải Nhân thực hiện. Tuy nhiên, Bút Hải

Nhân không thực hiện theo phương án đã được phê duyệt

mà áp dụng phương pháp "nổ om . Phương pháp này chi

phí ít nhưng sẽ phá vỡ kết cấu hai bên ta-/uy, dẫn đến hậu

quả lún nền đường, xát ta-/uy sau này. Sau đó Bùi Hải

Nhân và bên giám sát lập hồ sơ thanh toán theo phương

pháp đã được duyệt và được ban quản lý chấp nhận cho

Bùi Hải Nhân thanh toán 1 7 tỷ đồng. Viện kiểm sát đã truy

tố Bùi Hải Nhân và đồng bọn về tội lừa đảo chiếm đoạt tài

sản theo khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự. Phiên toà được

xét xử vào tháng 5.2006 với 2 Kiểm sát viên giữ quyền

công tố và 3 Luật sư bào chữa cho các bi cáo. Tại phiên

toà bị cáo Nhân thừa nhận đã không thực hiện đánh mìn

theo phương án đã được phê duyệt mà tuý đánh mìn theo

phương án "nổ om" và đã làm khống hoá đơn để thanh

toán theo phương án được duyệt. Tuy nhiên, khi bào chữa

cho bị cáo, Luật sư lại cho rằng phương pháp đánh mìn "nổ

om" của bị cáo Nhân là sự sáng tạo, đem lại hiệu quả kinh

tế lớn. Cần phải khen thưởng cho bị cáo. Việc bị cáo làm

các chứng từ giả để thanh toán theo Luật sư là do cơ chế,

do tư duy của những người quản lý. Tiếp đó Luật sư hỏi

Kiểm sát viên: có biết phương pháp đánh mìn "nổ om"

khác với phương pháp thông thường không? Kiểm sát viên

trả lời rất đơn giản: Vấn đề kỹ thuật Kiểm sát viên không

biết. Sau đó Luật sư lập luận là các bị cáo không có hành

vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hai Kiểm sát viên lúng túng,

không trả lời với Luật sư và đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ

sơ để điều tra bổ sung. Ngày 24. 10.2006 vụ án lại được

xét xử lại lần hai. Tại phiên toà lần này, Luật sư đã bác bỏ

quan điểm truy tố của Viện kiểm sát và chứng minh bị cáo

chỉ còn nợ 40 triệu đồng. Kiểm sát viên lúng túng và rút

truy tố từ khoản 4 xuống khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự

nhưng vẫn giữ mức hình phạt như cũ. Sau đó Luật sư tiếp

tục tranh luận, phản bác quan điểm truy tố của Viện kiểm

sát Kiểm sát viên tiếp tục rút truy tố từ khoản 3 xuống

khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự nhưng vẫn giữ nguyên

mức hình phạt như cũ. Nhưng sau đó Kiểm sát viên đề

nghị hoãn phiên toà để trả hồ sơ điều tra bổ sung. Vụ án

này có thể rút ra các sai sót như sau:

- Kiểm sát viên khi ra phiên toà không nghiên cứu kỹ hồ

sơ vụ án, nhất là những nội dung Toà án trả hồ sơ yêu cầu

điều tra bổ sung nhưng Kiểm sát viên không nghiên cứu

kỹ, nên không nắm chắc các chứng cứ để tranh luận với

luật sư

- Kiểm sát viên thiếu kiến thức về quản lý kinh tế. Cho

nên khi luật sư đưa ra các lập luận về nguyên tắc kế toán

tài chính, giá cả và thanh toán thì Kiểm sát viên không đối

đáp được

Các quy đinh của Bộ luật TTHS và quy chế nghiệp vụ

Kiểm sát viên không nắm chắc để dự kiến các tình huống

tại phiên toà, vi vậy luật sư đưa ra các ý kiến để tranh luận

thì Kiểm sát viên lúng túng, không xử lý được(1).

Như vậy, trong vụ án này Kiểm sát viên hoàn toàn bị động,

không xây dựng đề cương xét hỏi, không dự kiến các tình huống

diễn ra tại phiên toà nên khi luật sư đưa ra ý kiến thì lúng túng,

bị động.

Có trường hợp, tại phiên toà có nhiều diễn biến khác với cáo

trạng nhưng Kiểm sát viên không chú ý tranh luận làm sáng rõ các

tình tiết khi luận tội. Bên cạnh có việc Kiểm sát viên không tích

cực xét hỏi, nhưng cũng có Thẩm phán Chủ toạ phiên toà chưa tạo

điều kiện để Kiểm sát viên hỏi hoặc chưa tạo cho các bên tranh

luận. Có trường hợp chưa coi trọng vai trò bào chữa của Luật sư;

còn e ngại cho rằng sự tham gia của Luật sư sẽ gây khó khăn cho

công tác xét xử. Ngược lại cũng có trường hợp Luật sư chưa quan

tâm đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án, nhất là đối

với các trường hợp bào chữa theo yêu cầu của cơ quan tố tụng. Từ

thực tiễn của công tác thực hành quyền công tố tại phiên toà,

chúng ta rút ra một số kỹ năng của Kiểm sát viên khi thực hành

quyền công tố được trình bày trong phần tiếp theo.

2. Kỹ năng dọc cáo trạng của Kiểm sát viên

a- Căn cứ pháp luật:

Việc Kiểm sát viên đọc cáo trạng tại phiên toà sơ thẩm là bắt

buộc và đã được Bộ luật TTHS quy định chặt chẽ. Điều 206 BỘ luật

TTHS quy định: "Trước khi tiến hành xét hỏi, Kiểm sát viên đọc

bản cáo trạng và trình bày ý kiên bổ sung, nếu có".

Quy chế số 121/2004/QD-VKSTC đã quy định về việc Kiểm sát

viên đọc cáo trạng và trình bày bản luận tội Điều 21 "Trước khi

tiến hành xét hỏi, Kiểm sát viên đọc cáo trạng hoặc quyết định truy

tô theo thủ tục rút gọn và quyết định khác của Viện kiểm sát liên

quan đến việc giải quyết vụ án và trình bày ý kiến bổ sung làm rõ

thêm nội dung cáo trạng nếu có" (Điều 21).

Theo quy định của Bộ luật TTHS thì bản cáo trạng là quyết

định truy tố của Viện kiểm sát, đã được tống đạt cho bị can và

người bào chữa được đọc bản cáo trạng và được chuyển cho Toà án

cùng hồ sơ vụ án để chuẩn bị xét xử. Do vậy, về nguyên tắc sau

phần thủ tục bắt đầu phiên toà- Chương XIX- trước khi xét hỏi

Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng. Nghĩa là, Kiểm sát viên phải đọc

nguyên văn, không "trình bày" như bản luận tội. Như vậy, đọc cáo

trạng là vấn đề bắt buộc của Kiểm sát viên. Tuy nhiên, trong thực

tiễn cũng có trường hợp, khi xét xử sơ thẩm Kiểm sát viên không

đọc cáo trạng. Trường hợp này thường xảy ra đối với các vụ án đã

trả lại để điều tra bổ sung. Có vụ án khi trả lại điều tra, nhưng

Viện kiểm sát hoặc Cơ quan điều tra vẫn giữ nguyên quan điểm hồ

sơ vụ án không cần điều tra, có đủ căn cứ để truy tố. Do vậy, có thể

nhận thức của chủ toạ phiên toà và Kiểm sát viên cho rằng trong

trường hợp này không cần đọc lại cáo trạng. Nhận thức này là sai

lầm vì trong trường hợp xét xử lần hai này có thể có các thành viên

trong Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Kiểm sát viên, Hội thẩm nhân

dân không tham gia xét xử do được thay thế hoặc phải thay đổi

theo quy định tại Điều 42, 45, 46 và Điều 186 BỘ luật TTHS, thì

trong trường hợp này trước khi xét hỏi Kiểm sát viên phải đọc lại

nội dung bản cáo trạng.

Ví dụ, Vụ án Phạm Minh Hiếu phạm tội mua bán trái

phép chất ma tuý ở thành phố C.

Vụ án này đã bị cấp phúc thẩm huỷ án nhiều lần. Ngày

21.03.2007 phiên toà sơ thẩm xét xử Hiếu phạm tội mua

bán trái phép chất ma túy, đây là lần xét xử sơ thẩm thứ 8

(kể cả những lần Toà án trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bố

sung). Tuy nhiên lần này theo yêu cầu của người bi hại,

Toà án thành phố C. lại không yêu cầu Kiểm sát viên đọc

cáo trạng và luận tội. Trong lúc đó, Kiểm sát viên cũng

không có ý kiến gì. Như vậy, quyền và nghĩa vụ trinh bày

cáo trạng trước phiên toà của Viện kiểm sát không được

thực hiện. Có thể nói đây là vi phạm nghiêm trọng của Toà

án và Viện kiểm sát khi tham gia phiên toà(1).

b- Phong cách ứng xử của Kiểm sát viên khi đọc cáo trạng:

 Một điều cần lưu ý là khi ra phiên toà Kiểm sát viên phải mặc trang

phục Kiểm sát như: quần áo, dày dép, caravat theo đúng Quyết

định số01fvks- TCCB ngày 28.04.2003 của Viên trưởng Viện kiểm

sát nhân dân tối cao. Một người ăn mặc chỉnh tề, sạch sẽ chắc chắn

sẽ gây sự chú ý, thiện cảm với mọi người hơn là người ăn mặc lôi

thôi, đầu bù, tóc rối, vẻ mặt bơ phờ, mệt mỏi. Mặc dù đây là vấn đề

không liên quan đến nghiệp vụ nhưng là điều kiện quan trọng về

hình thức giúp cho Kiểm sát viên tự tin hơn để hoàn thành tốt

nhiệm vụ của mình trong quá trình diễn ra phiên toà. Một điều cần

lưu ý nữa là, trước khi tham dự phiên toà Kiểm sát viên cần đọc lại

bản cáo trạng để có thể phát hiện lần cuối những sai sót (nếu có),

xem những điểm nào cần nhấn mạnh thì đánh dấu để khi đọc chú

ý nhấn mạnh thêm, hoặc những chỗ cần dừng lại. Cũng cần chú ý

bản cáo trạng chuẩn bị đọc tại phiên toà nên in một mặt sạch sẽ.

(1) Báo pháp luật Việt Nam ngày 13.04.2007

Thông thường khi đọc cáo trạng Kiểm sát viên phải đứng dậy

để đọc Sau khi đứng lên không đọc ngay mà Kiểm sát viên cần có

một khoảng thời gian im lặng để quan sát một lượt toàn bộ hội

trường nhằm thu hút sự chú ý của mọi người có mặt trong phòng

xử án. Sau khi thấy mọi người trong hội trường ổn định, trật tự, im

lặng thì Kiểm sát viên mới bắt đầu đọc bản cáo trạng.

Những điều nên làm khi đọc cáo trạng: 

         Khi đọc cáo trạng, Kiểm sát viên phải chú ý tạo ra cho mình tâm lý

thoải mái, bình tĩnh, tự tin, nhất là đối với các vụ án có đông người tham gia, hoặc bị cáo trước đây nguyên là lãnh đạo. Kiểm sát viên phải đọc rõ ràng, dõng

dạc, câu văn trong sáng. Chú ý ngắt câu đúng chỗ, phát âm phải

chuẩn xác. Giọng đọc vừa phải, có hồn, lúc lên bổng, lúc xuống

trầm nhằm thu hút sự chú ý của người nghe. Khi đọc Kiểm sát

viên cần có sự biểu cảm, sau khi đọc một đoạn dài thì Kiểm sát

viên cần ngừng lại một chút, nhìn về phía cử toạ đang ngồi trong

hội trường (hết sức tránh nhìn ngoài hội trường) như vậy sẽ gây sự

tập trung, chú ý của mọi người dự phiên toà.

Để cho việc đọc bản cáo trạng tốt, trước khi dự phiên toà, Kiểm

sát viên phải sắp xếp công việc cơ quan, việc gia đình tập trung tốt

tư tưởng, chuẩn bị tốt sức khoẻ để sẵn sàng thực hành quyền công

tố trong điều kiện căng thẳng về tính phức tạp và kéo dài về mặt

thời gian. Đối với các vụ án lớn, cần xét xử nhiều ngày thì phải có

hai Kiểm sát viên tham gia và phân công đọc cáo trạng.

Ví dụ, Bản cáo trạng số 23/KSĐ T TA ngày 25. 1 1 . 2002

về vụ án Trương Văn Cam và đồng bọn phạm tội ở thành

phố Hồ Chí Minh với 585 trang. Nếu đọc liên tục cũng phải

gần ba ngày. Vì vậy, Viện kiểm sát thành phố Hồ Chí Minh

phải phân công hai Kiểm sát viên ngồi ghế công tố và thay

nhau đọc cáo trạng. Hai Kl~l sát viên này đã thay nhau

đọc cáo trạng mỗi người đọc từ 01 đến 02 tiếng đồng hồ.

Trong trường hợp này cần chú ý phần quyết định truy tố

phải do Kiểm sát viên chính đọc.

Những điều cần tránh khi đọc cáo trạng: 

Kiểm sát viên hết sức tránh biểu lộ hất hoảng, lo lắng, sợ hãi, biểu lộ vẻ mặt quá căng thẳng, nặng nề, chân tay run rẩy, giọng nói run, mệt mỏi, ngái

ngủ, ngáp dài. Tuyệt đối không được để xảy ra tình trạng nói

"ngọng , nói "/ắp", không đọc ê a, kéo dài. Kiểm sát viên phải rèn

luyện cho mình cách đọc vừa phải, không được đọc nhỏ, đọc lí nhí

và không nên đọc nhanh, đọc vội vàng, đọc quá to hoặc đọc một

mạch liên tục sau đó mệt dần và phần cuối tỏ ra mệt mỏi, đọc rời

rạc, có lúc đọc không rõ lời. Tuy nhiên, cũng tránh tình trạng đọc

đều đều gây buồn ngủ cho người nghe.

                  

                c- Trình bày ý kiến bổ sung

 

Khi trình bày ý kiến bổ sung Kiểm sát viên cần lưu ý: Những

ý kiến bổ sung được trình bày nhằm làm rõ hơn nội dung bản cáo

trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố và nhằm giải quyết những gì

mới phát sinh trong giai đoạn chuẩn bị xét xử của Toà án. Ví dụ,

trong quá trình chuẩn bị xét xử mà Kiểm sát viên thấy có căn cứ

khẳng định bị cáo đã khắc phục được hậu quả thiệt hại do hành vi

phạm tội gây ra, hoặc cung cấp thêm các tài liệu chứng minh gia

đình bị cáo là gia đình có công với cách mạng như bản thân hoặc

bố, mẹ . . . được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng

từ bằng khen trở lên vì có thành tích trong chiến đấu, sản xuất,

đấu tranh phòng chống tội phạm, hoặc qua phúc cung thì bị cáo

nhận tội mà trước đây không nhận tội. . . thì Kiểm sát viên có thể

trình bày thêm. Tuy nhiên, Kiểm sát viên không nên lạm dụng vấn

đề trình bày bổ sung để đưa ra những vấn đề không có lợi cho bị

cáo so với bản cáo trạng đã truy tố.

Ví dụ, bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội cướp tài sản

theo khoản 1 Điều 133 BLHS, nhưng khi phát biểu bổ

sung thì Kiểm sát viên lại truy tố theo điểm b khoản 2 Điều

133 - phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Như vậy là

Kiểm sát viên đã làm xấu đi trinh trạng của bị cáo và trong

trường hợp này nếu Toà án vẫn xét xử là vi phạm về giới

hạn của việc xét xử. Bởi vì, Điều 196 BỘ luật TTHS quy

định: "Toà án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi

theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và Toà án đã

quyết định đưa ra xét xử.

Toà án có thể xét xử bị cáo theo khung hình phạt khác

với khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng

một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội

mà Viện kiểm sát đã truy tố ?

           II.  KỸ NĂNG XÉT HỎI CỦA KIỂM SÁT VIÊN 

                              TẠI PHIÊN TOÀ

1. Ý nghĩa và tầm quan trọng trong việc xét hỏi tại phiên toà.

Có thể nói, giai đoạn xét hỏi là giai đoạn trung tâm của quá

trình xét xử vụ án hình sự. Đây là giai đoạn phải thẩm tra tất cả

các chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập. Đặt vấn đề xét hỏi là

giai đoạn trung tâm, quan trọng của quá trình xét xử là xuất phát

từ quy định của Bộ luật TTHS: Các chứng cứ của vụ án phải được

kiểm tra, đánh giá với nhiều chủ thể tham gia một cách công khai,

dân chủ, khách quan theo một trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS

quy định. Xét hỏi tại phiên toà là thẩm tra toàn bộ lời khai tại Cơ

quan điều tra của bị cáo, người bị hại, người làm chứng, người có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bị thiệt hại, bị đơn dân sự,

nguyên đơn dân sự; các lời khai đó không những được thẩm tra lại

mà còn được đối chiếu giữa các lời khai với nhau, đối chiếu với vật

chứng, tài liệu đã thu thập được với kết luận của Giám định viên.

Trên cơ sở đó, so sánh, lựa chọn, đánh giá một cách toàn diện,

khách quan, dân chủ các chứng cứ nhằm tìm ra sự thật của vụ án.

Đối với Kiểm sát viên thì việc tiến hành xét hỏi tại phiên toà

vừa là phương thức thực hành quyền công tố, vừa là trách nhiệm

của cơ quan chứng minh, kiểm tra lại toàn bộ chứng cứ một cách

công khai, chứng minh mọi luận điểm nêu trong cáo trạng bằng

việc chủ động xét hỏi, đưa ra các chứng cứ để bảo vệ cáo trạng và

đồng thời góp phần cùng Hội đồng xét xử làm rõ sự thật của vụ án.

Chất lượng xét xử vụ án cao hay thấp, phiên toà có bảo đảm tính

dân chủ, công bằng hay không, vai trò của Hội đồng xét xử nói

chung và Kiểm sát viên nói riêng có được phát huy hay không phụ

thuộc rất lớn vào phương pháp, nội dung và năng lực xét hỏi của

các thành viên của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên và những người

tham gia tố tụng. Tuy nhiên, trong thời gian qua bên cạnh nhiều

Kiểm sát viên làm tốt nhiệm vụ xét hỏi vẫn còn một số Kiểm sát

viên chưa làm tốt trách nhiệm của mình trong việc xét hỏi tại

phiên toà, không chủ động xây dựng đề cương xét hỏi, còn có tư

tưởng ỷ lại Hội đồng xét xử, thậm chí, có trường hợp khi Chủ toạ

nhắc Kiểm sát viên mới hỏi và chất lượng hỏi không sâu. Vì vậy,

các Kiểm sát viên phải chuẩn bị thật kỹ nội dung xét hỏi và không

ngừng học tập, nâng cao trình độ, tăng cường trách nhiệm để làm

cho chất lượng xét hỏi tại phiên toà ngày càng tốt hơn, đáp ứng

được yêu cầu cải cách hoạt động tư pháp hiện nay.

2. Nguyên tắc xét hỏi của Kiểm sát viên

a- Kiểm sát viên hỏi sau Hội đồng xét xử.

Theo quy định tại Điều 207 Bộ luật TTHS thì trình tự

xét hỏi tại phiên toà được thực hiện như sau:

"1. Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các tình tiết về

từng sự việc và về từng tội của vụ án theo thứ tự xét hỏi

hợp lý.

2. Khi xét hỏi từng người, chủ toạ phiên toà hỏi trước rồi

đến các Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào

chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Những người

tham gia phiên toà cũng có quyền đề nghị với chủ toạ

phiên toà hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ.

Người giám đinh được hỏi về những vấn đề có liên quan

đến việc giám định . . . "

Như vậy theo quy định trên đây thì chủ toạ phiên toà hỏi trước

rồi đến các Hội thẩm nhân dân sau đó đến Kiểm sát viên... Quy

định như vậy không có nghĩa là trách nhiệm xét hỏi tại Toà án chủ

yếu là Hội đồng xét xử mà quy định như vậy là để bảo đảm trình

tự xét hỏi, thứ tự trước sau nhằm bảo đảm trật tự phiên toà. Vì

vậy, khi chủ toạ, Hội thẩm đang hỏi, Kiểm sát viên không được hỏi

chen vào, hỏi cắt ngang. Gặp tình huống những người đặt câu hỏi

không vô tư, khách quan, có tính chất mớm cung, hoặc người bào

chữa cho bị cáo này lại truy bức bị cáo kia, hoặc có những lời nói có

tính chất xúc phạm người khác như: khi bào chữa cho bị cáo có

hành vi hiếp dâm nạn nhân thì người bào chữa có nói: trong lều chỉ

có hai người thì "có chúa mới biết được", hoặc khi người bị hại trong

vụ hiếp dâm bị thương tích thì người bào chữa cho bị cáo lại dùng

từ "Đó là sự tận hưởng khoái cảm"... thì Kiểm sát viên cần có "phản

ứng ngay" bằng cách giơ tay xin chủ toạ phiên toà được trình bày

ý kiến. Tuy nhiên, việc phản ứng trong các trường hợp này Kiểm

sát viên cần tính toán kỹ để có tác dụng ổn định phiên toà, nếu

phản ứng mà làm cho phiên toà thêm căng thẳng thì cần cân nhắc

một cách thận trọng. Nguyên tắc này đòi hỏi Kiểm sát viên phải

tập trung theo dõi diễn biến hoạt động xét hỏi, lắng nghe chủ toạ

phiên toà, Hội thẩm và những người khác đặt câu hỏi và trả lời của

những người được hỏi để ghi chép và chuẩn bị cho mình câu hỏi

phù hợp với nội dung cần làm rõ.

b- Xét hỏi trên cơ sở diễn biên của phiên toà: Tuy đề cương đã

được Kiểm sát viên chuẩn bị trước khi ra phiên toà, nhưng để cho

việc xét hỏi được tất Kiểm sát viên phải chú ý theo dõi việc xét hỏi

của Hội đồng xét xử, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của

đương sự, để qua đó sàng lọc, sử dụng những lời khai của bị cáo,

người bị hại, người làm chứng, giám định viên. . . đã khai để lựa

chọn câu hỏi của mình cho phù hợp và làm căn cứ buộc tội hoặc tìm

ra những mâu thuẫn để tiếp tục đấu tranh làm rõ. Khoản 2 Điều

22 Quy chế số 12 1/2004/QĐ- VKSTC quy định: "Tại phiên toà Kiểm

sát viên theo dõi, ghi chép đầy đủ nội dung xét hỏi của Hội đồng xét

xử của người bào chữa và ý kiên trả lời của ngư được xét hỏi để

chủ động tham gia xét hỏi làm sáng tỏ hành vi của bị cáo, xác định

sự thật khách quan của vụ án". Về nguyên tắc, Kiểm sát viên phải

hỏi tất cả các tình tiết mà cáo trạng đã truy tố, không bỏ sót bất cứ

tình tiết nào, nhất là đối với các vụ án phức tạp, nhiều bị cáo, các

bị cáo khai mâu thuẫn với nhau . . . Tuy nhiên, đối với các trường

hợp đơn giản, rõ ràng, nếu thấy việc xét hỏi của Hội đồng xét xử đã

đầy đủ tội trạng của bị cáo và các tình tiết khác của vụ án đã được

làm rõ thì không nhất thiết phải hỏi thêm.

C Kết hợp xét hỏi với đôi chiêu các chứng cứ khác để bảo vệ cáo

trạng. 

Như trên đã đề cập, xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên toà

là để kiểm tra lại toà bộ chứng cứ đã được cáo trạng truy trưa Toà.

Do vậy, Kiểm sát viên phải nắm thật chắc các chứng cứ của hồ sơ

vụ án để khi xét hỏi kết hợp với đưa ra các chứng cứ để chứng

minh. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với những

trường hợp tại phiên toà các đối tượng được hỏi thay đổi lời khai.

Trong trường hợp này, Kiểm sát viên không chỉ chuẩn bị kỹ đề

cương xét hỏi mà còn phải chuẩn bị đầy đủ các tài liệu có liên quan

để viện dẫn. Trên cơ sở dự báo những diễn biến tại phiên toà mà

Kiểm sát viên chuẩn bị các tài liệu phục vụ cho việc đấu tranh xét

hỏi tại phiên toà. Các tài liệu đó được sắp xếp đầy đủ, khoa học tại

hồ sơ Kiểm sát tiện cho việc tra cứu khi cần thiết. Các tài liệu đó

bao gồm: lời khai của bị can, người bị hại, bị đơn dân sự, nguyên

đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản khám

nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, biên bản phạm pháp

quả tang, kết luận giám định pháp y. . . và các tài liệu, chứng cứ

khác có liên quan như BLHS, BỘ luật TTHS, các văn bản quy

phạm pháp luật khác hoặc các văn bản hướng dẫn có liên quan

cũng cần chuẩn bị đầy đủ để viện dẫn tại phiên toà. Đối với các vụ

chương IV. Kỹ năng thực hành quyền công tố tại phiên toà HS sơ thẩm _

án mà bị cáo, người bị hại, người làm chứng thay đổi lời khai nếu

việc chuẩn bị không kỹ các tài liệu thì sẽ rất lúng túng khi xét hỏi.

Vì vậy, hồ sơ kiểm sát phải đầy đủ các tài liệu cần thiết để viện dẫn

tại phiên toà.

3. Phương pháp xét hỏi của Kiểm sát viên

Việc Kiểm sát viên chuẩn bị kỹ đề cương xét hỏi, theo dõi sát sao

diễn biến phiên toà và các câu hỏi, trả lời tại phiên toà là điều kiện

rất cần cho hoạt động thực hành quyền công tố. Tuy nhiên, để cho

việc xét hỏi của Kiểm sát viên trở thành nhân tố quan trọng bảo

đảm cho phiên toà thực sự công bằng, dân chủ, khách quan thì sự

chuẩn bị trên đây là vấn đề rất cần nhưng chưa đủ. Vấn đề quan

trọng ở chỗ là Kiểm sát viên phải có phương pháp xét hỏi khoa học.

Đây là sự kết hợp hài hoà giữa sự tài năng ứng xử của Kiểm sát viên

tại phiên toà và lòng đam mê nghề nghiệp công tố. Do vậy, khi đặt

câu hỏi Kiểm sát viên cần chú ý các phương pháp sau đây:

a - Đặt câu hỏi phải ngắn gọn, dễ hiểu: Đặt câu hỏi ngắn gọn,

dễ hiểu sẽ làm cho người được hỏi dễ tiếp thu và trả lời đúng chủ

ý của mình. Kiểm sát viên cần tránh việc xét hỏi quá phức tạp hoặc

mang tính giải thích dài dòng không cần thiết. Khoản 4 Điều 22

Quy chế số 121/2004/QĐ-VKSTC quy định: "Khi xét hỏi, Kiểm sát

viên phải đặt câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu, tránh giải thích kết luận

ngay". Thực tiễn có Kiểm sát viên khi xét hỏi, đặt câu hỏi phức tạp,

làm cho người được hỏi không hiểu nên phải giải thích dài dòng.

Cũng có trường hợp, Kiểm sát viên nặng về giáo dục, giải thích cho

bị cáo quá nhiều làm mất thời gian của phiên toà và không đúng

với chủ định của câu hỏi đặt ra. Khi đặt câu hỏi Kiểm sát viên cũng

cần chú ý giữa các câu hỏi phải có mối liên hệ với nhau nhằm làm

rõ hành vi, thủ đoạn, và hậu quả của tội phạm.

Thông thường các câu hỏi được Kiểm sát viên đặt ra cho người

được hỏi là: tường thuật lại những gì mà họ đã biết, đã nghe về các

tình tiết của vụ án; gợi mở những vấn đề liên quan đến vụ án; câu

hỏi bổ sung lời khai và câu hỏi nhằm bác bỏ về câu trả lời không

chính xác.

b- Câu hỏi về tường thuật: thứ nhất, nhằm kể lại những gì mà

người được hỏi đã biết, đã nghe về các tình tiết liên quan đến vụ

án; thứ hai, nhằm làm cho những người được hỏi kể lại, tường

thuật lại về những gì mà họ đã trực tiếp thực hiện, nhìn thấy. Ví

dụ, hỏi bị cáo về quá trình thực hiện hành vi phạm tội ra sao? hỏi

người bị hại bị hành vi phạm tội tấn công như thế nào? hỏi người

làm chứng nhìn thấy sự việc phạm tội diễn ra trong thực tế ra

sao?... Muốn cho loại câu hỏi này được trả lời đúng thì Kiểm sát

viên cần nắm chắc diễn biến hành vi phạm tội để nếu thấy người

trả lời không chính xác, hoặc trả lời dài dòng thì Kiểm sát viên lưu

ý người được hỏi phải trả lời chính xác và trả lời đúng câu hỏi,

tránh việc làm mất thời gian của phiên toà.

c- Câu hỏi gợi mở: là câu hỏi nhằm làm cho người được hỏi trả

lời những nội dung mà người đó biết, nhưng vì thời gian lâu nên

không còn nhớ. Thông thường câu hỏi gợi mở này nhằm làm cho

người được hỏi nhớ lại những gì đã xảy ra trước đây về thời gian,

địa điểm và sự việc diễn ra trong thực tế như thế nào.

Ví dụ, Vụ án Vu Chí Thiện phạm tội hiếp dâm Ô tỉnh Đ.

Để xác định chính xác tội danh của bị cáo thì phải làm

rõ ngày, tháng, năm sinh của người bị hại, tính đến ngày

xảy ra tội phạm (08.6.2004) người bị hại bao nhiêu tuổi.

Đây là tình tiết mà trong quá trình giải quyết vụ án có nhiều

quan khác nhau. Theo bà Bùi Thị Thường (mẹ người bị hại) khai không nhớ chính xác người bị hại sinh năm nào,lúc thì khai sinh năm 1990, lúc thì khai sinh năm 1993. Trong khi đó, kết luận của cơ quan giám định thì độ tuổi người bị hại lúc bị hiếp dâm là 13 năm 5 tháng đến 13 năm 11  tháng. Để có cơ sở xác đinh chính xác tuổi của người bị hại, cần đặt câu hỏi gợi mở với bà Bùi Thị Thường là lúc

sinh cháu (người bi hại) cùng quê có ai cùng sinh con hay

không. Bà Bùi Thị Thường khai lúc sinh cháu (người bị hại)

có chị Cổ Thị Thành là bạn có sinh con. Chị Cổ Thị Thành

khai khi sinh con vào năm 1993, thì chị Bùi Thị Thường

cũng sinh con. Từ lời khai của bà Bùi Thị Thường và Cổ

Thị Thành cùng với các chứng cứ khác có cơ sở kết luận

người bị hại sinh năm 1993. Tuy ngày, tháng sinh có chưa

thống nhất, nhưng nếu lấy ngày 01. 01. 1993 là ngày sinh

của người bị hại thì đến ngày phạm tội - 08. 6. 2004 người

bị hại mới 1 1 tuổi 6 tháng 7 ngày. Nghĩa là tính đến ngày

phạm tội, người bị hại chưa đủ 13 tuổi chứ không phải tuổi

như cơ quan giám định kết /uẩn. Do vậy, có căn cứ kết luận

bị cáo phạm tội theo khoản 4 Điều 112 Bộ luật hình sự (1).

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

d- Câu hỏi phản bác việc khai báo không đúng sự thật. Trong

hực tiễn xét xử, có nhiều trường hợp tại phiên toà người được hỏi

khai báo không đúng sự thật. Các trường hợp này thường xảy ra

đối với bị cáo vì sợ phải chịu hình phạt. Tuy nhiên, cũng có trường

hợp người bị hại, người làm chứng cũng khai không đúng sự thật.

Trong các trường hợp này, Kiểm sát viên cần đặt những câu hỏi để

người được hỏi trả lời về sự gian dối của mình, hoặc hỏi những

người khác để bác bỏ việc khai báo không đúng sự thật đó.

Ví dụ, Vụ án vu khống xảy ra ở thành phố Hà Nội. Theo

bị cáo khai người bị hại đã dùng tay đấm vào mặt nhiều cái

làm cho mặt bị cáo sưng nề. Trong lúc đó người bị hại khai

không hề dùng tay đấm bị cáo. Kiểm sát viên đã hỏi bị

cáo: Sau khi hai gia đình xích mích vào buổi trưa, chiều

hôm đó bị cáo đi đâu? Bị cáo khai ở nhà và làm một số

việc Vậy bị cáo vào viện lúc nào? Bị cáo đáp khoảng 19

giờ vào viện Sanh-pôn. Tại sao bị đấm vào trưa mà đến tối

mới vào viện? Tối đó mới bị đau. Kiểm sát viên kết luận:

có hai người làm chứng khai là khi sự việc xảy ra, có hỏi bị

cáo có bi đánh không thì bị cáo nói không bị đánh. Lời khai

của người làm chứng phù hợp với bị cáo nói là có bi đánh

nhưng không đau, phù hợp với nội dung đơn viết của bị

cáo trình bày với Công an lúc đó là bị đập phá tài sản,

không hề nói bị đánh. Mặt khác, vấn đề đặt ra là tại sao bị

đánh vào buổi trưa mà tối mới vào viện? Từ đó Kiểm sát

viên tiếp tục hỏi. Theo bệnh án thì vết bầm tím trên mặt bị

cáo rất nặng, tại sao lúc bị đấm lại không đau? Tại sao

đến chiều mới sưng như vậy? Bị cáo ấp úng nói không

hiểu. Trên cơ sở kết quả giám định vết sưng nề trên mặt bị

cáo Kiểm sát viên đặt câu hỏi. Theo giám định thi trên mặt

của bị cáo như má, mặt sưng nề đều nhau, trừ trán, mũi,

mồm, cầm, răng, lợi bình thường. Theo quy luật của tự

nhiên, khi có vật tày tác động vào mặt thì chỗ nào nhô cao

sẽ bị tổn thương nhiều nhất như mũi, mắt, môi, cầm,

nhưng đối với mặt của bị cáo thì những nơi lõm, lồi sưng

đều nhau. Nếu theo bị cáo, người bị hại dùng tay đấm

nhiều quả vào mặt thì tại sao những chỗ nhô ra cao hơn

như môi, mũi, mắt, cụm lại không bị sưng nề? Trong khi

đó hai má và trán lại bị sưng đều nhau. Đề nghị bị cáo

khai lại cho chính xác. Khi hỏi đến đây thì bị cáo không trả

lời Tiếp đó Kiểm sát viên yêu cầu giám định viên phát biểu

kết quả Giám định vết thương trên mặt bị cáo. Giám đinh

viên khẳng đinh: Khi vật tày tác động lên mặt thi nơi bị tổn

thương trước hết phải là mũi, cầm, môi, mi mắt. Nhưng

việc sưng nề chỉ xuất hiện tại hai bên má, của bi cáo và

các vết sưng nề đó rất đều nhau. Điều đó chứng tỏ vất

thương sưng nề trên mặt bị cáo không phải do vật tày gây

nên. Vết thương sưng nề đó không loại trừ do tác động của

một loại chất hoá học hoặc vật lý gây nên. Hội đồng giám

định đã kết luận bị cáo Phúc đã "giả thương . Trên cơ sở

đó Kiểm sát viên kết luận: vất thương trên mặt bị cáo là do

bị cáo tự thương. Nói đến đây mặt bi cáo tái nhợt và mắm

môi im lặng.

đ- Câu hỏi bổ sung: Cũng có nhiều trường hợp tại phiên toà bị

cáo người bị hại, người làm chứng trả lời các câu hỏi của Kiểm sát

viên không chính xác về thời gian, địa điểm, nội dung sự việc.

Trong trường hợp này Kiểm sát viên tiếp tục đặt ra các câu hỏi để

người được hỏi trả lời cho chính xác. Kiểm sát viên có thể đặt các

câu hỏi đối với người khác để bổ sung cho chính xác. Yêu cầu của

câu hỏi loại này đặt ra là Kiểm sát viên phải hết sức chú ý, nhanh

nhạy phát hiện những mâu thuẫn, những thiếu sót của lời khai để

hỏi bổ sung nhằm làm cho người được hỏi khai đúng với sự thật

khách quan.

4. Thái độ xét hỏi của Kiểm sát viên

Khi đặt câu hỏi Kiểm sát viên phải thể hiện thái độ ứng xử có

văn hoá, ôn tồn, lịch sự. Vì thái độ của Kiểm sát viên như vậy sẽ

tạo cho phiên toà dân chủ, cởi mở, khơi dậy thái độ ăn năn, hối cải

khai đúng sự thật của bị cáo và những người có liên quan. Trong

trường hợp, bị cáo, người bị hại, người làm chứng khai ra tình tiết

mới hoặc phủ nhận lời khai trước đây, thì Kiểm sát viên không

được chủ quan vội vàng bác bỏ ngay hoặc quát tháo, nạt nộ, áp đảo

người trình bày. Do vậy, nếu xảy ra các trường hợp này Kiểm sát

viên phải hết sức bình tĩnh, kiểm tra lại một lần nữa với thái độ

khiêm tốn, khách quan, thận trọng; nếu những tình tiết đó là có

căn cứ thì chấp nhận, nếu không có căn cứ thì bác bỏ, nếu cần xác

minh thì đề nghị hoãn phiên toà. Khoản 3 Điều 22 Quy chế số

121/2004/QĐ-VKSTC quy định: "Khi có người tham gia tô' tụng

xuất trình tài liệu mới tại phiên toà, Kiểm sát viên cần kiểm tra và

xét hỏi về nguồn gốc, nội dung tài liệu đó đê có kết luận chính xác.

Trường hợp cháu đủ điều kiện kết luận mà tài liệu mà đó có thể

làm thay đổi nội dung, tính chất vụ án thì Kiểm sát viên đề nghị

Hội đồng xét xử hoãn phiên toà đê xác minh".

Kiểm sát viên không được đặt câu hỏi xúc phạm đến bị cáo,

người bị hại, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự,

nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự. Quá trình xét hỏi, Kiểm sát viên

có thể gặp các trường hợp khai không chính xác về các tình tiết,

trong các trường hợp này, cần dùng các chứng cứ khác để chứng

minh bác bỏ quan điểm sai trái đó. Khi Kiểm sát viên hỏi mà bị

cáo, người bị hại, người làm chứng và những người tham gia phiên

toà khác là khai không nghe, không thấy, không hiểu... thì Kiểm

sát viên không được nổi nóng và không được hỏi họ với những câu

như: bị cáo có bị điếc không? không có mắt à? chỉ có những ngư

kém hiểu biết mới không nhận thức ra vấn đề. . . Đó là những từ làm

xúc phạm người được hỏi, sẽ tạo ra không khí căng thẳng không

đáng có tại phiên toà .

Phương pháp xưng hô tại phiên toà. Thực tiễn xét xử cho thấy:

việc xưng hô giữa bị cáo với Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên chưa

thống nhất. Có phiên toà Kiểm sát viên gọi bị cáo là anh, chị hoặc

ông bà, cô chú, em, cháu. . . Thậm chí, có Kiểm sát viên lại gọi bị cáo

là "các vị , Có phiên toà bị cáo xưng hô với Kiểm sát viên là tôi. Đây

là nội dung chưa được Bộ luật TTHS quy định, các ngành chưa

hướng dẫn nên có tình trạng như trên là điều dễ hiểu và trong thực

tiễn cũng có sự nhận thức không thống nhất. Bộ luật TTHS đã quy

định trong giai đoạn điều tra người phạm tội gọi là bị can, trong

giai đoạn xét xử gọi là bị cáo. Vì vậy, theo chúng tôi, khi thực hành

quyền công tố tại toà, Kiểm sát viên nên xưng hô đối với mình là

tôi đối với người phạm tội là bị cáo.

Còn đối với người bị hại, người bị thiệt hại, nguyên đơn dân sự,

bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là

những người có những quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nên

xưng hô với mình là tôi và gọi họ là ông, bà, anh, chị, em . . . và họ,

tên của họ. Ví dụ, đối với nguyên đơn là Hoàng Chung Thuỷ thì

Kiểm sát viên có thể hỏi: Bà Hoàng Chung Thuỷ cho Toà biết về

những yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với bà như thế nào?

 

5. Công bố những lời khai tại Cơ quan điều tra

Điều 208 Bộ luật TTHS quy định về việc công bố

những lời khai tại Cơ quan điều tra:

"1. Nếu người được xét hỏi có mặt tại phiên toà thì Hội

đồng xét xử và Kiểm sát viên không được nhắc hoặc công

bố lời khai của họ tại Cơ quan điều tra trước khi họ khai tại

phiên toà về những tình tiết của vụ án. ~

2. Chỉ được công bố những lời khai tại Cơ quan điều tra

trong những trường hợp sau đây:

a) Lời khai của người được xét hỏi tại phiên toà có mâu

thuẫn với lời khai của họ tại Cơ quan điều tra;

b)Người được xét hỏi không khai tại phiên toà;

c) Người được xét hỏi vắng mặt hoặc đã chết .

Như vậy, về nguyên tắc, trong quá trình xét hỏi, Hội đồng xét

xử và Kiểm sát viên phải để cho người được xét hỏi trình bày các

tình tiết liên quan đến tội phạm, không được nhắc lại lời khai của

họ tại Cơ quan điều tra. Như vậy, sẽ bảo đảm tính khách quan của

lời khai.

Thực tiễn có trường hợp tại Cơ quan điều tra, có người khai rất

chính xác về các tình tiết của vụ án, nhưng tại phiên toà họ lại

không khai, hoặc có khai nhưng mâu thuẫn với lời khai của họ tại

Cơ quan điều tra. Đối với trường hợp này và trường hợp người được

xét hỏi lại vắng mặt tại phiên toà, thì lời khai của họ tại Cơ quan

điều tra cần phải được công bố tại phiên toà.

Điều luật trên đây chưa được quy định cụ thể ai là người công

bố các lời khai này. Thực tiễn cho thấy việc công bố những lời khai

tại Cơ quan điều tra có thể do Hội đồng xét xử hoặc Kiểm sát viên

công bố.

Ngoài ra, trong nhiều vụ án còn có các báo cáo, nhận xét củ('

cơ quan tổ chức về các tình tiết, nhân thân của bị cáo. Các tài liệu

này có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định sự thật của vụ án. Do

vậy nếu đại diện cơ quan vắng mặt tại phiên toà, thì Kiểm sát viên

đề nghị Hội đồng hoặc tự mình công bố các tài liệu này theo đúng

quy định tại Điều 214 Bộ luật TTHS về "Việc trình bày, công bôlcác

tài liệu của vụ án và nhận xét, báo cáo của cơ quan, tổ chức".

6. Những nội dung cụ thể trong việc xét hỏi của Kiểm sát viên

 

a) Xét hỏi bi cáo

Điều 209 BỘ luật TTHS quy định:

"1. Hội đồng xét xử phải hỏi riêng từng bị cáo. Nếu lời

khai của bị cáo này có thể ảnh hưởng đến lời khai của bị cáo

khác thì chủ toạ phiên toà phải cách ly họ. Trong trường hợp

này, bị cáo bị cách ly được thông báo lại nội dung lời khai

của bị cáo trước và có quyền đặt câu hỏi đối với bị cáo đó.

2. Bị cáo trinh bày ý kiến về bản cáo trạng và những

tình tiết của vụ án. Hội đồng xét xử hỏi thêm về những

điểm mà bi cáo trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn.

3. Kiểm sát viên hỏi về những tình tiết của vụ án liên

quan đến việc buộc tội, gỡ tội bi cáo. Người bào chữa hỏi

về những tình tiết liên quan đến việc bào chữa, người bảo

vệ quyền lợi của đương sự hỏi về những tỉnh tiết liên quan

đến việc bảo vệ quyền lợi của đương sự. Những người

tham gia phiên toà có quyền đề nghị với chủ toạ phiên toà

hỏi thêm về những tình tiết liên quan đến họ.

4. Nếu bị cáo không trả lời các câu hỏi thì Hội đồng xét

xử Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi

của đương sự tiếp tục hỏi những người khác và xem xét vật

chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án .

Từ quy định trên đây có thể rút ra những vấn đề cần lưu ý

như sau:

Thứ nhất là nguyên tắc cách ly bị cáo.

Thông thường trong nhiều vụ án có đông người tham gia, nhất

là vụ án đồng phạm, giữa các bị cáo khai báo mâu thuẫn với nhau,

giữa các bị cáo có ảnh hưởng với nhau (như giữa bị cáo nguyên là

thủ trưởng với bị cáo nguyên là nhân viên, hoặc giữa bị cáo có quan

hệ họ hàng...) thì lời khai của họ sẽ có ảnh hưởng nhất định với

nhau. Vì vậy, nếu để họ ở lại phòng xử án thì lời khai của họ sẽ

không khách quan. Do vậy, trong trường hợp này phải có biện

pháp cách ly họ.

Như vậy, đối với các vụ án có nhiều bị cáo thì về nguyên tắc dù

Kiểm sát viên hay Hội đồng xét hỏi thi phải hỏi từng bị cáo. Thực

hiện nguyên tắc này sẽ không những đảm bảo trật tự phiên toà mà

vấn đề quan trọng hơn là tạo cơ hội để người được hỏi trình bày

một cách dân chủ, khách quan, chính xác nội dung khai báo, không

bị bất cứ sức ép nào. Tuy nhiên, việc hỏi ai trước, ai sau, cách ly

như thế nào là tuỳ thuộc vào tính chất của từng vụ án. Thông

thường, những bị cáo có lời khai tại Cơ quan điều tra trung thực,

thật thà, hối cải thì nên xét hỏi trước, nếu các bị cáo đều nhận tội

thì hỏi bị cáo cầm đầu, chủ mưu trước, các bị cáo có vai trò thực

hiện hỏi sau. Đây là các vấn đề Kiểm sát viên có thể trao đổi trước

với chủ toạ phiên toà để đảm bảo cho phiên toà được xét xử tốt.

Vì vậy, sau khi Kiểm sát viên đọc xong bản cáo trạng, bắt đầu

xét hỏi bị cáo, nếu chủ toạ phiên toà chưa thực hiện việc cách ly bị

cáo thì Kiểm sát viên cần yêu cầu cách ly bị cáo. Trong trường hợp

tại phiên toà thấy lời khai của bị cáo này có ảnh hưởng đến lời khai

của bị cáo khác, thì Kiểm sát viên đề nghị chủ toạ phiên toà cho

tiến hành cách ly các bị cáo, nhằm đảm bảo việc xét hỏi được khách

quan, chính xác. Tuy nhiên, đối với bị cáo bị cách ly có quyền được

thông báo nội dung khai báo của bị cáo trước và có quyền nêu câu

hỏi đối với bị cáo trước về nội dung lời khai của họ.

Thứ hai là trình tự trả lời của bị cáo.

Trước hết, Hội đồng đặt câu hỏi yêu cầu "bị cáo trình bày ý kiên

về bản cáo trạng ' (khoản 2 Điều 209 Bộ luật TTHS). Nghĩa là, sau

khi Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng, bị cáo được trình bày ý kiến của

mình về nội dung bản cáo trạng đề cập đến trách nhiệm của mình

trong vụ án. Nội dung trình bày ý kiến có thể là đồng ý hoặc không

đồng ý với nội dung bản cáo trạng về trách nhiệm của mình. Bị cáo

đồng ý hoặc không đồng ý về nội dung nào cũng được trình bày rõ.

Sau khi trình bày ý kiến của mình về bản cáo trạng, bị cáo có

thể trình bày những tình tiết của vụ án. Nghĩa là, ngoài nội dung

trình bày ý kiến của mình về bản cáo trạng, bị cáo có quyền trình

bày những tình tiết khác của vụ án mà mình thấy cần thiết. Ví dụ,

ngoài các tình tiết liên quan đến bị cáo mà bị cáo đã trình bày, còn

các tình tiết khác như hành vi của bị cáo khác tuy không liên quan

đến mình nếu bị cáo biết thì cũng có quyền trình bày. Quy định này

của pháp luật (Khoản 2 Điều 209 Bộ luật TTHS) thể hiện tính chất

dân chủ của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Theo quy định

của pháp luật tố tụng hình sự, bị cáo được tống đạt cáo trạng trước

khi đưa vụ án ra xét xử, do vậy, thực tiễn đã có nhiều vụ án, để đảm

bảo thời gian xét xử, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên chỉ yêu cầu

bị cáo trình bày đồng ý hay không đồng ý với nội dung của bản cáo

trạng, điểm nào không đồng ý thì trình bày thêm. Còn các tình tiết

khác thì yêu cầu bị cáo trình bày ở phần tranh luận. Theo chúng

tôi, nếu vì thời gian mà tiến hành xét hỏi như vậy là chưa tạo được

cơ hội cho bị cáo trình bày những vấn đề mà bản cáo trạng đã truy

tố họ, không đảm bảo tính dân chủ, công bằng trong xét xử. Quy

định như khoản 2 Điều 209 Bộ luật TTHS là bảo đảm quyền bình

đẳng của bị cáo, góp phần cùng Hội đồng xét xử đánh giá khách

quan và đúng sự thật. Nếu vì lý do thời gian thì trước khi xét xử,

tuỳ thuộc vào tính chất của từng vụ án, Kiểm sát viên cần lưu ý với

Hội đồng xét xử về bố trí thời gian xét xử phù hợp, bảo đảm vụ án

được xét xử vừa chính xác, đúng sự thật và đúng thời gian.

Sau phần trình bày của bị cáo, Hội đồng xét xử hỏi thêm về

những nội dung mà bị cáo chưa trả lời đầy đủ hoặc có mâu thuẫn.

Thứ ba là nội dung xét hỏi bị cáo của Kiểm sát viên:

Nội dung xét hỏi của Kiểm sát viên đã được khoản 3 Điều 209

Bộ luật TTHS quy định. Đây là quy định mới của Bộ luật TTHS, thể

hiện trách nhiệm của Kiểm sát viên với vai trò là người thực hành

quyền công tố, không những bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng

tội, đúng pháp luật, mà còn góp phần cùng Hội đồng xét xử bảo đảm

việc xét xử là công khai, dân chủ, công bằng. Kiểm sát viên thực

hành quyền công tố không chỉ là người buộc tội mà còn là người gỡ

tội cho bị cáo. Do vậy, tại phiên toà, Kiểm sát viên không được thoả

mãn với bản cáo trạng đã được công bố, mà ngược lại, Kiểm sát viên

phải chủ động xét hỏi để chứng minh một cách công khai quá trình

điều tra, thu thập chứng cứ trong giai đoạn điều tra, đồng thời qua

đó góp phần cùng Hội đồng xét xử làm rõ sự thật các tình tiết của

vụ án. Nếu bản cáo trạng phản ánh đúng sự thật của hành vi phạm

tội, dù bị cáo không nhận tội, Kiểm sát viên phải sử dụng các tài

liệu chứng cứ, đấu tranh xét hỏi, làm rõ sự thật, để bảo vệ cáo

trạng. Tuy nhiên, qua xét hỏi tại phiên toà, nếu có căn cứ cho rằng

việc truy tố chưa khách quan, thì có quyền thay đổi quan điểm truy

tố theo đúng quy định của pháp luật. Đây cũng là bản chất của công

tố nước ta, kiên quyết trừng trị người phạm tội, hành vi phạm tội

như thế nào thì phải được xử theo pháp luật tương ứng, không được

để lọt tội; ngược lại, nếu phát hiện oan sai thì phải hết sức cầu thị

và khẩn trương khắc phục sai sót, bảo vệ kịp thời các quyền hợp

pháp của công dân, kiên quyết không được làm oan người vô tội.

Tuy nhiên, trong thực tiễn vừa qua cho thấy, các Kiểm sát viên

của chúng ta mới chỉ tập trung xét hỏi bị cáo về các chứng cứ buộc

tội theo cáo trạng đã truy tố. Nhất là đối với các vụ án mà bị cáo

thay đổi lời khai thì có Kiểm sát viên cho đó là tình tiết không

thành khẩn khai báo, các tình tiết giảm nhẹ, gỡ tội cho bị cáo

không được chú ý xét hỏi, làm rõ. Ví dụ, về vụ án " Giết người Ở

Vườn Điều Ở tỉnh B", vụ "Phạm Thị út ở thành phẩm ' có rất nhiều

chứng cứ gỡ tội cho bị cáo nhưng không được Kiểm sát viên xét hỏi

chứng minh. V các Kiểm sát viên không có phương pháp hỏi khách

quan, chỉ tập trung chú ý hỏi về căn cứ buộc tội nên vụ án được giải

quyết sai, làm oan người vô tội. Vì vậy, khoản 3 Điều 209 Bộ luật

TTHS lần này quy định mới về trách nhiệm không những của

Kiểm sát viên mà còn quy định cả trách nhiệm của người bào chữa,

người bảo vệ quyền lợi của đương sự về việc hỏi những vấn đề liên

quan đến trách nhiệm bảo vệ của mình, những người tham gia

phiên toà cũng có quyền đề nghị với chủ toạ phiên toà hỏi thêm

những tình tiết liên quan đến với họ. Đây là quy định mới và rất

quan trọng đối với trách nhiệm của Kiểm sát viên. Để thực hiện

quy định này như phần trên đã phân tích, Kiểm sát viên phải chú

ý theo dõi chặt chẽ quá trình xét hỏi của Hội đồng xét xử và trả lời

của bị cáo đặt các câu hỏi cho phù hợp. Kiểm sát viên hết sức tránh

việc khi Hội đồng xét xử hỏi thì Kiểm sát viên không chú ý, nên

những nội dung đã được Hội đồng xét hỏi kỹ và việc trả lời của bị

cáo cũng đã rõ ràng, không có gì phức tạp, Kiểm sát viên lại tiếp

tục hỏi làm mất thời gian của phiên toà.

Trong trường hợp vì lý do nào đó mà bị cáo không trả lời các

câu hỏi của Kiểm sát viên thì theo khoản 4 Điều 209 Bộ luật

TTHS, Kiểm sát viên "tiếp tục hỏi những người khác và xem xét vật

chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án".

 

Thứ tư là một sô/tình huống thường xảy ra khi xét hỏi bị cáo

Trong quá trình xét hỏi, Kiểm sát viên cần lưu ý các tình huống

có thể xảy ra: các bị cáo không trả lời, các bị cáo không nhận tội,

các bị cáo khai mâu thuẫn với các chứng cứ khác.

- Trường hợp bị cáo không trả lời. Theo khoản 4 Điều 209 BỘ

luật TTHS, nếu bị cáo không trả lời thì Kiểm sát viên "tiếp tục hỏi

những người khác và xem xét vật chứng, tài liệu có liên quan đến

vụ án". Quy định như vậy là để bảo đảm thời gian xét xử của Toà

án. Tuy nhiên, Kiểm sát viên cũng lưu ý khi hỏi người khác xong

thì quay lại tiếp tục hỏi bị cáo. Lần hỏi này Kiểm sát viên cần dùng

những chứng cứ khác để đấu tranh với bị cáo.

- Trường hợp bị cáo không nhận tội, phản cung. Tình huống

này thường gặp trong các vụ án phức tạp, nhiều bị cáo tham gia,

vụ án có luật sư tham gia bào chữa. Trong trường hợp này Kiểm

sát viên phải bình tĩnh sử dụng các chứng cứ khác có trong hồ sơ

vụ án và các tài liệu được xét hỏi tại phiên toà để đấu tranh

thuyết phục bị cáo.

Ví dụ 1, Vụ án Bùi Khác Hoan, Trương Huy Chính,

Quách Văn Y phạm tội cướp tài sản.

Ba bị cáo trên đã có hành vi chặn xe Ô tô chở gỗ vào

ban đêm xin tiền lái xe (trên xe Ô tô có lái xe và phụ xe).

Sau khi chặn được, Chính nhảy lên ca bin xin tiền và túm

cổ áo lái xe doạ cho ra khỏi khu vực, y nhặt đá ném vỡ đèn

xe vì lái xe chần chừ và cho ít tiền nên Chính không lấy,

trong khi đó phụ xe phát hiện ra Chính là người quen. Tại

phiên toà sơ thẩm, các bị cáo chối tội, trong lúc đó luật sư,

bị cáo và Hội đồng xét xử có ý kiến nghiêng về kết tội các

bị cáo phạm tội cưỡng đoạt tài sản. Vì, theo quan điểm

này, "người bị hại chưa lâm vào tình thế tê ẹt ý chí? Tuy

nhiên, do có sự chuẩn bị kỹ từ trước và dự kiến chính xác

các tình huống có thể xảy ra, Kiểm sát viên đã xét hỏi, làm

rõ ý thức chủ quan của từng bị cáo, làm rõ những mâu

thuẫn của các lời khai của bị cáo, cuối cùng các bị cáo đã

thừa nhận: "Có nói là đang lên cơn nghiện, cần tiền', các

bị cáo đã thừa nhận có hành vi đập phá xe Ô tô, bắt đưa

tiền, túm cổ áo lái xe vời thái độ dữ dằn và đe doạ vào ban

đêm. Thực tế người bị hại đã lâm vào tình trạng không thể

chống cự được và đã buộc phải đưa tiền. Từ cách xét hỏi

và phân tích của Kiểm sát viên, cuối cùng các bị cáo đã

nhận tội và Toà án đã tuyên bố các bị cáo phạm tội như

quan điểm của Kiểm sát viên đã kết tội(1)

Đồng thời, Kiểm sát viên cần hỏi những người làm chứng về

tình tiết liên quan đến các câu hỏi đã hỏi bị cáo (tất nhiên chỉ hỏi

người làm chứng nào khai báo chính xác), sau đó, Kiểm sát viên cho

xem xét các chứng từ, vật chứng để bác bỏ lời khai không chính xác

của bị cáo. Tiếp đó, Kiểm sát viên cần giải thích cho bị cáo biết lời

nhận tội của bị cáo trước đây đã được xác minh và khẳng định việc

bị cáo nhận tội là có căn cứ. Đồng thời, Kiểm sát viên hỏi bị cáo tại

sao trước đây bị cáo nhận tội với Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát

nay tại phiên toà bị cáo lại chối tội? Trong trường hợp bị cáo khai

do Điều tra viên bức cung, mớm cung thì Kiểm sát viên phải hỏi

tiếp là bức cung, mớm cung lúc nào, Ở đâu, ai là người thực hiện,

thực hiện như thế nào và tại sao khi Kiểm sát viên phúc cung thì

(1) Nguồn hồ sơ vụ án tại VKSNDTC

bị cáo không khai vấn đề này. Nghĩa là phải truy đến cùng về lời

khai phản cung của bị cáo. Sau đó, Kiểm sát viên đề nghị công bố

các tài liệu liên quan để bác bỏ lời khai không có căn cứ của bị cáo.

Ví dụ , Tại phiên toà sơ thẩm ngày 02. 02. 200 7, đối với

vụ án "quan tham" quận GÒ Vấp thành phố HỒ Chí Minh,

khi xét hỏi "vua địa chính" Dương Công Hiệp, Hiệp thừa

nhận quen biết Phạm Thị Tuyết Lan từ lúc có ý đinh tìm đất

nuôi bò. Từ đây chuyện làm ăn hợp tác kinh doanh địa

ốc mới được hình thành. Khi trả lời Hội đồng xét xử, Hiệp

khẳng định không "dính dáng" gì đến hành vi được cho là

đồng phạm giúp sức tích cực nhất trong hai phi vụ chuyển

nhượng đất mà Lan cùng cả nhóm đã trục lợi hơn 1 6, 6 tỷ

đồng. Trước thái độ khai báo không trung thực của bị cáo

Hiệp, Công tố viên hỏi: "Bị cáo biết Hồ Tùng Lâm và Lê

Minh Châu nâng giá hợp đồng chuyển nhượng. Bị cáo là

người hợp thức hoá hồ sơ này và được Lan chia 3, 1 tỷ

đồng. Cũng là người nhận tiền chuyển cho Trần Kim Long

và Lê Minh Châu. Như vậy, bị cáo có băn khoăn gì khi cơ

quan Công tố truy tố tội tham ô? . Hiệp đáp: "Thưa vẫn

còn băn khoăn . Vị công tố hỏi tiếp: "Bị cáo cùng các bị

cáo khác lấy tiền chênh lệch trong vụ chuyển nhượng rồi

chia nhau vậy không phạm tội tham Ô thì còn là gì'? Đến

đây Dương Công Hiệp mới tâm phục khẩu phục . Thưa,

Công tố viên giải thích, bị cáo không còn băn khoăn nữa!

Cũng trong ví dụ này, khi xét hỏi Nguyễn Văn Tính

nguyên Bí thư Quận uỷ Gò Vấp) về việc tiếp nhận đơn

của bà Nguyễn Thị Thu tố cáo Phạm Thị Tuyết Lan cấu

kết với Dương Công Hiệp sang nhượng trái phép phần đất

gia tộc của bà, bị cáo Tính cho biết, sau khi nhận đơn, đã

chuyển cơ quan chức năng xác minh. Nhưng bị cáo này đã

tỏ ra thiếu trung thực: "Bị cáo không hề chỉ đạo gì Viện

kiểm sát quận Gò Vấp là ông Trần Văn Tư, Viện trưởng

xác minh. Bởi cơ quan này không có chức năng giải quyết

khiếu kiện về đất đai!" Lúc này, Hội đồng xét xử đã phải

yêu cầu Thư ký toà án đọc bút lục của ông Trần Văn Tư là

người làm chứng vụ án: "Anh Tính đã trực tiếp gặp tôi giao

đơn từ tố cáo và còn dặn rằng khi điều tra có kết quả thì

báo riêng cho anh Tính biết'? Do vậy, nếu bị cáo chối tội,

Kiểm sát viên phải dùng các chứng cứ khác để "tấn công

liên tục . Do chuẩn bị tốt nên mặc dù bị cáo, người bào

chữa phản bác các chứng cứ mà cáo trạng đã truy tố,

Kiểm sát viên đã xét hỏi kỹ và đưa ra những chứng cứ để

chứng minh hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử đã nhất trí

theo đề xuất của Kiểm sát viên. Ngày 06.02.2007, sau 4

ngày xét xử, Hội đồng xét xử Toà án nhân dân thành phố

Hồ Chí Minh đã xác định các bị cáo có tội như Viện kiểm

sát truy tố và tuyên phạt bi cáo Phạm Thị Ti l\ ~ Lan tử hình

về tội tham ô; Trần Kim Long (nguyên Phó Bí thư kiêm Chủ

tịch Uỷ ban nhân dân Quận Gò Vấp 25 năm tù về 3 tội

tham ô, đưa hối lộ và lợi dụng chức vụ; Lê Minh Châu 22

năm tù; HỒ Tùng Lâm 1 8 năm tù; Nguyễn Văn Tính

(nguyên là Chủ tịch Hội đồng nhân dân kiêm Bí thư Quận

Gò Vấp) 1 1 năm tù; Dương Công Hiệp (nguyên là Phó

phòng quản lý đầu tư quận Gò Vấp 1 8 năm tù; Nguyễn

Minh Hoàng 5 năm tù (1).

-Trường hợp bị cáo thay đổi lời khai. Đối với trường hợp này

Kiểm sát viên cũng đối chiếu với các chứng cứ khác để đặt câu hỏi

bác bỏ lời khai không chính xác của bị cáo. Đồng thời, Kiểm sát

viên cần xác định trách nhiệm của bị cáo trước pháp luật và động

viên bị cáo khai báo thành khẩn để được hưởng chính sách khoan

hồng của pháp luật. Trong trường hợp này đáng chú ý nhất là bị

cáo phản cung, khai cho người khác. Đây là trường hợp phức tạp;

Kiểm sát viên phải nắm chắc chứng cứ để xét hỏi để bác bỏ lời khai

gian dối đó và dẫn chứng các lời khai người làm chứng và các tài

liệu khác để đấu tranh bác bỏ lời khai không chính xác của bị cáo.

Ví dụ, Vụ án Nguyễn Tấn Hưng cướp tài sản Ở thành

phố H.

Khoảng 4h 15 phút ngày 13. 4. 2006, chị Nguyễn Thị Hà

đi từ Đoàn tiếp viên về nhà (số 200/28/ 54 Nguyễn Sơn).

Khi đi qua ngách 200/10 cùng.phố thì bi một thanh niên

chương IV. Kỹ năng thực hành quyền công tố tại phiên toà HS sơ thẩm

dùng dao tông tấn công và cướp đi 01 đồng hồ đeo tay,

một máy điện thoại di động (số thuê bao 0912 445 324),

sợi giây chuyền bị giật đút rơi mất. Chị Hà bị 7 vết thương

(1) Báo Tiền phong ngày 03.02.2007

ở cổ ngực, tay và hai đùi, sức khoẻ bị tổn hại 62%. Sau

đó vụ án được khởi tố điều tra.

Thông qua số máy điện thoại Cơ quan điều tra đã xác

định các chủ thuê bao nhận cuộc gọi từ số thuê bao

09 1 2. 445. 324 và xác định chủ thuê  bao số máy trên là của

anh Trần Trọng Hoà trú tại 14/1 ngõ 12- Ngõ Chợ. Khi hỏi

thì anh Hoà khai khoảng 7h ngày 13.4.2006 Nguyễn Tiến

Hưng có nhặt được thẻ sim điện thoại khi đi thể dục và

đến cho anh Hoà. Ngày 26.4.2006, Cơ quan điều tra ra

lệnh truy nã Nguyễn Tiến Hưng. Ngày 29.6.2006 Hưng bị

bắt và khai nhận hành vi phạm tội như trên. Nhưng sau đó

Hưng đã phản cung cho rằng anh Hoà mới là thủ phạm

gây ra vụ cướp trên đây và thuê Hưng 20 triệu đồng để

nhận tội thay cho anh Hoà. Cơ quan điều tra đã điều tra

việc tiêu thụ thời gian của anh Hoà và Hưng, lấy lời khai

những người làm chứng, tổ chức cho chị Hà nhận diện. Kết

quả điều tra cho thấy: lời khai về ngoại phạm của Hưng là

mâu thuẫn với lời khai những người làm chứng và về tiêu

thụ thời gian của Hưng. Tại phiên toà Hưng vẫn giữ lời khai

ngày 12.4.2006 Hưng uống rượu tại nhà bà ngoại với các

cậu của Hưng, Hưng không tham gia hành vi phạm tội như

Viện kiểm sát truy tố. Kiểm sát viên đã đưa ra các câu hỏi

và dùng các chứng cứ khác để bác bỏ lời khai không chính

xác của Hưng. Đó là các lời khai của bà Tâm (bà ngoại

Hưng) và các ông Hải, ông Cường, ông Sỹ (là các cậu của

Hưng) khai ngày đó gia đình không có tổ chức ăn cơm như

Hưng khai. Lời khai của ông Hải (cậu Hưng) khai về việc

trưa 13.4.2006 Hưng có cởi trần đến nhà ông Hải để tắm

và mượn áo quần của ông mặc rồi đi luôn và ngày

29.6.2006 theo yêu cầu của Hưng ông Hải đã đưa Hưng

đến công an đầu thú. Đặc biệt Chị Hà và anh Chiến có mặt

tại hiện trường nhận diện người thực hiện hành vi cướp của

đối với chị Hà là Hưng.

Còn lời khai của anh Hoà thì Kiểm sát viên đã chứng

minh: anh Hoà khai khoảng 7h30 ngày 13.4.2006, Nguyễn

Tiến Hưng cởi trần, đi chân đất có đến gõ cửa nhà và cho

thẻ sim trên đây. Lời khai trên đây của anh Hoà phù hợp

với vợ anh Hoà và những người sống xung quanh nhà anh

Hoà. Trên cơ sở các chứng cứ được Kiểm sát viên viện

dẫn, Hội đồng xét xử đã nhất trí với xét hỏi của Kiểm sát

viên và đã tuyên phạt Hưng 20 năm tù về tội cướp(1 ).

- Trường hợp bị cáo không khai. Trường hợp này Kiểm sát

viên yêu cầu công bố lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Nếu

công bố lời khai tại Cơ quan điều tra, thì Kiểm sát viên chỉ yêu

cầu Hội đồng xét xử công bố những lời khai có ý nghĩa chứng

minh hành vi phạm tội của bị cáo. Đồng thời, yêu cầu Hội đồng

xét xử công bố các tài liệu khác có liên quan như lời khai người

làm chứng, các chứng từ, tài liệu khác, các vật chứng để chứng

minh hành vi phạm tội của bị cáo sau đó chuyển sang xét hỏi

người khác. "Nêu lời khai của bị cáo tại phiên toà mâu thuẫn với

lời khai của họ tại Cơ quan điều tra thì Kiểm sát viên nhắc lại

hoặc công bô/ lời khai của họ tại Cơ quan điều tra để bị cáo tự

khẳng định lại của lời khai nào là chính xác. Đồng thời, Kiểm sát

viên cũng cần hỏi rõ thêm vì sao bị cáo lại có sự khai báo khác

nhau để làm cơ sở cho việc xem xét, đánh giá sự trung thực, khách

quan trong lời khai của bị cáo.

Tuy nhiên, Kiểm sát viên chỉ cần nhắc lại những lời khai có

mâu thuẫn tại phiên toà, không cần nhắc lại toàn bộ các lời khai tại Cơ quan đieuè tra”(2)

Ví dụ 1, Vụ án Phạm Văn Thuỷ cùng đồng bọn phạm

tội cướp tài sản ở tỉnh Thành Hoá.

Khoảng ~ 6h 30 ngày 19. 6. 2005 tại tìm số 1 quốc lộ

217 thuộc địa phận xã Thiết Kế huyện Bá Thước tỉnh

Thanh Hoá, Phạm Văn Thuỷ cùng 3 tên khác dùng

thanh luồng đánh các em học sinh đi học về để lấy tiền.

Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đều nhận tội

như nội dung trên đây. Tuy nhiên, đến giai đoạn xét hỏi,

Luật sư bảo vệ quyền lợi cho các bị cáo đã xét hỏi các

bị cáo với hướng cho các bị cáo khai báo không có tội.

Các Luật sư cho rằng các bị cáo chỉ dùng thanh luồng

nhỏ, sự tương quan lực lượng giữa các bị cáo và người bị

hại ngang nhau nên các bị cáo không phạm tội cướp mà

hành vi đó chỉ cấu thành tội cường đoạt tài sản. Đồng

thời theo Luật sư, trong số các bị cáo tham gia vụ án

này có hai bị cáo dưới 16 tuổi nên không có căn cứ kết

(1)Nguồn hồ sơ vụ án tại VKSNDTC.

(2) Sổ tay KSV hình sự, tr.247

tội họ. Trên cơ sở cách hỏi theo hướng gỡ tội của luật sư,

các bị cáo bắt đầu thay đổi lời khai so với trước đây, lúc

nhận tội, lúc không nhận tội.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vụ án này đã

nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án và nắm chắc các tình tiết của

vụ án nên đã tiến hành xét hỏi, đấu tranh với các bị cáo

với thái độ kiên quyết và với phương pháp khoa học nên

đã góp phần làm rõ các tình tiết của tội cướp tài sản do các

bi cáo gây ra. Kiểm sát viên đã xét hỏi kỹ về việc các bị

cáo đã có hành vi dùng thanh luồng đánh các em học sinh

diễn ra nhưthếnào, trước các hành vi dùng thanh luồng của

bị cáo đánh các em thì các em học sinh sợ hãi ra sao, sau

đó các bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của các em học sinh

như thế nào. Trên cơ sở xét hỏi kỹ hành vi dùng bạo lực và

ý thức mục đích chiếm đoạt tài sản, kết hợp vận dụng bốn

yếu tố cấu thành tội phạm để thẩm vấn làm nổi bật tội cướp

tài sản của các bi cáo. Với cách xét hỏi khoa học và kiên

quyết của Kiểm sát viên, cuối cùng các bị cáo cúi đầu nhận

tội như cáo trạng đã truy tố và chỉ xin giảm nhẹ. Trên cơ sở

luận tội của Kiểm sát viên và quan điểm tranh luận của luật

sư Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã tuyên phạt các bi

cáo phạm tội cướp tài sản như quyết đinh truy tố của Viện

kiểm sát. Với cách xét hỏi như vậy không chỉ làm cho các bị

cáo nhận tội theo đúng hành vi phạm tội của mình mà còn

làm cho luật sư, người bị hại và những người tham dự phiên

toà thấy được nội dung truy tố, buộc tội của Kiểm sát viên

là có lý có tình, tâm phục, khẩu phục(1).

Ví dụ 2, Vụ án Trần Văn Thoát cùng 5 bị cáo có hành

vi dùng liềm cắt phá nhiều sào lúa non bị Viên kiểm sát

tỉnh H truy tố về tội huỷ hại tài sản theo Điều 143 BLHS.

Đây là vụ án phạm tội không quả tang, vụ án được

khám phá, bắt giữ lần theo các dấu vết theo phương pháp

truy xét. Trong giai đoạn điều tra, các bị cáo lúc đầu nhận

tội sau đó lại không nhận tội, đồng thời thuê luật sư bào

chữa Đây là vụ án mà luật sư tham gia rất tích cực và dư

luận báo chí rất quan tâm. Vụ án chưa kết thúc điều tra

nhưng các bị cáo đã có đơn kêu oan và có dư luận cho

rằng việc điều tra vụ án này thiếu khách quan và các bị

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

can bị bắt giam oan. Tuy nhiên, Kiểm sát viên đã bình tĩnh,

nghiên cứu kỹ các tình tiết của vụ án, nghiên cứu đầy đủ

các ý kiến của dư luận báo chí, trên cơ sở đó phân tích các

mâu thuẫn, giải quyết các mâu thuẫn đó, dự kiến các tình

huống xảy ra tại phiên toà và xây dựng đề cương xét hỏi

để làm rõ hành vi phạm tội của các bị cáo. Do chuẩn bị kỹ,

dự báo chính xác các tình huống xảy ra tại phiên toà nên

Kiểm sát viên đã chủ động xét hỏi các bị cáo về hành vi

phạm tội, yêu cầu các bị cáo giải thích các mâu thuẫn

trong lời khai, đồng thời Kiểm sát viên vừa xét hỏi vừa đưa

ra các chứng cứ để bác bỏ lời khai của các bị cáo. Kiểm

sát viên đã kết hợp xét hỏi, đấu tranh với việc dựa vào đặc

điểm tâm lý để giáo dục bị cáo về trách nhiệm khai báo

thành khẩn của bị cáo và chính sách khoan hồng của

pháp luật. Do kết hợp tốt giữa đấu tranh và thuyết phục

trong xét hỏi, Kiểm sát viên đã làm thức tỉnh sự ăn năn hối

cải của bị cáo, cuối cùng các bị cáo đã nhận tội. Do mâu

thuẫn cá nhân, các bị cáo đã có hành vi phá huỷ tài sản

và rất mong Hội đồng xét xử chiếu cố giảm nhẹ hình phạt

và cho hưởng án treo(1).

Qua các ví dụ trên đây cho thấy: Xét hỏi bị cáo là giai đoạn cực

kỳ quan trọng của quá trình xét xử. Vụ án có được xét xử công

bằng, khách quan, dân chủ hay không phụ thuộc rất lớn vào giai

đoạn xét hỏi. Do vậy, Kiểm sát viên phải nắm chắc nội dung, trình

tự, thủ tục xét hỏi, làm tất công tác chuẩn bị các chứng cứ, dự báo

chính xác các tình huống xảy ra tại phiên toà để xét hỏi một cách

chủ động, khoa học nhằm làm rõ các tình tiết của vụ án.

b- Nội dung xét hỏi người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân

sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Theo quy định tại Điều 210 Bộ luật TTHS thì: "người bị hại,

nguyên đơn dân sư, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của những người đó

trình bày về những tình tiết của vụ án có liên quan đến họ". Như

vậy khi đặt câu hỏi đối với những người trên đây Kiểm sát viên

chú ý cần hỏi những tình tiết liên quan đến vụ án mà cáo trạng

đã đề cập đối với họ. Đối với người bị hại, người có quyền lợi

nghĩa vụ liên quan ngoài việc hỏi họ về yêu cầu bồi thường thiệt

hại, Kiểm sát viên chú ý hỏi kỹ về các tình tiết mà họ biết có liên

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

quan đến việc buộc tội, gỡ tội của vụ án. Đây là vấn đề mà trong

thực tiễn có nhiều vụ án bị kháng cáo, kháng nghị vì quá trình

xét hỏi tại phiên toà chưa được làm rõ về nội dung (đánh giá

chứng cứ) và về hình thức (xác định tư cách tham gia tố tụng).

Do vậy, đối với người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự,

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại

diện hợp pháp, về phương pháp thì theo luật quy định chủ yếu

để họ trình bày ý kiến về các tình tiết liên quan là chính, sau đó

Kiểm sát viên mới đặt câu hỏi đối với những vấn đề họ trả lời

chưa rõ. Vì vậy, khi Hội đồng hỏi những người này, Kiểm sát

viên phải chú ý ghi chép đầy đủ về các nội dung trình bày của họ

để cân nhắc cần đặt câu hỏi như thế nào cho phù hợp. Tuy nhiên,

Kiểm sát viên cần chú ý hỏi những vấn đề mà họ trình bày chưa

rõ và còn có mâu thuẫn trong việc xác định lợi ích, nội dung việc

bồi thường thiệt hại và xác định tư cách tham gia tố tụng của họ.

Đây là hai nội dung mà trong thực tế nhiều vụ án do không xét

hỏi kỹ nên quyết định không đúng với quy định của pháp luật và

dẫn đến bản án bị kháng cáo hoặc kháng nghị.

Ví dụ, Vụ án Lê Thế Quyết phạm tội vi phạm quy đinh

về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.

Ngô Quang Hùng sinh năm 1961 Ở Khu Tân Mỹ 11, thị

trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn là chủ xe

Ô tô BKS 12H 4120 thuê Lê Thế Quyết lái xe. Gần trưa

ngày 24. 10.2005 tại khi 63 + 500 quốc lộ 1A thuộc thị trấn

Chi Lăng thì gây tai nạn làm cháu học sinh chết. Tại Bản

án hình sự sơ thẩm số 10/2006/HSST ngày 14.3.2006 Toà

án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn áp dụng

khoản 1 Điều 202; điểm h, o, q khoản 1 Điều 46; Điều 60

BLHS xử phạt Lê Thế Quyết 9 tháng tù nhưng cho hưởng

án treo, thời gian thử thách là 15 tháng. Về hình sự, căn cứ

vào tính chất, mức độ, hậu quả của vụ án thì Toà án tuyên

như vậy là có căn cứ. Tuy nhiên, về trách nhiệm dân sự,

Kiểm sát viên và chủ toạ phiên toà chưa hỏi kỹ về trách

nhiệm bồi thường là của chủ xe hay của lái xe nên Toà án

đã buộc Ngô Quang Hùng (chủ xe) và Lê Thế Quyết (lái

xe) phải liên đới bồi thường cho nạn nhân 23 triệu đồng. Lẽ

ra, Kiểm sát viên phải căn cứ Điều 623 BLDS, điểm đ, mục

2 phần 111 của Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày

08.7.2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối

cao để xét hỏi kỹ về trách nhiệm bồi thường trong trường

hợp này là Ngô Quang Hùng. Bởi vì, Lê Thế Quyết đã được

chủ xe Ngô Quang Thường thuê lái xe và đã được trả tiền

công. Điểm đ của Nghị quyết trên đây ghi rõ: "Nếu B chỉ

được A thuê lái xe mô và được trả tiền công, có nghĩa B

không phải là người chiếm hữu, sử dụng xe mô đó mà A

vẫn chiếm hữu, sử dụng; do đó, A phải bồi thường thiệt hại .

Sau khi xét xử sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của người

bị hại kháng cáo đề nghị tăng hình phạt tù đối bị cáo và

tăng mức bồi thường, còn Ngô Quang Hùng là chủ xe,

người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kháng cáo đề nghị

giảm mức bội thường. Bản án phúc thẩm số 25/2006/HSPT

ngày 26.4.2006 của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã y

án sơ thẩm. Do có những vi phạm về xác định trách nhiệm

bồi thường trong quá trình xét xử, nên vụ án này đã được

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cáo có quyết định .

kháng nghị số 281QĐ-VKSTC-V3 ngày 10. 11. 2006 đề nghị

Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm theo hướng

huỷ quyết định về bồi thường thiệt hại và án phí dân sự tại

Bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và Bản án hình sự sơ

thẩm số 10/2006/HSST ngày 14.3.2006 của Toà án nhân

dân huyện Chi Lăng để xét xử lại theo đúng quy định của

pháp luật. Ngày 11.01.2007, Toà án nhân dân tối cao đã có

Quyết định số 03/2007/HS-GĐT Huỷ Bản án phúc thẩm số

25/2006/HSPT ngày 26. 4. 2006 của Toà án nhân dân tỉnh

Lạng Sơn và bản án sơ thẩm số 10/2006/HSST ngày

14.3.2006 của Toà án nhân dân huyện Chi Lăng về phần

Quyết định bồi thường thiệt hại và án phí dân sự giao hồ

sơ vụ án cho Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng

Sơn xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy đinh của pháp luật(1)

 

c- Kỹ năng xét hỏi người làm chứng.

Trình tự thủ tục hỏi nguồn làm chứng đã được Bộ lu'?t

TTHS quy định tại Điều 211 về hỏi nguôi làm chứng như sau:

"1. Hội đồng xét xử phải hỏi riêng từng người làm chứng

và không để cho những người làm chứng khác biết được

nội dung xét hỏi đó.

(1) Nguồn hồ sơ tại VKNDTC

2. Khi hỏi người làm chứng, Hội đồng xét xử phải hỏi 

 

về quan hệ giữa họ với bị cáo và các đương sự trong vụ

án. Chủ toạ phiên toà yêu cầu người làm chứng trình bày

rõ những tình tiết vụ án mà họ đã biết, sau đó hỏi thêm về

những điểm mà họ khai chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn.

Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của

đương sự có thể hỏi thêm người làm chứng.

3. Nếu người làm chứng là người chưa thành niên thì

chủ toạ phiên toà có thể yêu cầu cha, mẹ, người đỡ đầu

hoặc thầy giáo, cô giáo giúp đỡ để hỏi.

4. Sau khi đã trình bày xong, người làm chứng ở lại

phòng xử án để có thể được hỏi thêm.

5. Trong trường hợp cần thiết phải bảo đảm an toàn cho

người làm chứng và những người thân thích của họ, Hội

đồng xét xử phải quyết định thực hiện biện pháp bảo vệ

theo quy định của pháp luật'?

Để hiểu rõ các quy định trên đây của pháp luật, cần nghiên cứu

các nội dung sau đây:

Thứ nha.t, cần phải cách ly người làm chứng:

Trong số những người tham gia phiên toà: bị cáo, người bị hại,

nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bào chữa, người bảo vệ

quyền lợi của đương sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan,

người đại diện hợp pháp thì bị cáo và người làm chứng là những

người mà lời khai của họ có ảnh hưởng với nhau, có trường hợp

giữa họ có mối quan hệ phụ thuộc nên rất có thể không khách

quan. Trong trường hợp đó cần có biện pháp cách ly để đảm bảo lời

khai của họ trước toà được khách quan chính xác.

Xuất phát từ động cơ, mục đích và mối quan hệ giữa người làm

chứng với nhau và giữa người làm chứng với bị cáo nên lời khai của

họ rất có thể không khách quan, nhất là khi họ biết được nội dung

lờ.i khai của nhau. Vì vậy, pháp luật quy định khi hỏi người làm

chứng phải cách ly họ coi đó là vấn đề bắt buộc. Thực tiễn xét xử

vừa qua, nhất là đối với các vụ án phức tạp, việc thực hiện biện

pháp cách ly người làm chứng khi xét hỏi đã góp phần làm cho việc

xét hỏi tại phiên toà được khách quan, làm rõ những vấn đề cần

chứng minh những tình tiết của vụ án, bảo đảm cho việc xét xử vụ

án được chính xác, kịp thời.

Tuy nhiên, cũng có nhiều vụ án, nhất là ở cấp quận, huyện chưa

thực hiện nghiêm túc quy định cách ly người làm chứng theo khoản

1 Điều 211 Bộ luật TTHS. Thậm chí có phiên toà sau khi hỏi người

làm chứng thì vẫn để họ ngồi trong phòng xử án và như vậy người

làm chứng nghe được lời khai của người làm chứng khác. Đối với các

Vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, nhất là giữa lời khai của các bị cáo,

lời khai của những người làm chứng có mâu thuẫn với nhau, thì việc

không cách ly người làm chứng khi xét hỏi họ làm cho vụ án càng trở

nên phức tạp. Nguyên nhân của tình hình trên đây có thể do các toà

án chưa đủ điều kiện nơi cách ly nhưng cũng có trường hợp do nhận

thức và trách nhiệm của Hội đồng xét xử, trong đó có cả Kiểm sát

viên. V vậy, khi xét hỏi người làm chứng Kiểm sát viên phải thực

hiện nghiêm túc các quy định tại khoản 1 Điều 2 1 1 Bộ luật TTHS và

yêu cầu Hội đồng xét xử cũng thực hiện nghiêm túc các quy định này.

Ví dụ, sau khi Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày ý kiến

bổ sung, theo quy định tại Điều 206 Bộ luật TTHS thì bắt đầu giai

đoạn xét hỏi, nếu chủ toạ phiên toà chưa thực hiện việc cách ly người

làm chứng (và cả bị cáo) thì Kiểm sát viên cần yêu cầu chủ toạ phiên

toà thực hiện việc cách ly họ theo đúng quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4 Điều 2 1 1 Bộ luật TTHS

thì sau khi trả lời xong câu hỏi thì người làm chứng được ở lại

phòng xử án. Điều này cũng có nghĩa chỉ thực hiện việc cách ly

người làm chứng khi họ chưa được xét hỏi, sau khi xét hỏi người

làm chứng không phải cách ly nữa.

 

Thứ hai là hỏi người làm chứng về mối quan hệ giữa họ với' bị

cáo và những người có liên quan trong vụ án, yêu cầu họ trình bày

về những tình tiết liên quan đến vụ án mà họ biết.

Đây là 2 nội dung trọng tâm của việc hỏi người làm chứng.

Cũng như khi xét hỏi bị cáo, Kiểm sát viên cần chú ý theo dõi, ghi

chép các nội dung hỏi của Hội đồng xét xử và nội dung trả lời của

người làm chứng. Nếu xét thấy người làm chứng trả lời chủ toạ

phiên toà chưa đầy đủ thì Kiểm sát viên có thể hỏi thêm người làm

chứng, yêu cầu người người làm chứng tiếp tục trả lời những tình

tiết mà họ biết nhưng chưa trả lời chủ toạ phiên toà. Ngoài những

nội dung mà người làm chứng đã trả lời chủ toạ, nếu thấy những

nội dung nào chưa rõ mà có liên quan đến việc đánh giá chứng cứ

của vụ án thì Kiểm sát viên có thể đặt câu hỏi với người làm chứng

để họ trả lời. Đây là những quy định mới của Bộ luật TTHS so với

trước đây. Quy định mới này là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho

Kiểm sát viên tiếp tục xét hỏi những tình tiết mà Hội đồng xét xử

chưa đề cập, đồng thời đây cũng là trách nhiệm của Kiểm sát viên

trong việc đấu tranh làm rõ sự thật của vụ án.

Trong trường hợp lời khai của người làm chứng mâu thuẫn với

lời khai của bị cáo, mâu thuẫn với chính lời khai của mình trước

đây, hoặc mâu thuẫn với những người có quyền và nghĩa vụ liên

quan thì Kiểm sát viên yêu cầu người làm chứng giải thích sự mâu

thuẫn đó. Đồng thời, Kiểm sát viên có thể tự mình hoặc yêu cầu

Hội đồng xét xử công bố các lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra

hoặc tại Viện kiểm sát nhân dân.

Trong trường hợp người làm chứng khai báo không trung thục

hoặc từ chối việc khai báo, thì Kiểm sát viên cần giải thích cho họ

biết về quyền và nghĩa vụ của người làm chứng trước toà. Nếu họ

cố tình không thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về trách

nhiệm khai báo thì có thể xử lý theo quy định của pháp luật.

Thứ ba là yêu cầu của việc hỏi người làm chứng là người chưa

thành niên.

Thực tiễn xét xử cho thấy có nhiều trường hợp người làm chứng

là người chưa thành niên, trong đó có nhiều trường hợp dưới 16 tuổi.

Người làm chứng ở độ tuổi này khi có mặt tại phiên toà thường sợ sệt,

không làm chủ bản thân mình, mất bình tĩnh và do vậy rất có thế

khai báo không chính xác. Vì vậy, trong các trường hợp này Kiểm sát

viên phải động viên họ bình tĩnh trả lời các câu hỏi của Hội đồng xét

xử đặt ra. Trong trường hợp họ vẫn sợ sệt, thiếu bình tĩnh, trả lời

không chính xác thì Kiểm sát viên có thể đề nghị Hội đồng xét xử yêu

cầu cha, mẹ, người đỡ đầu hoặc thầy giáo, cô giáo giúp đỡ. Như vậy,

không phải bất cứ người làm chứng nào là người chưa thành niên đều

bắt buộc yêu cầu cha, mẹ, người đỡ đầu hoặc thầy giáo, cô giáo giúp

đỡ, mà chỉ áp dụng biện pháp trên khi người làm chứng đó mất bình

anh, khai báo không đúng sự thật. Vì vậy, khoản 3 Điều 211 Bộ luật

TTHS chỉ quy định "có thê ' yêu cầu. . . chứ không phải bắt buộc.

Tuy nhiên, Điều luật chỉ quy định những người này chỉ làm

nhiệm vụ "giúp đỡ' người chưa thành niên khai báo tại phiên toà,

chứ không thể trả lời thay người làm chứng là người chưa thành

niên được. Do vậy, không được dùng lời khai của cha, mẹ, người đỡ

đầu, hoặc thầy giáo, cô giáo thay cho người làm chứng. Nếu phát

hiện các trường hợp như vậy thì Kiểm sát viên cần lưu ý Hội đồng

xét xử đảm bảo đúng pháp luật. Chúng tôi đồng ý với tác giả Đinh

Văn Quế Chánh Toà hình sự Toàn án nhân dân tối cao: "Khi hỏi

người làm chứng, Kiểm sát viên phải hỏi vì sao họ lại biết được tình

tiết đó, nếu họ không trả lời được vì sao lại biết thì lời khai của

người làm chứng đó không được làm chứng cú '(l).

Thứ tư là có biện pháp bảo vệ an toàn cho người làm chứng.

Thực tiễn xét xử cho thấy có nhiều trường hợp người làm

chứng, người thân thích của họ bị đe doạ, hành hung thậm chí

hành hung tại phiên toà, làm mất trật tự xã hội. Vì vậy, việc bảo

vệ an toàn cho người làm chứng là nhiệm vụ của Hội đồng xét xử.

Bởi vậy, khoản 5 Điều 2 1 1 Bộ luật TTHS có quy định mới là Hội

đồng xét xử có biện pháp để bảo vệ người làm chứng. Do vậy, Kiểm

sát viên cần chú ý yêu cầu Hội đồng xét xử có biện pháp bảo đảm

an toàn cho người làm chứng khi sự an toàn của họ bị đe doạ.

Điều 10 Quyết định số 810120061QĐ-BCA-Cii ngày

04.7.2006 của Bộ Công an về Quy trình bảo vệ phiên toà

đã quy định:

"1. Việc dẫn giải người làm chứng đến phiên toà thực

hiện như sau: Tổ chức dẫn giải người làm chứng đến phiên

toà (chú ý không được khoá tay, xích chân người làm

chứng). Khi đến nơi xét xử, đưa người làm chứng vào khu

vực riêng và chỉ đưa người làm chứng ra trước toà khi có

yêu cầu của Hội đồng xét xử. . .

3. Trường hợp người làm chứng ớ xa nơi xét xử, thời

gian dẫn giải phải qua đêm thì trước khi dẫn giải, đơn vi

Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp phải trao đổi thống nhất

với Toà án về việc bố trí phương tiện dẫn giải, nơi ăn, nghi

cho người làm chứng'?

d. Kỹ năng hỏi người giám định

Điều 215 Bộ luật TTHS quy định:

"1. Người giám định trình bày kết luận của mình về vấn

đề được giao giám định.

2. Tại phiên toà, người giám định có quyền giải thích bổ

sung trên cơ sở kết luận giám định.

3. Nếu người giám định vắng mặt, thi chủ toạ phiên toà

công bố kết luận giám định.

4. Kiểm sát viên, người bào chữa và những người khác

tham gia phiên toà có quyền nhận xét về kết luận giám

(1) Tạp chí Kiểm sát số 8-4/2006, tr.9

định, được hỏi những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu

thuẫn trong kết luận giám định.

5. Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử quyết định

giám định bổ sung hoặc giám định làm

Theo quy định trên đây thì tuy luật không bắt buộc người giám

định phải có mặt tại phiên toà, nhưng nhiều vụ án, nhất là các vụ

án phức tạp người giám định phải có mặt không chỉ để trình bày

kết luận mà còn phải giải thích bổ sung và trả lời các câu hỏi của

những người tham dự phiên toà đặt ra. Do vậy, nếu xét thấy sự có

mặt của người phiên dịch là cần thiết để trình bày kết luận giám

định và giải thích bổ sung mà Hội đồng xét xử không triệu tập, thì

Kiểm sát viên có quyền đề nghị Hội đồng xét xử triệu tập người

giám định tại phiên toà.

Nếu người giám định có mặt tại phiên toà, sau khi chủ toạ

phiên toà yêu cầu, người giám định phải trình bày nguyên văn bản

giám định mà mình được giao nhiệm vụ giám định.

Sau khi trình bày bản giám định, nếu xét thấy cần thiết, giám

định viên có quyền giải thích bổ sung nhưng phải trên cơ sở bản

giám định. Nghĩa là, người giám định chỉ được giải thích làm rõ

hơn những vấn đề mà bản giám định đã kết luận. Trong trường

hợp người giám định vắng mặt thì chủ toạ phiên toà công bố bản

giám định.

Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, người bào chữa có quyền nhận

xét bản giám định và có quyền hỏi Giám định viên về những nội

dung chưa rõ hoặc còn mâu thuẫn. Kiểm sát viên chỉ hỏi người

giám định về những căn cứ khoa học của những quyết định giám

định. Người giám định phải trả lời theo yêu cầu của Hội đồng xét

xử Tuy nhiên, việc Hội đồng xét xử hỏi Giám định viên chỉ được

tiến hành sau khi Giám định viên đã trình bày bản giám định và

giải thích bổ sung.

Trong trường hợp người giám định trả lời không rõ và mâu

thuẫn với các chứng cứ khác của vụ án, qua ý kiến của những

người tham dự phiên toà, nếu xét thấy việc giám định chưa khách

quan và không mang tính thuyết phục, có thể ảnh hưởng đến việc

xác định sự thật của vụ án, thì Kiểm sát viên có thể đề nghị Hội

đồng xét xử quyết định giám định lại hoặc giám định bổ sung.

Trong trường hợp này thì phải hoãn phiên toà để giám định lại

hoặc giám định bổ sung.

Ví dụ, Vụ án "cha hay ông ngoại" ở Tiền Giang.

Giữa năm 1998, cô con gái ông T chưa tròn 16 tuổi

bỗng nhiên có thai. Bà ngoại đã đưa cháu đi khám bệnh

thì được biết cháu này đã mang thai tuần thứ 23 và sau đó

việc phải đến đã đến, cháu gái này đã sinh được một cháu

trai. Bà ngoại gặng hỏi mãi thì được biết có một anh chàng

hàng xóm nhiều lần cưỡng bức làm cô có bầu. Thế rồi ông

T đã có đơn tố cáo với cơ quan chức năng. Tuy nhiên, vấn

đề càng trở nên phức tạp khi bà con hàng xóm với ông T

lại xì xầm rằng chính ông T mới là tác giả của đứa bé trai

kia. Và lúc đó Cơ quan điều tra tỉnh Tiền Giang đã vào

cuộc và vụ án giao cấu với trẻ em được khởi tố để điều tra.

Cuối năm ~999, Cơ quan điều tra Tiền Giang đã trưng cầu

Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an, kết quả xác định

ông T chính là cha đứa trẻ. Thế nhưng, ông T một mực

kêu oan và nạn nhân cũng khắng định cha mình không có

hành vi loạn luân ấy.

Vấn đề càng trở nên phức tạp khi Viện kiểm sát tỉnh

trưng cầu Tổ chức Giám định pháp y trung ương Bộ Y tế.

Kết quả hoàn toàn trái ngược so với lần giám định đầu tiên,

tác giả của bi kịch này chính là anh hàng xóm nọ mà nạn

nhân đã tố cáo, còn ông T lại bình yên vô sự và trút được

gánh nặng của vòng lao lý.

Tuy nhiên, vấn đề không dừng lại mà Bộ Công an đã

vào cuộc và trưng cầu giám đinh lại lần ba. Để bảo đảm,

thận trọng, khách quan và chính xác, thành phần giám

định lần này có đại diện của Viện Y pháp trung ương, Y

pháp quân đội và Viện khoa học hình sự Bộ Công an.

Nhưng kết quả giám định lần này lại trái ngược kết quả

giám định lần hai - xác định ông T là cha đứa trẻ. Trên cơ

sở các căn cứ này, Viện kiểm sát đã truy tố ông T về tội

giao cấu với trẻ em và Toà án Tiền Giang đã phạt ông T 3

năm tù về tội theo Điều 115 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên,

ông T đã khiếu nại bản án và cho rằng giám định lần ba là

không khách quan. Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối

cao đã quyết đinh huỷ án sơ thẩm để điều tra xét xử lại.

Sau đó, Toà án Tiền Giang tiếp tục xét xử lần hai và tiếp

tục kết án ông T một lần nữa, bản án ấy lại bị huỷ để điều

tra xét xử lại. Cơ quan điều tra Tiền Giang tiếp tục trưng

cầu Viện khoa học Bộ Công an giám định thuần thứ tư. Kết

quả ông T chính là cha đứa trẻ và bị Toà án Tiền Giang

phạt ông T một năm tù.

Giữa năm 2006, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối

cao đã xét xử phúc thẩm theo đơn kháng cáo của ông ~

Để bảo đảm thận trọng, khách quan, Toà phúc thẩm đã

cho hoãn xử để trưng cầu giám đinh lại. Tuy nhiên, ngày

22. 3. 200 7 Bộ Y tế đã khẳng định 4 lần giám đinh trước đây

không có giá trị pháp lý vì cả 4 lần giám đinh không có

quyết định thành lập Hội đồng giám đinh của người có

thẩm quyền. Và câu chuyện giám định của vụ án này lại

tiếp tục bước sang giai đoạn mới. Sắp tới Bộ Y tế sẽ thành

lập Hội đồng giám định mới bao gồm các chuyên gia hàng

đầu trong inh vực giám định của Viện Pháp y quân đội,

Viện Khoa học hình sự BỘ Công an, Viện Pháp y quốc gia,

Viện Công nghệ sinh học để làm rõ ai là cha đứa trẻ này

Như vậy, vụ án phải kéo dài gần 10 năm cũng do nguyên

nhân của vấn đề giám định(1)

 

đ.Kỹ năng xem xét vật chứng và xem xét tại chỗ

Điều 212 BỘ luật TTHS quy định:

"1. Vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chứng

được đưa ra để xem xét tại phiên toà.

Khi cần thiết, Hội đồng xét xử có thể cùng với Kiểm sát

viên, người bào chữa và những người khác tham gia phiên

toà đến xem xét tại chỗ những vật chứng không thể đưa

đến phiên toà được. Việc xem xét tại chỗ phải được lập

biên bản theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật này.

2. Kiểm sát viên, người bào chữa và những người khác

tham gia phiên toà có quyền trình bày những nhận xét của

mình về vật chứng. Hội đồng xét xử có thể hỏi thêm về

những vấn đề có liên quan đến vật chứng'?

Điều 213 BỘ luật TTHS quy định:

"Nếu xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể cùng

với Kiểm sát viên, người bào chữa và những người khác

tham gia phiên toà đến xem xét nơi đã xảy ra tội phạm

(1) Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh ngày 08.6.2007

hoặc những địa điểm khác có liên quan đến vụ án. Kiểm

sát viên, người bào chữa và những người khác tham gia

phiên toà có quyền trình bày nhận xét của minh về nơi đã

xảy ra tội phạm hoặc những địa điểm khác có liên quan

đến vụ án..."

 

Trong quá trình xét xử việc tổ chức xem xét vật chứng và xem

xét tại chỗ nơi xảy ra vụ án nhằm giúp cho Hội đồng xét xử đánh

giá một cách khách quan các tình tiết của vụ án. Đối với các vụ án

có vật chứng như giao, kẻo, gậy, cuốc, bản ảnh chụp hiện trường,

chụp các vết thương, ảnh chụp nạn nhân . . . nếu Chủ toạ phiên toà

chưa đưa ra xem xét tại phiên toà, thì Kiểm sát viên đề nghị Hội

đồng xét xử đưa các vật chứng ra tại phiên toà để những người

tham dự phiên toà xem xét, đánh giá, nhận xét.

Đối với các vật chứng có kích thước cồng kềnh, không thể đưa

tới phiên toà được như: các loại xe ôm, máy kéo, các loại máy móc

khác... thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà Kiểm sát viên đề nghị

Hội đồng xét xử tổ chức đến xem xét trực tiếp.

Đối với các vụ án có hiện trường như vi phạm quy định về điều

khiến phương tiện giao thông đường bộ, các vụ án giết người . . . qua

xét xử nếu thấy cần xem xét tại chỗ, thì Kiểm sát viên đề nghị Hội

đồng xét xử tổ chức cho những người tham gia phiên toà đến nơi

xảy ra vụ án để xem xét đanh giá tại chỗ nơi xảy ra vụ án.

Ví dụ, Vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương

tiện giao thông tại đường Láng - Hoà Lạc.

Tại phiên toà có người làm chứng khai răng do xe chạy

quá tốc độ nên xe Ô tô đâm vào xe đạp của hai cháu Phạm

Phương Linh và Phạm Anh Thư, sau đó đâm tiếp vào cột

mốc rồi bay ra ruộng lúa 30m. Vấn đề đặt ra ở đây là: Nếu

có việc mô bay trên không sau khi đã gây tai nạn thì giữa

mặt đường và ruộng lúa phải có sự chênh lệch về độ cao

rất lớn. Tuy nhiên, với bản vẽ của cơ quan điều tra thì chưa

thể hiện rõ. Do vậy, Kiểm sát viên đã đề nghị Hội đồng xét

xử cho hoãn phiên toà để trực tiếp xem xét lại nơi xảy ra

vụ án về chiều cao giữa mặt đường và mặt ruộng ra sao.

Sau khi xem xét trực tiếp cho thấy giữa mặt đường và

ruộng lúa tuy có chênh lệch nhưng không lớn và được hình

thành bờ taluy thoai thoải. Với hiện trường như vậy khẳng

định chiếc xe Ô tô sau khi đâm vào cột mốc tiếp tục chạy

một đoạn xuống dốc đến tận ruộng lúa rồi mới dừng hẳn.

Với cách quan sát trực tiếp này cho Kiểm sát viên nhận

xét Chiếc ô tô sau khi gây tai nạn không thể "bay" như

một số lời khai tại phiên toà(1)

 

III. KỸ NĂNG TRANH LUẬN Tại PHIÊN TOÀ CỦA 

                 KIỂM SÁT VIÊN

1. Khái niệm tranh luận trong tố tụng hình sự

Tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên toà không chỉ là nhiệm

vụ quan trọng của Kiểm sát viên mà còn là nhiệm vụ trung tâm

của phiên Toà, là giai đoạn trung tâm của quá trình diễn ra những

quan điểm đánh giá chứng cứ giữa bên buộc tội và gỡ tội và những

người tham gia phiên toà. Đây cũng là giai đoạn biểu hiện tập

trung nhất về ý kiến tranh luận của Kiểm sát viên và những người

tham gia phiên toà về các tình tiết của vụ án. Tranh luận cũng là

hình thức biểu hiện tính dân chủ, công bằng của cải cách tư pháp

hiện nay. Thực tiễn hoạt động tranh luận tại các phiên toà vừa qua

nhất là trong những năm gần đây đã góp phần quan trọng làm cho

phiên toà sôi động, dân chủ và khách quan hơn, phán quyết của

Toà án ngày càng đảm bảo chính xác hơn. Tuy nhiên, đây là hoạt

động vẫn còn nhiều tồn tại, thiếu sót, dẫn đến nhiều vụ án chưa

được xét xử khách quan, xâm phạm quyền dân chủ của công dân.

Do vậy, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về Cải cách tư

pháp trong thời gian tới là "Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các

phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp".

Vậy tranh tụng là gì?

Theo Từ điển luật học thì tranh tụng “Là các

hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia những (bên

buộc tội và bên bị buộc tội) có quyền bình đẳng với nhau trong việc

thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quan điểm và lợi ích của

mình, phản bác lại các quan điểm và là ích của phía đôi lập. Tranh

tụng tại Toà là những hoạt động tô tụng được tiến hành tại phiên Toà

xét xử bởi hai bên tham gia tô/tụng, nhằm bảo vệ y kiến, luận điểm

của mỗi bên và bác bỏ ý kiên, luận điểm của phía bên kia, dưới sự

điều khiển, quyết định của Toà án với vai trò trung gian trọng tài"(2).

Thể chế quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về tranh

tụng, Bộ luật TTHS năm 2003 đã quy định tại Chương XXI về

Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC.

Viện KHPL-Bộ Tư pháp, Từ điển luật học-NXB TP, H 2006, tr.808

tranh luận tại phiên toà.

Vậy tranh luận là gì? Theo Từ điển tiếng Việt thì "tranh luận

là bàn cãi để tìm ra lẽ phải"(1).

Khi đề cập về khái niệm, Tài liệu tập huấn của Viện Kiểm sát

nhân dân tối cao về kỹ năng đối đáp, tranh luận của Kiểm sát

viên. . . ghi: "Tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm về

hình sự là sự trả là lại, sự bàn cãi giữa Kiểm sát viên với bị cáo,

người bào chữa và những người tham gia tôltụng khác nhằm làm

rõ sự thật khách quan về mọi tình tiết buộc tội, tăng nặng, giảm

nhẹ của vụ án, giúp cho Hội đồng xét xử ra một bản án đúng người,

đúng tội đúng pháp luật"(2).

Như vậy, tranh luận là các bên (Kiểm sát viên và những người

tham gia những) đưa ra các quan điểm về giải quyết vụ án, nhằm

làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án. Hay nói cách khác, tranh luận

không chỉ là "được thua" mà cái quan trọng là thông qua đó để làm

rõ sự thật, làm rõ các tình tiết của vụ án. 

Vậy tranh luận gồm các nội dung gì? Theo quy định tại Chương

XXI Bộ luật TTHS thì tranh luận bao gồm:

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội (Điều 217 Bộ luật TTHS);

- Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng trình

bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên (Khoản 2,3 Điều 217 BỘ

luật TTHS);

- Đối đáp giữa Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng

tại phiên toà (Điều 218 Bộ luật TTHS);

- Nếu qua tranh luận mà thấy cần xem xét thêm về chứng cứ

thì Hội đồng xét xử có thể quyết định trở lại phần xét hỏi, xét hỏi

xong phải tiếp tục tranh luận (Điều 219 Bộ luật TTHS).

Như vậy, để thực hiện tốt việc tranh luận, các Kiểm sát viên

cần chú ý làm tốt hai nội dung quan trọng là trình bày lời luận tội

và đối đáp với những người tham gia tô/tụng.

(l) Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Năng, 1998, tr. 327, 989.

(2) viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Tài liệu tập huấn của về kỹ năng đối đáp,

tranh luận của Kiểm sát viên, tr.4.

2. Kỹ năng trình bày lời luận tội của Kiểm sát viên.

Điều 217 Bộ luật TTHS quy định về trình tự phát biểu khi tranh luận:

"1. Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên toà, Kiểm sát

viên trinh bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn

bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội

nhẹ hơn; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn

bộ quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố

bị cáo không phạm tội.

Luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào những tài

liệu chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên toà và ý kiến của

bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương

sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà.

2. Bị cáo trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo có người

bào chữa thi người này bào chữa cho bị cáo. Bị cáo có

quyền bổ sung ý kiến bào chữa.

3. Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người

đại diện hợp pháp của họ được trình bày ý kiến để bảo vệ

quyền và lợi ích của mình; nếu có người bảo vệ quyền lợi

cho họ thì người này có quyền trình bày, bổ sung ý kiến .

Để thực hiện tốt việc tranh luận, Kiểm sát viên cần lưu ý các

nội dung sau đây:

a- Bổ sung, chỉnh lý bản luận tội

Như phần trên đã trình bày, dự thảo bản luận tội đã được Kiểm

sát viên chuẩn bị sau khi nghiên cứu hồ sơ và báo cáo Lãnh đạo

Viện Kiểm sát. Thực tiễn truy tố, xét xử nhiều vụ án cho thấy,

trong quá trình xét hỏi, đấu tranh tại phiên toà nhiều tình tiết của

vụ án mới được làm sáng tỏ. Do vậy, Kiểm sát viên phải tập trung

ghi chép những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên toà:

lời khai nhận tội của bị cáo, lời khai của người bị hại, người làm

chứng, ý kiến của người bào chữa, ý kiến của người giám định...để

sửa đổi, bổ sung dự thảo luận tội của mình. Ví dụ, tại Cơ quan điều

tra bị cáo không nhận tội nhưng tại phiên toà bị cáo nhận tội,

người làm chứng khai về về các tình tiết phạm tội phù hợp với bị

cáo và lời khai người bị hại . . . thì Kiểm sát viên phải chỉnh sửa cho

phù hợp và cần có viện dẫn những chứng cứ này để chứng minh.

Trong trường hợp này luận tội của Kiểm sát viên cần bổ sung câu:

"Tại phiên toà hôm nay, trước các bằng chứng không thể chối cãi

được, bị cáo đã nhận tội về hành vi phạm tội của mình. Đồng thời,

lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai người làm

chứng, người bị hại và các chứng cứ khác. Do vậy, có căn cứ khẳng

định . . .". Đây là yêu cầu rất quan trọng của Kiểm sát viên khi thực

hành quyền công tố. Thực tiễn vừa qua có nhiều Kiểm sát viên đã

thực hiện tốt yêu cầu trên đây.

Tuy nhiên, cũng có trường hợp, trong quá trình xét xử, có Kiểm

sát viên không chú ý ghi chép các tình tiết xảy tại phiên toà nên

không bổ sung đầy đủ vào bản luận tội. Vì vậy, có bản luận tội khi

Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà không những thiếu tính

thuyết phục mà còn có lúc gây cười cho những người tham dự phiên

toà Ví dụ, Khi chuẩn bị luận tội, 'Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ

vụ án thấy bị cáo không nhận tội, mặc dù có đủ căn cứ buộc tội nên

 

dự thảo luận tội có ghi: "Trước phiên toà hôm nay, mặc dù trước

những bằng chứng không thểchôí cãi được nhưng bị cáo vẫn ngoan

cô chói tội. Chứng tỏ bị cáo không thành khẩn ăn năn hối cải, cho

nên không có căn cứ đểxétgiảm nhẹ cho bị cáo...". Tuy nhiên, tại

phiên toà bị cáo đã nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình,

nhưng Kiểm sát viên không chú ý ghi chép để chỉnh sửa dự thảo

luận tội mà đọc nguyên văn dự thảo đã được chuẩn bị từ trước.

Trong trường hợp sau khi xét hỏi có căn cứ cho rằng bị cáo chỉ

phạm tội một phần như cáo trạng nêu hoặc phạm tội nhẹ hơn thì

Kiểm sát viên có quyền kết luận và phải chịu trách nhiệm về kết luận

của mình. Sau khi phiên toà kết thúc, Kiểm sát viên phải báo cáo

ngay với Viện trưởng cấp mình về căn cứ, lý do kết luận của mình.

Khoản 2 Điều 23 Quy chế SÔÍ21/20041QĐ-VKSTC

quy định:

"2. Tại phiên toà Kiểm sát viên phải ghi chép những tài

liệu, chứng cứ đã được kiểm tra và ý kiến của bị cáo, người

bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những

người tham gia tố tụng khác để bổ sung và sửa chữa bản

dự thảo luận tội.

Sau khi kết thúc việc xét hỏi Kiểm sát viên trình bày

luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần

nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn. Luận tội

của Kiểm sát viên chỉ căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ

đã được kiểm tra tại phiên toà .

Như vậy, việc bổ sung, chỉnh sửa bản luận tội sau khi xét hỏi

là việc làm cần thiết và vô cùng quan trọng. Vấn đề này không chỉ

liên quan đến quan điểm, đường lối truy tố của Viện kiểm sát mà

còn ảnh hưởng đến tính khách quan và tính hợp pháp của bản án

của Hội đồng xét xử, liên quan đến tính dân chủ, công bằng và dư

luân xã hội đối với việc giải quyết vụ án. Vì vậy, việc chỉnh sửa, bổ

sung bản luận tội, rút bớt một phần nội dung cáo trạng hay đề nghị

tuyên bị cáo không phạm tội. . . cần phải được Kiểm sát viên xem

xét một cách thận trọng, với tinh thần vô tư, khách quan và với

phương châm là không để lọt người phạm tội đồng thời không làm

oan người vô' tội. Vì vậy, đối với các trường hợp còn băn khoăn,

chưa yên tâm thì trước khi đưa ra quyết định cần chủ động đề nghị

Hội đồng xét xử cho tạm hoãn phiên toà để Kiểm sát viên tiến

hành kiểm tra xem xét một cách thận trọng, khách quan.

Một vấn đề cần lưu ý là trong quá trình xét hỏi tại phiên toà,

bị cáo, người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn, bị đơn dân sự

và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có thể đưa ra các

tài liệu, những ý kiến phản bác nội dung bản cáo trạng. Do vậy,

trong phần chỉnh sửa, bổ sung bản luận tội Kiểm sát viên cần xem

xét đưa ra ý kiến lập luận của mình về đồng tình hay phản bác với

những ý kiến đó vào bản luận tội. Khi đưa ra lập luận của mình về

phản bác hay đồng tình với các quan điểm của bị cáo, người bào

chữa và những người tham gia phiên toà, Kiểm sát viên cần chú ý

phân tích, đánh giá chứng cứ và viện dẫn chứng cứ để chứng minh

luận điểm của mình một cách khoa học và khi kết luận cần trên cơ

sở chứng cứ và các quy định của pháp luật, đảm bảo kết luận đó

phải có tính thuyết phục, thực sự là bản luận tội thấu tình đạt lý,

tâm phục khẩu phục.

 

b- Kỹ năng trình bày luận tội

Bản dự thảo luận tội đã được chuẩn bị từ trước khi vụ án được

quyết định đưa ra xét xử và được chỉnh sửa trong quá trình xét xử.

Do vậy, phần này không đề cập đến nội dung bản luận tội mà chỉ

đề cập đến kỹ năng trình bày lời luận tội.

Bản luận tội dù được chuẩn bị kỹ, nhưng tính thuyết phục lại

nó cũng phụ thuộc một phần rất lớn vào kỹ năng trình bày của

Kiểm sát viên. Nếu theo quy định tại Điều 206 Bộ luật TTHS

"Trước khi tiên hành xét hỏi, Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng" thì

Điều 217 BỘ luật TTHS quy định: "Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại

phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội...". Như vậy, về

nguyên tắc, khác với bản cáo trạng là Kiểm sát viên đọc, còn đối

với lời luận tội thì Kiểm sát viên phải trình bày. Kỹ năng trình bày

luận tội là nghệ thuật trình bày lời nói hay, ý tứ đẹp và phải có

phong cách, ứng xử hợp lý của Kiểm sát viên. Kỹ năng trình bày

lời luận tội về nguyên tắc nên quán triệt và thực hiện như đối với

kỹ năng đọc cáo trạng đã trình bày ở Mục I.2 Chương này và lưu ý

đến những điều cần làm và những điều cần tránh như khi đọc cáo

trạng. Tuy nhiên, như trên đã đề cập, việc trình bày lời luận tội có

những đặc thù riêng, vì vậy, khi trình bày lời luận tội, Kiểm sát

viên cần chú ý các nội dung sau:

Thứ nhất, nghệ thuật trình bày lời nói hay là khi trình bày lời

luận tội Kiểm sát viên phải phải sử dụng phương pháp nói có sức

truyền cảm, làm cho người nghe cảm thấy thích thú, cuốn hút.

Giọng nói là phương tiện quan trọng nhất trong quá trình thực

hiện kỹ năng luận tội. Muốn vậy, Kiểm sát viên phải biết cách sử

dụng ngữ điệu, giọng nói để biểu lộ tình cảm của mình đối với

người nghe phù hợp với nội dung trình bày như: lòng căm thù, tức

giận, sự đau khổ, thương tiếc, hoặc là lúc diễn tả sự vui mừng,

phấn khởi, hoặc lúc mỉa mai chế giễu . . . Có thể cùng nội dung như

nhau nhưng người nào biết cách sử dụng giọng nói cho phù hợp

thì sẽ thu hút người nghe hơn người trình bày không biết sử dụng

ngữ điệu. Nhìn chung muốn cho giọng nói cuốn hút khi trình bày

lời luận tội, Kiểm sát viên phải có giọng nói to vang và khoẻ. Nếu

người nào có giọng nói nhỏ, lí nhí thì không thể hoàn thành trọng

trách là người thực hành quyền công tố tại Toà. Nếu có điều kiện,

Kiểm sát viên nên dùng máy ghi âm để ghi lại cuộc nói chuyện

của mình về trình bày lời luận tội, sau đó, kiểm tra lại xem giọng

của mình có to quá hay nhỏ quá, nhanh hay chậm như thế nào.

Qua kiểm tra có thể điều chỉnh cho hợp lý về tốc độ cũng như âm

lượng giọng nói.

Ví dụ, Khi trinh bày lời luận tội đối với vụ án Là Văn Can

cùng đồng bọn (4 7 bị cáo) phạm tội mua bán trái phép các

chất ma túy, mua bán trái phép vũ khí quân dụng xảy ra ở

các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang, Vun Phúc, Thái

Nguyên, Sơn La, trong đó có đoạn: Tính chất đặc biệt

nghiêm trọng của vụ án còn thể hiện ở chỗ ma tuý và súng

quân dụng là những loại hàng hoá Nhà nước nghiêm cấm

mọi hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển

trái phép vì như vậy chẳng những gây nguy hiểm đến an

ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, mà còn làm suy kiệt

giống nòi, trực tiếp gây ra hiểm hoạ HIV và là nguyên nhân

của nhiều loại tội phạm khác. Hiện nay, trên 80% các vụ

án hình sự đã xảy ra trong thời gian qua đều liên quan đến

nguyên nhân từ ma túy. Nhiều vụ án cướp của, giết người

mà người phạm tội đã sử dụng vũ khí để chiếm đoạt tiền

để mua ma túy về sử dụng . . . Chính vì lẽ đó mà các tội

phạm về ma túy và những người thực hiện tội phạm đó đều

bị cả xã hội lên án, ngay cả đối với những người thân trong

gia (fnh các bị can nếu có lương tâm và trách nhiệm cũng

phải tỏ thái độ căm giận. Đòi hỏi các cơ quan pháp luật

phải có biện pháp trừng trị nghiêm khắc. Đây là câu nói

trinh bày về tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội

và tác hại của hành vi đó đối với gia đình, xã hội và tính

phải chịu trừng phạt của hành vi phạm tội. Do vậy, để biểu

lộ tinh cảm khi trình bày nội dung này Kiểm sát viên cần

sử dụng giọng cao, to và chú ý nhấn mạnh những từ cuối

câu nhằm thu hút sự chú ý của những người tham gia

phiên toà về lòng căm phẫn của họ đối với loại hành vi

phạm tội đặc biệt nguy hiểm này(1).

Ngược lại, nếu lời luận tội có nội dung nói về những mất mát,

thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra thì ngữ điệu được sử dụng

trong trường hợp này phải phù hợp.

Ví dụ, Lời luận tội vụ án Nguyễn Trung Dũng cùng đồng

bọn phạm tội giết người (vụ án cơm tù) xảy ra tại xã Hồng

Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc, thỉnh Bình Thuận có đoạn

ghi. Thử hỏi một cơ thể gầy guộc yếu đuối của một ông già

tuổi ngót 60 làm sao có thể chịu đựng nổi trận mưa đòn

của cả người đàn ông, thanh niên to khoẻ cùng đồng bọn

tấn công quyết liệt. Cái chất oan nghiệt của ông Hương

không chỉđểlại sự đau thương mất mát cho gia đình người

bị hại, sự thương tiếc vô hạn của họ hàng, thân thích, bạn

hữu xa gần mà còn để lại sự phẫn nộ bất bình cao độ trong

dư luận xã hội, trong trái tim của biết bao con người cùng

cảnh ngộ cũng là nạn nhân của nạn cơm tù mà trong thời

gian qua họ chưa có cơ hội để tỏ bày. Đồng thời, cái chết

của ông Hương cũng để lại những nỗi niềm thương tiếc, sự

cảm thông sâu sắc của cộng đồng xã hội. Để tỏ lòng cảm

thông chia sẻ với gia đình nạn nhân về những đau thương

(1) Nguồn hồ sơ vụ án tại VKSNDTC

mất mát do hành vi phạm tội gây ra, khi trình bày nội dung

này Kiểm sát viên cần sử dụng chất giọng trầm và nói

chậm, thong thả. Như vậy, sẽ thu hút sự chú ý của người

nghe, nhất là đối với những người đại diện cho phía người

bị hại có mặt tại phiên toà.

Kiểm sát viên chú ý nói rõ ràng, mạch lạc, có lúc lên trầm

xuống bổng, tránh nói nhỏ, nói nhanh. Đối với những vấn đề quan

trọng như khi đề cập đến hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo,

hậu quả xảy ra . . . thì Kiểm sát viên cần nói to hơn, chậm hơn để

nhấn mạnh nhằm gây sự chú ý của người nghe.

Tuy nhiên, đối với các quy định của pháp luật, những tình tiết

được bổ sung cần bảo đảm tính chính xác, thì Kiểm sát viên có thể

đọc nhưng chú ý đọc chậm, rõ ràng, mạch lạc kết hợp với giải thích

thêm cho rõ từng vấn đề.

Thực tiễn cho thấy, Kiểm sát viên phải chuẩn bị thật kỹ cách

trình bày lời luận tội. Chuẩn bị cách trình bày tốt nhất là phương

pháp nói thoát ly đề cương, cách nhấn mạnh từng vấn đề quan

trọng của vụ án, cách diễn đạt lên trầm xuống bong, cách ngắt lời

cho phù hợp, cách đùng ngữ điệu, cách quan sát hội trường xét xử. . .

Đây là kỹ năng đòi hỏi Kiểm sát viên chuẩn bị thật kỹ. Sau khi có

dự thảo luận tội, nếu được bổ sung chỉnh lý tại phiên toà càng tốt,

Kiểm sát viên phải đọc nhiều lần, thậm chí đọc thuộc và đánh dấu

để biết đoạn nào cần đọc to, đoạn nào cần đọc chậm, đoạn nào cần

ngắt lời để quan sát. Sau đó, Kiểm sát viên tập trình bày một số lần

cho thành thục. Sau khi đã đọc thuộc bản dự thảo luận tội, Kiểm

sát viên cần lập dàn bài chi tiết. Ví dụ, các chứng cứ kết tội bị cáo

có hành vi phạm tội giết người gồm: biên bản khám nghiệm hiện

trường, biên bản khám nghiệm tử thi tại bút lục số. . . Lời khai nhận

tội của bị cáo tại bút lục số, biên bản thu giữ vật chứng bút lục số,

lời khai người làm chứng bút lục số, lời khai người bị hại bút lục

số . . Những căn cứ pháp luật, những nội dung cần nói chính xác thì

Kiểm sát viên có thể ghi nguyên văn để khi cần có thể đọc để viện

dẫn. Tiếp đó, Kiểm sát viên cần tập phát biểu trên cơ sở đề cương,

thoát ly dự thảo luận tội. Như vậy, trên bàn của Kiểm sát viên khi

trình bày lời luận tội chỉ có bản đề cương, còn bản dự thảo nếu có

cũng chỉ là tạo cho Kiểm sát viên tâm lý tự tin. Nếu Kiểm sát viên

chuẩn bị kỹ, chu đáo thì chắc chắn lời luận tội của Kiểm sát viên sẽ

có sức thuyết phục cao. Đây là những đòi hỏi thuộc về kỹ năng của

Kiểm sát viên khi trình bày lời luận tội. Vì vậy, trước khi trình bày

lời luận tội Kiểm sát viên càng chuẩn bị kỹ, thành thục nội dung thì

việc trình bày càng hay, càng có sức lôi cuốn.

Tuy nhiên, trong thực tiễn do nhiều nguyên nhân, Kiểm sát

viên chưa nhận thức đúng ý nghĩa của việc trình bày lời luận tội

nên chưa được chuẩn bị kỹ. Vì vậy, có Kiểm sát viên khi trình bày

lời luận tội cũng đọc nguyên văn như khi đọc cáo trạng. Nghĩa là

bản dự thảo luận tội đã được chuẩn bị ở nhà và khi đến phiên toà

chỉ đọc nguyên văn. Cách làm này chưa thể hiện đúng ý nghĩa của

việc trình bày lời luận tội, do vậy làm giảm giá trị của lời luận tội

của Kiểm sát viên. Nhiều Viện kiểm sát đã chú ý chỉ đạo chặt chẽ

việc xây dựng bản luận tội và tại phiên toà Kiểm sát viên trình bày

lời luận tội có sức thuyết phục. Bên cạnh đó nhiều Kiểm sát viên

chuẩn bị bản luận tội rất sơ sài, thậm chí gạch đầu dòng và tại

phiên toà có nhiều tình tiết mới nhưng Kiểm sát viên không chú ý

ghi chép để chỉnh lý bổ sung đầy đủ. Do vậy, nhiều Kiểm sát viên

trình bày lời luận tội không có sức thuyết phục.

Một vấn đề cần tránh là trước khi trình bày lời luận tội, Kiểm sát

viên nhất thiết không được dùng các chất kích thích như rượu, trà,

cà phê. Những thứ này thường làm cho con người thêm căng thẳng.

Thử hai là nghệ thuật trình bày ý tử đẹp, ý tứ đẹp ở đây là nói

lên câu nói ngắn gọn nhưng lập luận chặt chẽ, lôgíc. Câu sau gắn

với câu trước. Những chứng cứ đưa ra phải hết sức cụ thể, rõ ràng

và có xuất xứ của nó. Chứng cứ được viện dẫn để chứng minh do ai

cung cấp, ai thu thập và được thể hiện tại hồ sơ vụ án như thế nào?

Việc đánh giá chứng cứ, kết luận từng sự việc phải trên cơ sở sự

việc có thật và phải trên cơ sở các quy định cụ thể của pháp luật.

Đây là cách lập luận thu hút người nghe nhất.

Việc trình bày lời luận tội có thể sử dụng các phương pháp: quy

nạp, diễn giải, phân tích, tổng hợp, so sánh... Nhưng thông thường

khi trình bày luận tội các Kiểm sát viên hay sử dụng phương pháp

quy nạp là phổ biến. Tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp nào khi

trình bày lời luận tội còn phụ thuộc vào các tình huống cụ thể và

khả năng diễn thuyết của Kiểm sát viên.

Ví dụ, Luận tội vụ án Nguyễn Công Vinh cùng đồng

bọn phạm tội giết người xảy ra ngày 17 . 02. 2003 tại xã

Eakpam, huyện Cư Mồm, tỉnh Đắc Lắc.

Trong vụ án này bị cáo Vinh không nhận tội. Kiểm sát

viên đã sử dụng phương pháp quy nạp để lập luận buộc

tội bị cáo như sau: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại

phiên toà hôm nay mặc dù bị cáo Vinh không thừa nhận

đã tổ chức cho đồng bọn và trực tiếp chém giết cháu

Nguyễn Thúc Duyên vào ngày 17 . 02. 2003. Bị cáo Vinh

cho rằng ở thời điểm vụ án xảy ra bị cáo đang ở thành phố

Hồ Chí Minh, đến ngày 18.02.2003 (tức là sau ngày cháu

Duyên chất một ngày) bị cáo mới có mặt tại xã Eakpam.

Căn cứ vào lời khai của các bi cáo trong vụ án như.

Nguyễn Cảnh Bằng, Nguyễn Xuân Hoà, Nguyễn Cảnh Vi,

Dương Văn Cảnh; căn cứ lời khai của những người làm

chứng như anh Vũ Hữu Võ ở thành phố Hồ Chí Minh, chị

Loan chủ quán nước mía có cơ sở khẳng định bị cáo có

mặt tại xã Eakpam từ ngày 15 . 02. 2003 và đến ngày

17 . 02. 2003 thì tổ chức cho đồng bọn thực hiện hành vi

giết cháu Duyên. Đây là phương pháp quy nạp khi trình

bày lời luận tội. Tuy nhiên, để cho lời trình bày của mình

hấp dẫn hơn thi Kiểm sát viên có thể sử dụng các phương

pháp khác. Kiểm sát viên có thể kết hợp sử dụng phương

pháp so sánh. Ví dụ, Kiểm sát viên có thể viện dẫn lời

chối tội của bị cáo không có căn cứ và sử dụng các chứng

cứ các tình tiết của vụ án để phân tích, đánh giá và bác

bỏ lời chối tội đó. Phương pháp so sánh này cũng có tác

dụng cuốn hút người nghe. Chúng ta đồng ý với nhận xét

của TS. Phan Hữu Thư. "Khi viết bài diễn văn hãy chọn kỹ

những luận chứng và trình bày các luận chứng theo một

bậc thang đi lên, bắt đầu bằng chứng cứ nhỏ nhất và tận

cùng bằng những chứng cứ quyết đinh. Mỗi chứng cứ mới

phải khắc sâu thêm luận điểm của bạn vào đầu óc người

nghe, để làm lung lay mạnh hơn sức chống đỡ của họ.

Chứng cứ cuối cùng là một đòn quyết đinh đưa bạn tới

thành công. Bạn cần kết luận bài nói của mình bằng

những câu kết luận có giá trị và đầy sức rung động(1)

Tuy nhiên, trong thực tiễn trình bày lời luận tội, Kiểm sát

viên của chúng ta chỉ mới tập trung nêu hành vi phạm tội và tính

chất của hành vi phạm tội. Còn việc nêu lập luận để chứng minh

và kết luận thì ít được chú ý. Do vậy, để cho lời luận tội có sức

thuyết phục, Kiểm sát viên cần chú ý phương pháp chứng minh,

lập luận và kết luận khi giải quyết một nội dung nào đó. Cần

tránh cách lập luận theo thuyết nguỵ biện, suy diễn chủ quan.

(1) Phan Hữu Thư: Kỹ năng hành nghề luật sư, NXB Công an, H.2001, tr.167

Nếu khi trình bày lời luận tội mà Kiểm sát viên không xuất phát

từ các chứng cứ của vụ án để phân tích, chứng minh, kết luận mà

suy diễn theo hướng chủ quan thì sẽ không thuyết phục được

người nghe.

Ví dụ, Vụ án giết ông Trương Ngọc Minh tại thành phố H.

Bà Phạm Thị út có căn nhà gồm 2 phòng. Gia đinh bà

út ở một phòng, còn phòng kia cho vợ chồng ông Minh

thuê ở Đêm 13.9.1993 phòng ông Minh bị cháy do xăng.

Quá trình điều tra bà út không nhận tội, các chứng cứ kết

tội rất yếu, việc điều tra có nhiều vi phạm trong việc thu

thập chứng cứ. Trước lời bào chữa về sự ngoại phạm của bị

cáo Kiểm sát viên đưa ra lập luận rằng: Đây là căn nhà có

khoá cổng, vào thời điểm đó chỉ có gia đình bà út và

ông Minh ở, không ch~lg minh được ai vào đốt phòng ông

Minh thì theo phương pháp loại trừ chỉ có bà út là thủ phạm

đốt phòng ông Minh. Rõ ràng nếu kết tội cho bị cáo với lập

luận theo kiểu suy diễn này thì không những không thuyết

phục được người nghe mà còn làm giảm lòng tin của dư

luận đối với trách nhiệm của Kiểm sát viên khi thực hành

quyền công tố tại phiên toà (1).

Thứ ba là phong cách ứng xử của Kiểm sát viên. Phong cách

ứng xử của Kiểm sát viên có tác dụng rất lớn đến sự chứ ý của

người nghe. Nếu một bản luận tội được chuẩn bị công phu, chặt chẽ

và văn phong trong sáng nhưng người trình bày vì có cảm giác run

sợ bồn chồn, căng thẳng nên khi trình bày chỉ cúi mặt vào bản

luận tội đọc một cách đều đều, âm lượng nhỏ, lý nhí và đọc một

mạch từ đầu đến cuối thì cách trình bày như vậy chẳng những làm

cho người nghe cảm thấy đơn điệu, căng thẳng mà còn gây không

khí mệt mỏi, làm cho họ buồn ngủ và như vậy sẽ làm giảm tính

thuyết phục của lời luận tội. Do vậy, Kiểm sát viên phải tạo cho

mình có những phong cách ứng xử, giao tiếp phù hợp để gây ấn

tượng tốt với người nghe ngay từ lúc bắt đầu trình bày lời luận tội.

Về phong cách ứng xử của Kiểm sát viên khi trình bày lời luận tội

cần chú ý các nội dung sau:

- Nội dung thử nhất là hình thức ăn mặc, đi đứng, quan sát.

Vấn đề này đã được đề cập ở phần phong cách ứng xử của Kiểm sát

viên khi đọc cáo trạng. Tuy nhiên, đi liền với cách ăn mặc, Kiểm

sát viên cần có cử chỉ bằng ánh mắt, sự thân thiện ngay từ đầu với

những người tham dự phiên toà. Khi đứng lên trình bày lời luận

tội, không phải vì đối mặt với tội phạm và quan điểm bào chữa

không chính xác của bị cáo và người bào chữa mà Kiểm sát viên

biểu lộ vẻ mặt cau có, nóng giận, coi thường. . . Vì người nghe Kiểm

sát viên trình bày không chỉ có bị cáo, người bào chữa, người có

quyền lợi nghĩa vụ liên quan, mà còn có Hội đồng xét xử, người bị

hại, người làm chứng và những người tham gia phiên Toà khác. Do

vậy Kiểm sát viên cần tạo cho mình một ánh mắt, cử chỉ chân

thành, nhanh nhẹn, rạng rỡ, thân thiện, kiên quyết nhưng cũng

rất thông cảm, độ lượng khoan dung. Đây là những phẩm chất rất

tế nhị của Kiểm sát viên chẳng những có tác dụng cuốn hút người

nghe ngay từ những giây phút ban đầu mà còn làm cho Kiểm sát

viên tự tin hơn, xua tan những sợ hãi, lo lắng.

- Nội dung thứ hai là thông qua cử chỉ. Tại phiên toà, khi trình

bày lời luận tội, ngoài các yếu tố giọng nói, hình thức ăn mặc, đi

đứng, quan sát, Kiểm sát viên cần tập cho mình các cử chỉ, giao

tiếp với người nghe. Cử chỉ ở đây được biểu hiện thông qua hoạt

động của tay, đầu và thân người. Cử chỉ của Kiểm sát viên sẽ giúp

minh hoạ sự đồng tình hay là bác bỏ một quan điểm bào đó, giúp

cho người nghe hiểu rõ hơn những nội dung mà Kiểm sát viên đang

trình bày. Cử chỉ, giao tiếp của Kiểm sát viên được biểu hiện:

- Tư thế đứng phát biểu của Kiểm sát viên. Kiểm sát viên khi

phát biểu trình bày lời luận tội bắt buộc phải đứng dậy. Kiểm sát

viên phải đứng thẳng người. Đứng thẳng người có nghĩa là Kiểm

sát viên phải đứng thẳng tự nhiên, không gập lưng, không kiễng

chân. Thực tiễn cũng đã có trường hợp khi Kiểm sát viên có chiều

cao thấp trong lúc micrô lại cao nên phải kiễng chân lên để nói,

hoặc Kiểm sát viên có chiều cao hơn micrô thì phải cúi gập người

để nói. Những cử chỉ này không những làm mất đi tính tự tin, đ nít

đặc của Kiểm sát viên mà còn làm giảm sự cuốn hút người nghe

khi Kiểm sát viên trình bày lời luận tội. Vì vậy, nếu micrô quá cao

hoặc quá thấp thì Kiểm sát viên phải điều chỉnh cho hợp lý. Làm

thế nào khi Kiểm sát viên trình bày lời luận tội phải đứng thoải

mái, tự tin, định đặc, khoan thai. Thực hiện tất việc giao tiếp bằng

cử chỉ này đòi hỏi không nên để Kiểm sát viên là người có lưng gù

hoặc người quá thấp ra ngồi ghế công tố được.

- Giao tiếp bằng cử chỉ. Khi trình bày lời luận tội, để minh hoạ

nội dung của mình Kiểm sát viên có thể dùng động tác của tay kết

hợp với ánh mắt, đầu và nụ cười. Kiểm sát viên có cách ứng xử tốt

khi phát biểu lời luận tội là ngay từ đầu dùng đôi mắt hướng vào

hội trường xét xử, nhưng phải nhìn khắp hội trường, nhìn khắp các

hướng của hội trường, không được tránh bất cứ ai, không được nhìn

vào một người nào cả và với một cách nhìn thoải mái, tự nhiên. Khi

đang trình bày lời luận tội, muốn nhấn mạnh nội dung nào đó

Kiểm sát viên có thể hơi ngả người về phía trước nhưng không được

ngã người ra phía sau, cần tránh các động tác: vuốt mũi, hắng

giọng, dùng tay che miệng (nhất là khi cười- nếu vậy không cười

còn hơn). Tuy nhiên, việc sử đụng các động tác này phải xuất phát

từ nội tâm của mình khi muốn biểu lộ tình cảm mà Kiểm sát viên

đang nói và sự biểu lộ bằng cử chỉ đó phải phù hợp, tương xứng với

nội dung đang nói.

Ví dụ, Khi phân tích các căn cứ buộc tội, đến câu kết

luận: "Như vậy, với các chứng cử vừa phân tích và chứng

minh trên đây có cơ sở khẳng đinh bị cáo đã phạm tội giết

người , cùng lúc đó Kiểm sát viên đưa tay phải (hoặc trái)

ngang tầm mắt và đưa nhanh về thắt lưng. Cùng lúc đó có

thể đầu Kiểm sát viên hơi nghiêng về phía tay phải (hoặc

trái). Như vậy, cánh tay, đầu và ánh mắt của Kiểm sát viên

đang dẫn dắt người nghe theo kết luận của mình, làm cho

họ tập trung vào vấn đề mà Kiểm sát viên đang nói và

cũng chính cách ứng xử này làm cho người nghe có niềm

tin hơn về cách lập luận của Kiểm sát viên.

Hoặc là khi Kiểm sát viên đang phân tích, chứng minh

về nội dung nào đó mà người nghe đồng tình và vỗ tay

hoan nghênh, thì Kiểm sát viên cần nhìn xuống hội trường

xét xử với ánh mắt tự tin và nó nụ cười lạc quan đồng thời

cùng vỗ tay với họ. Cử chỉ này nhằm để biểu lộ sự đồng ý,

chia sẻ của mình đối với sự ủng hộ của người nghe. Ngược

lại nếu hội trường đang vỗ tay mà Kiểm sát viên lại nhìn

vào tài liệu với ánh mắt có vẻ mệt mỏi, cáu gắt thi sẽ làm

giảm sự chú ý của người nghe và chắc chắn sẽ làm cho

người nghe khó chịu.

Trường hợp Kiểm sát viên đang trinh bày lời luận tội

mà xuất hiện ở dưới hội trường xét xử có tiếng xi xèo, hoặc

đang làm mất trật tự thì Kiểm sát viên cần dừng lại quan

sát và yêu cầu Hội đồng xét xử duy trì trật tự. Tuyệt đối

Kiểm sát viên không bao giờ được tỏ ra mất bình tĩnh, phản

ứng tức thì. Cách ứng xử như vậy hoàn toàn phản tác dụng

thuyết phục.

 

Nội dung thứ ba là lắng nghe ý kiên của những người tham

gia những: Theo quy định tại khoản 2,3 Điều 217 Bộ luật TTHS

thì sau khi Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, bị cáo, người bào

chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, hoặc người đại diện hợp pháp trình

bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Trong các ý kiến

đó có thể có ý kiến đồng tình hay phản bác lời luận tội, Kiểm sát

viên phải luôn cầu thị, khách quan, bình tĩnh lắng nghe và ghi

chép cẩn thận, đầy đủ các ý kiến trình bày của những người tham

gia phiên toà về lời luận tội. Khi Kiểm sát viên ghi chép các ý kiến

của những người tham dự phiên toà chẳng những nói lên tác phong

cẩn trọng, khiêm tốn, khách quan, chân thành của Kiểm sát viên

mà còn làm cho người có ý kiến tin tưởng hơn về sự làm việc vô tư,

khách quan của Kiểm sát viên. Nếu không tán thành với ý kiến

nào đó của bị cáo, người bào chữa và những người khác tham gia

phiên toà mà Kiểm sát viên có phản ứng ngắt lời họ thì sẽ gây

phản ứng không hay tại phiên toà. Những cử chỉ này dù xảy ra

trong hoàn cảnh nào cũng làm mất uy tín của Kiểm sát viên.

Việc ghi chép đầy đủ các ý kiến của những người tham gia

phiên toà cũng chính là cách thu thập thêm các dữ kiện, tài liệu đề

dự kiến các tình huống sắp xảy ra tại phiên toà như bị cáo, người

bào chữa, những người tham gia phiên toà sẽ trình bày ý kiến về

luận tội và đưa ra đề nghị của mình như thế nào và nội dung, cách

thức đối đáp với các ý kiến đó ra sao. Đây cũng là cơ sở để Kiểm sát

viên bổ sung đề cương đối đáp, chuẩn bị việc đối đáp với những

người tham gia phiên toà.

Ví dụ, Tại phiên toà xét xử vụ án giết người ở Vườn

Điều tỉnh Bình Thuận, các tài liệu, chứng cứ được đưa ra

tại phiên toà có nhiều mâu thuẫn. Để giúp cho việc tranh

luận tốt, Kiểm sát viên phải chú ý lắng nghe các ý kiến đưa

ra tại phiên toà. Trên cơ sở đó Kiểm sát viên có sự đối

chiếu với các chứng cứ khác để kết luận ý kiến nào là

chính xác và có giá trị chứng minh. Tại phiên toà này các

luật sư đã đưa ra các lập luận:

- Không có mối quan hệ tình ái giữa nạn nhân Dương

Thị Mỹ với ông Trần Văn Sáng vì qua người làm chứng là

chị Hoàng (bạn thân của nạn nhân), bà Mỹ nói "thích" ông

Sáng chứ chưa chắc gì được ông Sáng đáp lại nên không

có chuyện gia đình phía vợ ông Sáng đánh ghen.

Thời điểm "đêm nay" trong lá thư hẹn hò của bà Mỹ

mà Nhung (vợ Sáng) bắt gặp trong túi quần chồng khi giặt

đồ là đêm nào, khi quần áo được giặt vào buổi sáng sớm,

hơn nữa Mỹ không biết chữ.

- Thời gian án mạng xảy ra, ông Sáng không đến vườn

điều để gặp bà Mỹ, bởi lẽ đêm đó Sáng đi đâu, làm gì đều

minh bạch.

Luật sư đã liệt kê 50 chi tiết để phân tích sự vô lý trong

lời khai của Huỳnh Văn Nén. Từ đó luật sư cho rằng đây

là "màn kịch mà Điều tra viên Cao Văn Hùng dựng lên rồi

cây ép điều chỉnh các các bị cáo theo ý mình ~

Tuy nhiên, Điều tra viên tham gia phiên toà với tư cách

người làm chứng và tại phiên toà đã phản bác lại tất cả các

viện dẫn mang tính áp đặt, không trung thực của luật sư

cũng như các bị cáo. Chứng cứ mà Điều tra viên đưa ra là

Điều tra viên đã cùng với một Điều tra viên khác tham gia

phá vụ án này, luôn có sự chỉ đạo chặt chẽ của Ban Giám

đốc Công an tỉnh Bình Thuận. Hơn nữa, Viện Kiểm sát

nhân dân tỉnh Bình Thuận đã cử nhiều lượt Kiểm sát viên

giám sát vụ án trong suốt quá tinh tố tụng. Tất cả đều

khẳng định quá trình điều tra là hết sức khách quan vô tư,

không hề có sự trù dập hay làm sai lệch hồ sơ vụ án

vì vậy, Kiểm sát viên phải lắng nghe các phát biểu của những

người tham gia phiên toà về lời luận tội của mình, để chẩn bị các

ý kiến đối đáp với các ý kiến đó. Tuyệt đối không được có sự phản

ứng đối với các ý kiến mà mình cho rằng không đúng với thực tế

               IV KỸ NĂNG ĐỐI ĐÁP CỦA KIỂM SÁT VIÊN

          1. Khái niệm đối đáp trong tố tụng hình sự

          Theo Từ điển tiếng Việt thì "Đối đáp là trả lời lại". Đối đáp

trong TTHS là các quan điểm, luận cứ của Kiểm sát viên trong việc

trả lời đối với các ý kiến của bị cáo, người bị hại, người bào chữa,

người tham gia tô tụng về luận tội; là sự trả lời, đáp lại ý lên giữa

những người tham gia tranh luận.

Điều 218 BỘ luật TTHS quy định:

"Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố

tụng khác có quyền trinh bày ý kiến về luận tội của Kiểm

sát viên và đưa ra đề nghị của mình; Kiểm sát viên phải

đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiên.

Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của

người khác. Chủ toạ phiên toà không được hạn chế thời

gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia

tranh luận trình bày hất ý kiên, nhưng có quyền cắt những

ý kiến không có liên quan đến vụ án.

Chủ toạ phiên toà có quyền đề nghị Kiểm sát viên phải

đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào

chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý

kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận” .

Vấn đề đối đáp được Bộ luật TTHS năm 2003 quy định có

nhiều điểm mới so với Bộ luật TTHS năm 1988. Nếu như Điều 192

BỘ luật TTHS 1988 quy định "Người tham gia tranh luận có

quyền đáp lại ý kiên của ngườz khác nhưng chỉ được phát biểu một

lần đổi với mỗi ý kiến mà mình không đồng ỷ', thì Điều 218 Bộ

luật TTHS năm 2003 lại quy định: bị cáo, người bào chữa và

những người tham gia tô tụng khác có quyền trình bày không hạn

chêlsôllần trình bày ý kiên về luận tội của Kiểm sát viên; Kiểm sát

viên phải đối đáp với từng ý kiên; Chủ toát phiên toà cần tạo điều

kiện cho những người tham gia phiên toà tranh luận; trong trường

hợp Kiểm sát viên không tranh luận thì, Chủ toạ phiên tòa có

quyền đề nghị Kiểm sát viên đáp lại những ý kiên của những

người tham gia tô tụng khác. Như vậy, trách nhiệm của Kiểm sát

viên trong việc tranh luận đối đáp theo quy định mới của pháp

luật là rất lớn và nặng nề.

Thời gian qua, các Kiểm sát viên đã có nhiều cố gắng trong việc

đối đáp với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố

tụng. Ngay từ giai đoạn xét hỏi, Kiểm sát viên đã chú ý theo dõi,

ghi chép những nội dung của người bào chữa hỏi bị cáo để từ đó

phân tích, nhận định, dử báo khả năng người bào chữa sẽ đưa ra

tranh luận những vấn đề gì. Khi bị cáo, người bào chữa và những

người tham gia tố tụng trình bày ý kiến về luận tội, Kiểm sát viên

phải ghi chép đầy đủ từng vấn đề để chủ động đối đáp với các ý

kiến đó. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc đối

đáp cũng còn nhiều thiếu sót tồn tại. Nhiều vụ án chưa được xét xử

một cách khách quan, oan sai vẫn còn xảy ra nhiều. Kiểm sát viên

nghiên cứu hồ sơ không kỹ, luận tội thì chuẩn bị sơ sài, ra phiên

toà bị cáo không nhận tội, thay đổi lời khai, người bào chữa phản

bác các tình tiết của vụ án mà cáo trạng đã nêu... Kiểm sát viên

không xét hỏi, không tranh luận mà cho rằng giữ nguyên quan

điểm như cáo trạng. Do vậy, dư luận xã hội cho đây là c~lh xét xử

theo kiểu án bỏ túi. Cách xét xử như vậy đã làm mất tính ân chủ,

khách quan của quá trình xét xử và như vậy bản án không thể là

một phán quyết chính xác được.

2. Mục đích, yêu cầu của việc đối đáp

Trong quá trình xét xử vụ án hình sự, Kiểm sát viên là người thay

mặt Nhà nước có quyền buộc tội bị cáo. Tuy nhiên, Kiểm sát viên

cũng có nghĩa vụ trả lời các ý kiến của bị cáo, người bào chữa và

những người tham gia tố tụng về những nội dung buộc tội của Kiểm

sát viên. Đây là nhiệm vụ của Kiểm sát viên đã được luật quy định.

a- Mục đích của việc đối đáp. Việc đối đáp của Kiểm sát viên

đối với các ý kiến của bị cáo, người bào chữa và những người tham

gia tố tụng là nhằm làm rõ sự thật các tình tiết của vụ án, góp

phần cùng Toà án ra bản án chính xác, đúng người, đúng tội,

đúng pháp luật, không để lọt người phạm tội, không làm oan

người vô tội. Xác định đúng mục đích đối đáp không chỉ giúp cho

Kiểm sát viên mà cả những người tham gia tố tụng như: bị cáo,

người bào chữa, người tham gia tố tụng khác phải luôn luôn có

tinh thần tôn trọng sự thật, khách quan khi đưa ra ý kiến của

mình cũng như khi trả lời, đối đáp lại các ý kiến đó. Việc hỏi và

trả lời dù nhiều hay ít, dù địa vị pháp lý người trả lời và đối đáp

như thế nào cũng phải tôn trọng sự thật khách quan, tuyệt đối

không được suy luận chủ quan.

Người trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên cũng phải

xuất phát từ các tình tiết của vụ án và phải thật sự khách quan,

cầu thị và có thái độ hợp tác với các cơ quan bảo vệ pháp luật để

xử lý vụ án chính xác kịp thời. Kiểm sát viên trả lời, đối đáp với

các ý kiến của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố

tụng cũng hết sức khách quan, cầu thị. Những ý kiến của người

tham gia tố tụng đưa ra nếu có căn cứ, thì Kiểm sát viên nghiên

cứu kỹ và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định, bảo đảm

đúng quy định của pháp luật. Ví dụ, Nếu người bào chữa thấy vụ

án có dấu hiệu bỏ lọt tội nghiêm trọng, Kiểm sát viên thấy ý kiến

đó có căn cứ, thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại hồ

sơ để điều tra bổ sung. Nếu ý kiến của người tham gia tố tụng

không có căn cứ, thì Kiểm sát viên phải phân tích, đánh giá, kết

luận có lý, có tình để thuyết phục họ.

Thực tiễn có nhiều trường hợp do không xác định được mục

đích của việc trả lời đối đáp, coi đây là vấn đề được thua, nên người

đưa ra ý kiến và ngươi trả lời, đối đáp thiếu bình tĩnh, có những lời

lẽ thiếu xây dựng. Trong các trường hợp này việc người đưa ra ý

kiến cũng như người trả lời thường không khách quan. Có trường

hợp bị cáo đưa ra các tài liệu chứng minh mình vô tội, nhưng

không được Kiểm sát viên xem xét một cách thận trọng. Như vậy,

mục đích làm rõ sự thật các tình tiết của vụ án trong việc đối đáp

sẽ không thực hiện được.

Ví dụ, Vụ án Nguyễn Xuân Bản phạm tội tham Ô Ở tỉnh

Tuyên Quang.

Qua xét hỏi bị cáo xuất trinh các tài liệu chứng minh

mình vô tội. Lẽ ra trong trường hợp này Kiểm sát viên phải

xem xét thận trọng, nếu chưa đủ căn cứ kết luận thì đề

nghị Hội đồng xét xử cho hoãn phiên toà để xác minh tiếp.

Nhưng Kiểm sát viên vẫn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên

án. Tuy nhiên, với các tài liệu do bị cáo xuất trình tại phiên

toà cần xác minh mới có căn cứ kết luận, vì vậy Hội đồng

xét xử đã trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sát để yêu cầu điều

tra bổ sung

b- Yêu cầu của việc đối đáp

Thứ nhất, phải tôn trọng sự thật khách quan. Như trên đã đề

cập, mục đích của đối đáp là làm rõ sự thật các tình tiết của vụ án.

Do vậy, yêu cầu của việc đối đáp là phải dựa trên các chứng cứ của

vụ án, các quy định của pháp luật, Kiểm sát viên trả lời, tranh

luận với bị cáo, ngươi bào chữa để làm rõ sự thật các tình tiết của

vụ án. Yêu cầu này đặt ra cho Kiểm sát viên là khi có căn cứ xác

định các tình tiết của vụ án là sự thật khách quan thì phải phân

tích, đánh giá, đưa ra luận cứ để kết luận bảo vệ sự thật đó.

Nếu những ý kiến của bị cáo, người bào chữa và những người

tham gia tố tụng có căn cứ, phù hợp với diễn biến khách quan của

vụ án thì Kiểm sát viên cần lắng nghe, suy nghĩ tiếp thu, đề xuất

với Hội đồng xét xử các biện pháp xử lý phù hợp với pháp luật;

Thứ hai, phải tôn trọng nguyên tắc dân chủ, bình đẳng. Theo

quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, thì Kiểm sát viên bình đẳng

với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng trong

việc đưa ra các chứng cứ, đồ vật và đưa ra các nội dung tranh luận

(Điều 19 Bộ luật TTHS). Trong quá trình xét xử vụ án hình sự,

Kiểm sát viên là người thay mặt Nhà nước buộc tội bị cáo, có trách

nhiệm kiểm sát việc chấp hành pháp luật đối với những người

tham gia tố tụng. Do vậy, nếu không xác định nguyên tắc bình

đẳng về việc đưa ra chứng cứ sẽ rất dễ phát sinh bất bình đẳng

giữa Kiểm sát viên với bị cáo, người bào chữa và những người tham

gia tố tụng khác. Trong thực tế đã có Kiểm sát viên dùng các lời lẽ

gay gắt, thậm chí quát nạt. . . với bị cáo, người bào chữa. Đây là

hành vi không tôn trọng quyền bào chữa của bị cáo, người bào chữa

và những người tham gia tố tụng khác. Vì vậy, khoản 4 Điều 24

Quy chế SỐI21/2004/QĐ-VKSTC đã quy định: "Khi tranh luận,

Kiểm sát viên phải bình tĩnh, khách quan và tôn trọng ý kiên của

những ngư tham gia tôltụng".

Thứ ba, phải tôn trọng nguyên tắc tôi thượng của pháp luật.

Yêu cầu này đòi hỏi người đưa ra ý kiến cũng như người trả lời đều

phải.trên cơ sở các quy định của pháp luật. Tuyệt đối không được

vì nể nang, cá nhân hoặc vì lý do nào khác mà đối đáp, trả lời theo

suy diễn chủ quan, không xuất phát từ các quy định của pháp luật.

Vì vậy, Kiểm sát viên cần nắm chắc các quy định của pháp luật

hình sự, tố tụng hình sự và các quy định của pháp luật khác để áp

dụng xử lý hành vi phạm tội, phù hợp các quy định của pháp luật.

Thứ tư, bảo đảm tính văn hoá trong đối đáp. Yêu cầu này đòi

hỏi Kiểm sát viên cần sử dụng các ngôn từ khi đối đáp mang tính

văn hoá. Nghĩa là, phương pháp đối đáp phải nhẹ nhàng, lịch sự, có

tính thuyết phục cao. Kiểm sát viên cần tránh dùng những ngôn từ

có tính chất đả kích, tự cao, coi thường người đưa ra ý kiến. Hoặc có

thái độ cáu gắt, quát nạt, cau có... Kiểm sát viên, bị cáo, người bào

chữa và những người tham gia tố tụng không được lợi dụng việc

tranh luận, đối đáp để đả kích hoặc cãi vã tay đôi tại phiên toà. Đây

là những cử chỉ thiếu văn hoá khi tranh luận đối đáp.

                 3. Nội dung đối đáp của Kiểm sát viên

Trên cơ sở đề cương đối đáp đã được chuẩn bị, với kết quả xét

hỏi tại phiên Toà, Kiểm sát viên cần bổ sung các nội dung đối đáp

cho phù hợp với diễn biến của phiên Toà. Theo quy định của Bộ

luật TTHS, thì Kiểm sát viên thực hiện việc đối đáp khi bị cáo,

người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đưa ra ý

kiến về lời luận tội. Do vậy, nội dung đối đáp của Kiểm sát viên

phụ thuộc vào nồi dung các ý kiến của bị cáo, người bào chữa và

những người tham gia tố tụng khác. Trong phiên toà hình sự; việc

tham gia phiên toà của những bị cáo, người bị hại, người bào chữa,

nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan đều có những mục đích và lợi ích khác nhau, thậm chí có thể

đối lập nhau, vì vậy, họ sẽ đưa ra các ý kiến với các nội dung khác

nhau. Do vậy, yêu cầu này đặt ra là Kiểm sát viên phải lắng nghe

ý kiến của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng,

ghi nhanh, đánh dấu những ý kiến đó, bổ sung, chỉnh lý đề cương

đối đáp Khi Kiểm sát viên ghi chép, bổ sung đề cương đối đáp cũng

là lúc Kiểm sát viên dự kiến nội dung đối đáp cho phù hợp. Kiềm

sát viên chú ý tìm ra những mâu thuẫn trong các ý kiến của bị cáo,

người bào chữa và những người tham gia tố tụng để đối đáp lại. Vì

vậy, để làm tốt việc đối đáp, Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ các

ý kiến của những người tham gia tố tụng để qua đó dự kiến những

người đưa ra ý kiến đó sẽ tranh luận về những nội dung gì và cần

trả lời các ý kiến đó ra sao.

Ví dụ, Vụ án Nguyễn Trọng Thưởng phạm tội nhận hối

lộ và môi giới hối lộ ở tỉnh Quảng Ninh.

Đây là vụ án có tính chất phức tạp về đánh giá chứng

cứ lại được dư luận báo chí đặc biệt quan tâm, bị cáo là

người có chức vụ quyền hạn (nguyên phó Chi cục quản lý

thị trường tỉnh). Do nắm chắc được tính chất phức tạp của

vụ án, lãnh đạo đã giao cho các Kiểm sát viên có năng lực

chủ động bám sát hồ sơ từ giai đoạn điều tra, ngay sau khi

kết thúc điều tra các Kiểm sát viên đã chuẩn bị một cách

khoa học trong việc nghiên cứu hồ sơ vụ án. Các tài liệu

được nghiên cứu, trích dẫn theo từng nhóm hành vi. Đồng

thời kiểm tra kỹ về tính có căn cứ và tính hợp pháp của

các tài liệu chứng cứ như. tài liệu giám định, băng ghi âm,

ghi hình, nắm tình hình dư luận xã hội. Báo cáo kịp thời tình

hình xử lý vụ án với các cơ quan có thẩm quyền. r\l~lll sát

viên chuẩn bị đề cương xét hỏi, đối đáp một cách chi tiết

và bổ sung kịp thời những ý kiến của bị cáo, người bào

chữa và những người tham gia tố tụng khác vào đề cương

xét hỏi và đối đáp. Từ việc chuẩn bị chu đáo, cẩn thận và

hết sức chi tiết như vậy nên các tinh huống xảy ra tại phiên

toà đều được xử lý đúng đắn. Mặc dù tại phiên toà bị cáo

kêu oan, luật sư thì cho rằng các chứng cứ Kiểm sát viên

đưa ra không đầy đủ và không đủ căn cứ để kết tội bi cáo,

nhưng Kiểm sát viên đã đối đáp một cách tích cực và có

sức thuyết phục, được dư luận đồng tình, góp phần cùng

toà án có những phán quyết chính xác(1).

Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ năng đối đáp với những

người tham gia tố tụng.

        KÝ NĂNG ĐỐI ĐÁP VỚI BỊ CÓA, NGƯỜI BÀO CHỮA

Thực tiễn xét xử cho thấy bị cáo, người bào chữa đưa ra nhiều

loại ý kiến mà Kiểm sát viên phải trả lời và được tiến hành trong

bất cứ giai đoạn nào của quá trình xét xử. Ví dụ, trong thủ tục bắt

đầu phiên toà, bị cáo, người bào chữa có thể đề nghị Hội đồng xét

xử trả hồ sơ cho Viện kiểm sát vì việc điều tra vi phạm nghiêm

trọng về thẩm quyền (vụ Hoàng Minh Công ở thành phố Đà Năng),

vi phạm trong việc không mời luật sư để bào chữa cho bị cáo theo

Điều 57 Bộ luật TTHS, hoặc đề nghị hoãn phiên toà vì bị cáo chưa

nhận được bản cáo trạng, vì thiếu người làm chứng, người phiên

dịch hoặc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Kiểm sát viên. . . Những nội

dung này Kiểm sát viên phải trả lời bị cáo và người bào chữa.

Trong phạm vi bài viết này chúng ta chỉ đề cập việc đối đáp của

Kiểm sát viên theo quy định tại Điều 218 Bộ luật TTHS. Thực tiễn

hoạt động truy tố xét xử cho thấy bị cáo, người bào chữa thường

bào chữa theo các hướng như sau:

Một là: Kỹ năng đối đáp với tình huống bào chữa theo hướng chứng minh bị cóa vô tội. Trong tình huống này bị cáo, luật sư thường phân tích, chứng minh các chứng cứ xác định bị cáo vô tội để bác bỏ những chứng cứ của Kiểm sát viên khi buộc tội bị cáo. Khi bào chữa theo hướng này bị cáo , người bào chữa  thường đưa ra các tài liệu để chứng minh: Các chứng cứ kết tội không đầy đủ; hành vi không đủ các yếu tố cấu thành tội phạm; do có sự thay đổi của pháp luật hình sự.

Hai là: Kỹ năng đối đáp với quan điểm về chứng cứ không đầy đủ. Về quan điểm bào chữa này chúng ta thường gặp đối với các trường hợp phạm tội không quả tang, việc phát hiện vụ án chủ yếu bằng biện pháp truy xét. Trong trường hợp này, bị cáo thường không nhận tội hoặc trong giai đoạn điều tra nhận tội, nhưng khi xét xử thì phản cung, thay đổi lời khai. Cũng có trường hợp do quá trình điều tra có vi phạm trong việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, bị cáo, người bào chữa đã lợi dụng vào các vi phạm này để bác bỏ kết quả điều tra (như vụ án giết người tại Vườn điều tỉnh Bình Thuận, vụ án Lã Thị Kim Oanh tại Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, vụ án mua bán quota tại Bộ Thương mại, vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ xảy ra tại đường Láng Hòa Lạc…). Các trường hợp bị cáo phản cung thường xảy ra đối với các loại tội: Giết người,  hiếp dâm, ma túy, đưa và nhận hối lộ, tham ô, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trón khỏi nơi giam, cố ý làm trái…Đây là các trường hợp thường được dư luận đặc biệt quan tâm. Đồng thời, đây cũng là các trường hợp Kiểm sát viên chịu nhiều sức ép nhất về tâm lý cũng như áp lực về công việc. Vì vậy đối với các trường hợp này, Kiểm sát viên phải chuẩn bị kỹ các nội dung để đối đáp như các chứng cứ buộc tội, xem xét kỹ các biên bản khám nghiệm hiện trường, tử thi, gặp bị can, người làm chứng, tiến hành đối chất và nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật…Đồng thời các Kiểm sát viên cần nắm chắc các dấu hiệu đặc trưng từng loại tội để chuẩn bị đối đáp .

Trên cơ sở đó xây dựng đề cương xét hỏi, đề cương đối đáp chi tiết

và cụ thể. Qua xét hỏi, trình bày lời luận tội, Kiểm sát viên cần dự

báo các ý kiến của bị cáo, người bào chữa để bổ sung đề cương đối

đáp Nói tóm lại, đối với các trường hợp phạm tội không quả tang

thì Kiểm sát viên cần chuẩn bị thật kỹ các nội dung đối đáp, càng

chuẩn bị kỹ thì việc đối đáp càng có sức thuyết phục. Sau đây là

một số ví dụ về đối đáp của Kiểm sát viên:

Ví dụ 1, Vụ buôn bán quota tại Bộ Thương mại, xét xử

ngày 23. 3. 2007, hai luật sư bào chữa cho bị cáo Mai Văn

Dâu cho rằng lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra

và tại phiên toà về nhận hối lộ 6000 USD có nhiều mâu

thuẫn và tại phiên toà bi cáo phủ nhận toàn bộ hành vi

nhận tiền. Việc bị cáo khai tại Cơ quan điều tra là do bị

điều tra viên dụ cung, mớm cung, ép cung nên khai bừa là

có nhận 6000 USD của Nguyễn Cương đưa để được đưa

đi chữa bệnh. Vì vậy, theo quan điểm của bị cáo và các

luật sư thi không có căn cứ để buộc bị cáo nhận hối lộ

6000 USD. Do nắm chắc các tình tiết của vụ án và dự báo

chính xác nội dung bào chữa của bị cáo nên Kiểm sát viên

đã chuẩn bị kỹ và đối đáp có kết quả với bị cáo và luật sư.

Kiểm sát viên đã đối đáp: Việc bị cáo khai không thống

nhất và tại phiên toà bị cáo đã phủ nhận lời khai trước Cơ

quan điều tra chỉ là sự gây nhiễu lòng tin đối với một số

người. Bởi vì, tại phiên toà bị cáo khai trước đây bị điều tra

viên dụ cung, bức cung, mớm cung nhưng hồ sơ không có

tài liệu nào chứng minh điều đó. Mặt khác, bị cáo nguyên

là cán bộ có kinh nghiệm, có công trạng và đã từng trải thì

không thể có chuyện bi ép cung, mớm cung mà đây đơn

thuần là do bị cáo tự khai ra lúc đầu là 2000 USD, rồi 4000

USD và cuối cùng là 6000 USD. Chứng tỏ lời khai này

được bị cáo cân nhắc, suý nghĩ kỹ, nhận ra việc làm sai

trái của minh, cảm thấy cần nhận tội để mong được hưởng

các tình tiết giảm nhẹ. Đây là sự chuyển biến về mặt tư

tưởng, nhận thức của bị cáo. Vì vậy, quan điểm của Viện

kiểm sát với các chứng cứ được xét hỏi làm rõ tại phiên

toà khẳng đinh cáo trạng buộc bị cáo nhận hối lộ 6000

USD là có căn cứ (1)

Ví dụ 2, Vụ án Nguyễn Anh Tú và đồng bọn giết

Nguyễn Văn Trường ở Hà Nội để cướp của. Trong vụ án

này, Nguyễn Anh Tú không thừa nhận có hành vi tham gia

bàn bạc để giết và lấy tài sản của anh Trường và anh Ninh.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã dựa trên các

dấu hiệu hành vi khách quan, ý thức chủ quan để phân

tích, lập luận: Căn cứ vào các lời khai người làm chứng, lời

khai của các bị cáo khác, tang vật thu được, khám nghiệm

hiện trường, tử thi. . . có căn cứ khẳng định vụ án có tổ chức

chặt chẽ, số lượng người tham gia là 3 người, cùng có

chung một mục đích là giết người trước rồi mới cướp tài

sản. Các tài liệu có trong hồ sơ khẳng định Nguyễn Anh

Tú là người có vai trò tổ chức, người chủ mưu, cẩm đầu,

chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Chính Tú là người đề

xường việc phạm tội, cung cấp dao và tiền cho đồng bọn

đi mua thêm dao, đề xuất cắt máu ăn thề để quyết tâm

thực hiện tội phạm. Y còn khích lệ đồng bọn: "gấu cũng

chơi tầm này còn sợ gì nữa. " Do vậy, việc các bị cáo giết

chết anh Trường, anh Ninh hay bất cứ người nào khác

cũng không thay đổi mục tiêu mà bọn chúng đã đề ra. Với

cách lập luận sắc bén này không chỉ có tác dụng thuyết

phục Hội đồng xét xử mà còn làm cho bị cáo Tú phải cúi

đầu nhận tội (2).

Ví dụ 3, Vụ án vận chuyển trái phép chất ma túy do Lô

Thị Ngàn và Phan Thị Loan thực hiện ở Nghệ An.

Đây là vụ án không bắt được quả tang. Các bị cáo thì

không nhận tội, còn những người làm ch~g thì trong quá

trình điều tra xác nhận hành vi phạm tội nhưng tại phiên toà

Báo Tiền phong , Báo Loa động và Pháp luật TP HCM ngày 23.3.2007.

Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

lại phủ nhận lời khai của mình. Luật sư cho rằng các chứng

cứ do Kiểm sát viên đưa ra để kết luận bị cáo phạm tội vận

chuyển trái phép chất ma túy là không có sơ sở. Để đối đáp

các lập luận của luật sư bị cáo và người làm chứng, Kiểm sát

viên đã tiếp tục thẩm vấn từng người làm chứng: Vi Văn Tuân,

Vi Thị Bá và Vi Văn Hằng và đấu tranh với những người làm

chứng này về những mâu thuẫn trong lời khai. Vi Thị Bá đứng

cách chỗ bị cáo Loan vút gói hêrôin 7m, Vi Văn Tuấn đứng

cách bị cáo vất gói hêrôin 2m, lúc đó 1 6 giờ chiều của mùa

hè, nghĩa là lúc đó trời còn sáng mà khai không nhìn thấy gì

là không đúng với sự thật. Như vậy lời khai của những người

làm chứng tại Cơ quan điều tra về việc có nhìn thấy bi cáo vất

gói hêrôin là phù hợp với thực tế, còn lời khai tại Toà hôm nay

là không đúng sự thật. Như vậy tại phiên toà hôm nay những

người làm chứng khai không trung thực về những tình tiết của

vụ án mà minh biết. Theo quy định của pháp luật, nếu khai

báo gian dối thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 307

của BLHS. Kiểm sát viên vừa đấu tranh với các mâu thuẫn

của lời khai, vừa xác định trách nhiệm của người làm chứng

trong việc khai báo với Hội đồng xét xử cuối cùng cả 3 người

làm chứng đều thừa nhận có nhìn thấy bị cáo Loan vất gói

hêrôin như trước đây đã khai trong quá trình điều tra. Trên cơ

sở lời khai của những người làm chứng, Kiểm sát viên đã đấu

tranh và phân tích có tình, có lý với các bi cáo, cuối cùng các

bị cáo đều nhận tội vận chuyển trái phép chất ma tuý như cáo

trạng đã truy tố. Qua vụ án này cho thấy khi đối đáp với bị

cáo người bào chữa theo hướng kết luận bị cáo có tội thì

Kiểm sát viên không chỉ viện dẫn các chứng cứ kết tội để

ch~lg minh mà vấn đề quan trọng là vừa đấu tranh vừa

thuyết phục, xác định quyền và nghĩa vụ của những người

tham gia tố tụng trong việc góp phần cùng Toà án tìm ra sự

thật của vụ án, đảm bảo việc truy tố, xét xử đúng người, đúng

tội đúng pháp luật, không để lọt người phạm tội, không làm

oan người vô tội.

Ví dụ 4, Vụ Phạm Vĩnh Cát phạm tội giết người ở tỉnh

Bình Đinh.

Do có va chạm nên Phạm Vĩnh Cát đã dùng dao đâm

chết nạn nhân Đặng Văn Vy. Tại phiên toà bị cáo cho rằng

do đùa dồn nên không may dao của bị cáo đâm vào nạn

nhân, bị cáo không cố ý đâm nạn nhân. Còn luật sư cho

rằng bị cáo không có ý thức chiếm đoạt tính mạng của nạn

nhân. Việc bị cáo đâm dao về phía sau là theo phản xạ.

Cái chết của nạn nhân là ngoài ý muốn của bị cáo. Vì vậy,

hành vi của bị cáo có thể là vô ý làm chết người hoặc cố ý

gây thương tích. Chứ không phạm tội giết người như Viện

kiểm sát truy tố. Kiểm sát viên đã đối đáp lại như sau: luật

sư và bị cáo cho rằng bi cáo không cố ý đâm mạnh vào

nạn nhân và việc rút dao ra chỉ là đùa dỡn là không có căn

cứ. Bởi vì, để kết luận việc bị cáo đùa dỡn hay cố ý đâm

mạnh vào nạn nhân phải căn cứ vào vị trí đâm và sức

mạnh của việc đâm đó ra sao. Nếu bị cáo chỉ rút dao ra

đùa dỡn và không cố ý  đâm mạnh vào nạn nhân thì hành

vi của bị cáo chỉ có thể gây thương tích cho nạn nhân.

Trong vụ án này, vết thương do dao đâm vào nạn nhân rất

mạnh, vết thương đâm thủng tim nạn nhân. Đây là hành vi

cố ý. Trong  truờng hợp này pháp luật buộc bị cáo phải

nhận thức được là hành vi dùng dao đâm mạnh vào người

nạn nhân có thể dẫn đến hậu quả chết người. Nhưng bị

cáo vẫn thực hiện hành vi nguy hiểm và hậu quả là nạn

nhân bị chết. Như vậy, việc bị cáo nhận thức được hành vi

dùng dao đâm về phía nạn nhân là rất nguy hiểm và thấy

được hậu quả chết người sẽ xảy ra, tuy nhiên, theo bị cáo

khai là không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng không có

biện pháp phòng ngừa, để mặc cho hậu quả xảy ra. Do

vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi giết người với

lỗi cố ý gián tiếp (cố ý về hành vi nhưng vô ý về hậu quả).

Về tội danh như luật sư đưa ra là không rõ ràng - có thể vô

ý làm chết người, có thể cố ý gây thương tích. Việc luật sư

đưa ra quan điểm chưa rõ ràng về tội danh không chỉ nói

lên trách nhiệm chưa đầy đủ của luật sư trước thân chủ

của mình mà còn khẳng đinh quan điểm về tội danh của

Viện kiểm sát là có căn cứ. Cách lập luận của Kiểm sát

viên vận dụng lý luận về lỗi - lỗi cố ý gián tiếp - được dư

luận và Hội đồng xét xử đồng tình.

Ví dụ 5, Vụ án làm nhục tại tỉnh Quảng Ngài.

Nguyễn Đúng cùng vợ do tranh chấp đất với mẹ đẻ nên

đã có hành vi dùng giây trói và cởi quần, áo của mẹ mình

là bà Dung. Tại phiên toà bị cáo không nhận tội và đổ cho

bà Dung tự trói và tự cởi quần áo ra. Do nắm chắc các tình

tiết của vụ án và dự kiến chính xác các tình huống xảy ra

tại phiên toà nên Kiểm sát viên đã đối đáp có kết quả với

bị cáo: Bà Dung năm nay đã ngoài 70 tuổi thì không thể tự

trói mình được, hơn nữa lại trói phía sau. Mặt khác bà Dung

đã bị trói thì không thể  tự cởi quần áo được. Điều này càng

chứng minh những nội dung trình bày của bị cáo là vô lý,

không đúng với thực tế, cho nên không chấp nhận lời khai

của bị cáo tại phiên toà. Vì vậy, với các căn cứ đã được làm

sáng tỏ tại phiên toà Viện kiểm sát thấy có cơ sở bác bỏ lời

khai của bi cáo vì mâu thuẫn với thực tế khách quan và một

lần nữa khẳng đinh cáo trạng truy tố bi cáo về tội làm nhục

là có căn cứ và đúng pháp luật. Đối đáp trên đây của Kiểm

sát viên được Hội đồng xét xử và dư luận đồng tình(1).

Ba là, kỹ năng đối đáp với quan điểm về hành vi không cấu

thành tội. Về quan điểm này chúng ta thấy bị cáo, người bào chữa

thừa nhận bị cáo có hành vi trái pháp luật nhưng hành vi đó không

cấu thành tội phạm. Đó là các trường hợp thường gặp như: không

có hậu quả xảy ra (đối với các tội có yếu tố bắt buộc là phải có hậu

quả xảy ra như: lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều

140 BLHS, tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến

tài sản theo Điều 144 BLHS, tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng

đến tài sản theo Điều 145 BLHS, tội cố ý làm trái quy định của

Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều

165 BLHS...Hoặc là đối với một số loại tội bị cáo, người bào chữa

cho rằng có sự đồng ý của người bị hại như tội hiếp dâm theo Điều

111 BLHS. Cũng có trường hợp bị cáo, người bào chữa cho rằng đó

là sự kiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng, tình thế khẩn cấp. Đây là

những trường hợp cũng khá phức tạp về lý luận và thực tiễn. Do

vậy Kiểm sát viên phải nắm chắc các tình tiết nội dung vụ án,

động cơ, mục đích phạm tội, các dấu hiệu đặc trưng của từng loại

tội Trên cơ sở đó xây dựng cho mình quan điểm bảo vệ cáo trạng

có lý có tình, tạo sự ủng hộ, đồng tình của dư luận.

Ví dụ 1, Vụ án Lã Thị Kim Oanh phạm tội tham ô tài

sản và cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh

tế gây hậu quả nghiêm trọng.

Trong vụ án này các luật sư khi bào chữa cho bị cáo đã

đưa ra quan điểm: Trong cơ chế thị trường, Giám đốc ãà

(1) nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

Thị Kim Oanh có quyền được tự chủ trong hoạt động sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, việc Lã Thị

Kim Oanh vay tiền ở ngân hàng nào, đưa vào công trình

nào và sử dụng ra sao là thuộc thẩm quyền của Giám đốc.

Vì vậy hành vi của bị cáo Lã Thị Kim Oanh không phạm tội

tham ô tài sản. Kiểm sát viên đã đối đáp lại ý kiến của luật

sư: Cơ chế kinh tế thị trường ở nước ta là cơ chế kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong cơ chế đó có sự

quản lý của Nhà nước chứ không phải theo cơ chế thị

trường tự do. Vì vậy, hành vi của bị cáo vay vốn các ngân

hàng một cách tuỳ tiện, sau đó sử dụng các khoản tiền này

rất tuỳ tiện, nguồn vốn của các dự án nhóm A thì được

chuyển sang nhóm C rồi lập chứng từ khống để quyết toán

rút hàng tỷ đồng để chi tiêu cho cá nhân, gây thất thoát đặc

biệt lớn tài sản của Nhà nước. Hành vi của bị cáo Lã Thị

Kim Oanh đã phạm tội tham ô tài sản theo Điều 278 BLHS.

Vì vậy quan điểm của Viện kiểm sát truy tố Lã Thi Kim

Oanh về tội tham ô như cáo trạng là có căn cứ (1)

Ví dụ 2, Vụ án Trần Văn Quyền phạm tội lạm dụng tín

nhiệm chiếm đoạt tài sản xảy ra ở tỉnh Đồng Nai.

Trần Văn Quyền có hành vi vay tiền của các hộ dân với

số tiền 90 triệu đồng rồi bỏ trốn. Tại phiên toà, luật sư cho

rằng việc Trần Văn Quyền vay 90 triệu đồng của các hộ

dân có biên nhận là quan hệ dân sự. Hành vi vay tiền này

của bị cáo không cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm

đoạt tài sản như Viện kiểm sát truy tố. Trong phần đối đáp

của minh, Kiểm sát viên đã căn cứ vào các chứng cứ và

quy đinh của pháp luật để phân tích, kết luận vụ án này

như sau: Bị cáo Trần Văn Quyền đã có hành vi vay của

các hộ dân 90 triệu đồng. Nếu bị cáo thực hiện đúng như

cam kết là đến thời hạn trả nợ sòng phẳng cho các hộ dân

thi đúng như luật sư nêu đây là quan hệ dân sự. Nhưng

sau khi vay được tiền, bị cáo đã tìm cách trốn tránh việc

trả nợ bằng cách bỏ trốn. Căn cứ vào lời khai người làm

chứng lời khai của bị cáo thi sau khi vay được số tiền 90

triệu đồng của các hộ dân, bị cáo đã có hành vi bỏ trốn

nhằm chiếm đoạt số tiền vay này, thoái thác việc trả nợ

cho các hộ dân. Tại điểm a khoản 1 Điều 140 BLHS đã

(1)Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

quy định: "Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc

nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp

đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm

đoạt tài sản đó . Như vậy, căn cứ vào các quy đinh của

pháp luật thi hành vi vay tiền rồi bỏ trốn của bị cáo Trần

Văn Quyền đã cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm

đoạt tài sản theo Điều 140 BLHS. Do vậy, quan điểm của

Viện kiểm sát về hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm

chiếm đoạt tài sản của bị cáo Trần Văn Quyền như cáo

trạng truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật. Với cách lập

luận này, việc đối đáp của Kiểm sát viên được Hội đồng

xét xử và dư luận phiên toà đồng tình(1)

Ví dụ 3, Vụ án Nguyễn Ngọc Thăng phạm tội cướp tài

sản và giết người xảy ra tại tỉnh Điện Biên. Tại phiên toà

bị cáo, luật sư đưa ra lập luận bị cáo không phạm tội cướp

tài sản vì chưa lấy được tài sản của nạn nhân. Còn hành

vi giết người là trường hợp ngoài ý muốn do bị nạn nhân

phát hiện. Kiểm sát viên đã đối đáp bác bỏ quan điểm của

luật sư: Theo lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác cho

thấy vào thời điểm đó, bị cáo biết nạn nhân có món tiền

lớn vì mới bán đất nên đã có ý định chiếm đoạt số tiền này.

Theo bị cáo khai thì bi cáo đã có kế hoạch rất cụ thể. Bị cáo đã chuẩn 

bị sẵn một con dao nhọn và phục sẵn bên ngoài, chọn đúng thời điểm

 khi chỉ có một mình nạn nhân ở nhà để hoạt động. Khi nạn nhân mở của

 đi vệ sinh, bị cáo lẻn vào nhà sau đó dùng một sợi giây rất chắc để xiết

cổ nạn nhân nhằm không gây tiếng động. Nhưng khi thấy nạn nhân quay

 đầu lại thì bị cáo đã dùng dao đâm liên tiếp14 nhát vào cổ, người nạn nhân,

làm nạn nhân chất ngay tại chỗ. Sau đó bị cáo lục soát tìm tài sản nhưng không tìm được Như vậy, hành vi giết người của bị cáo là rõ ràng có căn cứ để kết luận: mục đích của việc giết người là nhằm cướp tài sản. Việc bị cáo không chiếm đoạt được tài sản là ngoài ý muốn của bị cáo. Với các chứng cứ được làm sáng

tỏ tại phiên toà lời khai của người bị hại, người làm chứng, đại diện gia đình người bị hại, các biên bản khám nghiệm tử thi vật chứng thu được . . . 

Viện kiểm sát có quan điểm kết luận bị cáo phạm tội giết người và

 cướp tài sản như cáo

trạng đã truy tố(1)

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

 

 

 

Ví dụ 4, Vụ án Nguyễn Văn Nhanh phạm tội hiếp dâm

Ở tỉnh Bạc Liêu.

Tại phiên toà, bị cáo thay đổi lời khai cho rằng việc

quan hệ tình dục là được người bị hại đồng ý và có hẹn

trước, do vậy việc truy tố bị cáo về tội hiếp dâm là oan.

Kiểm sát viên đã căn cứ các tình tiết của vụ án, các chứng

cử như lời khai người làm chứng, lời khai của người bị hại

và thực hiện việc đối đáp lại với bị cáo: Theo người bị hại

và những người làm chứng thì giữa bi cáo và người bị hại

không có quan hệ yêu đương từ trước, lúc quan hệ tình dục

người bị hại phản đối và đã chống cự, kêu la nhiều người

gần đó nghe thấy. Như vậy, việc bị cáo đã lợi dụng tình

trạng không thể tự vệ được của nạn nhân để có quan hệ

tình dục và trái với ý muốn của người bị hại là phạm tội

hiếp dâm. Bởi vì theo quy định tại khoản 1 Điều 111 BLHS

thì: "Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi

dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc

thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của

họ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm . Với các căn cứ

được điều tra công khai tại phiên toà có cơ sở kết luận bị cáo 

Nguyễn Văn Nhanh phạm tội hiếp dâm như cáo trạng của 

VKSND đã truy tố (1)

 

Bốn là, kỹ năng đối đáp với ý kiên cho rằng bị cáo không

phạm tội do có sự thay đổi của pháp luật. Thực tiễn truy tố xét

xử thời gian qua cho thấy có nhiều trường hợp khi tiến hành xét

xử có nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc xử

lý hành vi phạm tội của bị cáo như các quy định của Chính phủ,

các thông tư liên tịch của các ngành hướng dẫn thi hành pháp

luật, trong đó có thông tư liên tịch của các cơ quan tư pháp, các

nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn thi hành BLHS.

Ví dụ, BLHS có quy định các tình tiết "gây hậu quả nghiêm

trọng", "gây hậu quả rất nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt

nghiêm trọng" (từ Điều 133 đến Điều 140, Điều 142 và Điều 143

BLHS) đã được Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TATC-

VKSTC-BCA-BTP ngày 25.12.2001 đã hướng dẫn các quy định

này. Vì vậy, để thực hiện tốt việc đối đáp của mình, vấn đề quan

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

trọng là Kiểm sát viên phải cập nhật, nắm chắc các văn bản quy

phạm pháp luật này để vận dụng vào việc xác định hành vi phạm

tội của bị cáo và làm căn cứ để đối đáp với bị cáo, người bào chữa

và những người tham gia tố tụng khác. Nhiều trường hợp mặc dù

bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng đưa ra

nhiều ý kiến về quy định của pháp luật để phản bác cáo trạng của

Viện kiểm sát, nhưng do nắm chắc các quy định của pháp luật

nên Kiểm sát viên đã đối đáp có kết quả, bảo vệ thành công cáo

trạng của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, cũng có không ít trường hợp

do không nắm vững các quy định của pháp luật nên Kiểm sát

viên không đối đáp có kết quả với bị cáo.

Ví dụ, Vụ án Nguyễn Văn Thành và đồng bọn có hành

vi vận chuyển 1954 gói thuốc lá ngoại bi bắt quả tang ngày

26. 3. 2003.

Quá trình điều tra các bị cáo thừa nhận đã vận chuyển

từ biên giới Cămpuchia về Việt Nam bán với số lượng 14, 7

triệu bao thuốc lá ngoại, thu lợi bất chính 1,3 triệu đồng.

Căn cứ Chỉ thị số 278/CT ngày 03. 8. 1990 của Thủ tướng

Chính phủ và Thông tư liên ngành số 08/TT-LN ngày

18. 9. 1990 thì hành vi buôn bán thuốc lá do nước ngoài sản

xuất trên lãnh thổ Việt Nam bi xử lý về tội buôn bán hàng

cấm, do vậy Viện kiểm sát đã truy tố Nguyễn Văn Thành

và đồng bọn về tội buôn bán hàng cấm theo khoản 3 Điều

1 55 BLHS. Tuy nhiên, ngày 23. 0 1 . 2006 và ngày 12 . 6. 2006

Chính phủ đã ban hành hai Nghị đinh số 12/CP và số

59/CP về thi hành luật thương mại, trong đó quy đinh thuốc

lá ngoại không phải là mặt hàng cấm nhập khẩu, không

phải là hàng cấm. Trong trường hợp này, đến ngày các

Nghị định trên đây của Chính phủ có hiệu lực thi hành mà

vụ án vẫn được truy tố về tội buôn bán hàng cấm là không

đúng với quy định của pháp luật (1).

Như vậy, đối với các tội phạm đã được các văn bản quy phạm

pháp luật hướng dẫn thì khi đối đáp Kiểm sát viên phải nghiên

cứu thật kỹ để vận dụng chính xác vào quá trình giải quyết vụ án

(vụ việc)

Ví  dụ, Khi truy tố đối với hành vi đánh bạc, Kiểm sát

viên cần nắm vững các tình tiết vụ án và nghiên cứu kỹ các

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

văn bản hướng dẫn áp dụng Điều 248 BLHS để vận dụng

trong việc đối đáp. Điều 248 BLHS quy định: "1. Người nào

đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền

hay hiện vật có giá tri lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính

về hành vi quy định tại điều này. . . '? Vậy, hiểu như thế nào

là giá trị lớn? Trong thực tiễn giữa các cơ quan pháp luật,

giữa Kiểm sát viên và bị cáo, người bào chữa đã có tranh

luận trong thời gian khá dài về vấn đề này nhưng chưa

thống nhất. Để giải quyết vướng mắc này, Nghị quyết số

02/2003/NQ-HĐ TP ngày 17 . 4. 2003 đã quy định: "Tiền

hoặc hiện vật có giá trị từ 1 triệu đồng đến dưới 10 triệu

đồng là có giá trị lớn . Như vậy, nếu đánh bạc mà số tiền

chỉ dưới 1 triệu đồng mà chưa bị xử phạt hành chính về

hành vi quy định tại điều 248 và Điều 249 của Bộ luật hình

sự năm 1999 hoặc đã bị kết án về một trong các tội này?,

đã được xoá án tích thi không được coi là tội phạm. Đây là

các nội dung Kiểm sát viên cần nghiên cứu nắm vững để

vận dụng chính xác khi truy tố, xét xử.

Năm là, kỹ năng đối đáp với tình huống bào chữa về tội danh

khác nhẹ hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố. Đây là tình huống

mà trong thực tiễn thường hay xảy ra. Tình huống này cho thấy,

bị cáo và người bào chữa thừa nhận hành vi của bị cáo đã cấu

thành tội phạm, nhưng phạm tội nhẹ hơn tội Viện kiểm sát truy

tố Đây là các trường hợp thường xảy ra trong việc xác định ý thức

chủ quan của bị cáo đối với hành vi phạm tội giết người hay cố ý

gây thương tích; cố ý gây thương tích hay là vô ý gây thương tích.

Hoặc là trong việc xác định chủ thể của tội phạm tham Ô hay là

lạm dụng tín nhiệm. Cũng có trường hợp trong việc xác định yếu

tố dùng bạo lực đối với tội cướp hay cưỡng đoạt; có phòng vệ chính

đáng hay là vượt quá phòng vệ chính đáng. Đối với các trường hợp

này, Kiểm sát viên cần nắm vững các dấu hiệu đặc trưng của từng

loại tội và các tình tiết của vụ án để phân tích trong việc đối đáp

để bảo vệ cáo trạng.

Ví dụ 1, Vụ án Nguyễn Văn Việt phạm tội giết người ở

tỉnh Trà Vinh.

Do tranh chấp đất nên giữa ông Nguyễn Văn Dũng và

Nguyễn Văn Việt đã có cãi cọ và xảy ra mâu thuẫn. Ngày

18 . 6. 2004, trong lúc ông Dũng đang làm đồng thì bị

Nguyễn Văn Việt dùng búa đánh nhiều nhát vào đầu làm

ông Dũng ngã và bất tỉnh. Sau đó Việt bỏ mặc ông Dũng

bị thương, nhưng nhờ được nhân dân kịp thời đưa đi cấp

cứu nên ông Việt không chết. Giám đinh tỷ lệ thương tật

của ông Dũng là 53, 1 7% sức khoẻ. Trong quá trình xét xử,

bi cáo và luật.sư cho rằng hành vi của bi cáo chỉ phạm tội

cố ý gây thương tích theo Điều 104 BLHS. Kiểm sát viên

đã đối đáp lại Bị cáo dừng búa đánh mạnh nhiều nhát vào

đầu nạn nhân. Khi nạn nhân bị đánh ngã và ngất xỉu, bi

cáo không có biện pháp cấp cứu mà bỏ mặc. Do vậy,

chứng tỏ hành vi của bị cáo rất nguy hiểm, xâm phạm vào

quyền sống của con người. Ý thức của bị cáo thấy được

hành vi dùng búa đánh nhiều nhát vào đầu nạn nhân là rất

nguy hiểm và thấy trước hậu quả có thể xảy ra là ông

Dũng chết, nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi nhằm cướp

đi sinh mạng của ông Việt. Việc ông Dũng không chết là

do được nhân dân đưa đi cấp cứu kịp thời. Vì vậy, hành vi

của bị cáo đã phạm tội giết người được quy định tại Điều

93 BLHS, chứ không phải tội cố ý gây thương tích như bi

cáo và luật sư bào chữa. Nội dung đối đáp của Kiểm sát

viên được dư luận và Hội đồng xét xử đồng tình(1).

Ví dụ 2, Vụ án Võ Minh Trường phạm tội cố ý gây

thương tích ở tỉnh Phú Yên.

Bi cáo Trường có hành vi dùng dao Thái Lan đâm vào

bụng người bi hại, gây thương tích 32% sức khoẻ. Tại

phiên toà, luật sư bào chữa cho bị cáo lập luận bị cáo có

hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố là đúng. Tuy nhiên,

lúc đầu luật sư cho rằng bi cáo phạm tội cố ý, nhưng sau

đó lại nói là vô ý. Kiểm sát viên đã căn cứ vào vết thương

của người bị hại và hung khí gây án để khẳng định: việc bị

cáo dùng dao Thái Lan đâm vào bụng nạn nhân, hậu quả

làm thủng dạ dày thì không thể là hành vi với hình thức lỗi

vô ý được Bởi vi, bị cáo thực hiện hành vi dùng dao Thái

Lan đâm vào bụng nạn nhân là nhận thức rõ tính chất nguy

hiểm cho xã hội của hành vi đang thực hiện và thấy trước

được hậu quả do hành vi gây ra và mong muốn hậu quả

xảy ra (dao nhọn đâm vào bụng thì chắc chắn sẽ làm người

bị hại thương tích) chứ không phải không mong muốn hậu

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

quả xảy ra như tội vô ý. Mặt khác, trong lời trình bày của

mình, quan điểm của luật sư không vững vàng, có lúc luật

sư cho đây là cố ý, có lúc lại cho đây là vô ý. Điều đó càng

khẳng định quan điểm của Viện kiểm sát về hành vi của bị

cáo cấu thành tội cố ý gây thương tích là có căn cứ(1)

Ví dụ 3, Vụ án Phan Thị Thu cùng đồng bọn có hành vi

lập chứng từ khống để nhận thuốc từ kho của bệnh viện

Đa khoa Long An (tỉnh Long An) bán lấy tiền chia nhau.

Tại phiên toà, bị cáo và luật sư cho rằng các bị cáo chỉ

phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 BLHS.

Kiểm sát viên đã căn cứ vào chức vụ của bị cáo để đối đáp

như sau: Bị cáo Phan Thị Thu là Điều dưỡng viên hành

chính. Đây là một chức danh theo quy định của Bộ y tế và

được lãnh đạo bệnh viện bổ nhiệm, phân công. Như vậy,

bị cáo Thu là người có chức vụ quyền hạn nhất định. Bị

cáo và luật sư bào chữa cho rằng bị cáo Thu không có

chức vụ quyền hạn là chưa chính xác với thực tế. Tuy các

khoa của bệnh viện không có con dấu riêng, không có tài

khoản riêng nhưng chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám

đốc bệnh viện. Các bị cáo lợi dụng chức vụ, quyền hạn

trong việc lập chứng từ khống để nhận thuốc từ kho của

bệnh viện. Chỉ có bị cáo có chức vụ ấy mới được nhận

thuốc từ kho của bệnh viện. Tại thời điểm thuốc từ kho của

bệnh viện được chuyển cho bị cáo là tài sản thuộc quyền

quản lý của bị cáo. Như vậy, bi cáo đã sử dụng chức trách

của mình để nhận thuốc từ kho của bệnh viện về rồi bán

chia nhau là làm trái các quy đinh về chế độ quản lý tài

sản. Để chiếm đoạt số thuốc của bệnh viện, bi cáo có thủ

đoạn gian dối để che dấu hành vi phạm tội như lập chứng

từ khống. Việc lập chứng từ khống để chiếm đoạt tài sản

là thủ đoạn gian dối của người có chức vụ, quyền hạn khi

thực hiện hành vi tham ô, chứ không phải là dấu hiệu của

tội lừa đảo như bị cáo và luật sư bào chữa. Với cách lập

luận như trên đã có sức thuyết phục Hội đồng xét xử (1)

Ví dụ 4, Vụ án Bùi Khắc Hoan và đồng bọn phạm tội

cướp tài sản ở tỉnh Ninh Bình.

Bùi Khắc Hoan, Trương Huy Chính, Quách Văn ý có

hành vi chặn xe ôm vào ban đêm để xin tiền lái xe, trên xe

(1) Ngồn hồ sơ vụ án tại VKSNDTC

có lái xe, phụ xe. Bị cáo Chính nhảy lên xe xin tiền và túm

cổ áo lái xe doạ không cho ra khỏi khu vực. V lái xe chần

chừ không cho nên bị cáo ý nhặt gạch ném vỡ đèn xe. Tại

phiên toà, bị cáo chối tội và cho rằng người bi hại chưa lâm

vào tình trạng tê liệt ý chí Hội đồng cũng nghiêng về quan

điểm này và cho rằng hành vi của các bị cáo có dấu hiệu

của tội cưỡng đoạt tài sản. Do có sự chuẩn bị kỹ từ trước,

dự kiến đúng các tình huống xảy ra tại phiên toà, Kiểm sát

viên đã tiến hành xét hỏi, làm rõ ý thức chủ quan của từng

bị cáo và tiến hành đối đáp: Tại phiên toà các bị cáo đã thừa

nhận "Có nói với lái xe là con nghiện đang lên cơn, cần tiền '?

Đồng thời, các bi cáo cũng đã thừa nhận có hành vi đập phá

xe ôm, bắt người bị hại đưa tiền, túm cổ áo lái xe đe doạ vào

đêm tối. Như vậy, các bị cáo đã dùng lời nói và cử chỉ để đe

doạ nạn nhân. Việc đe doạ này xảy ra trong mối tương quan

lực lượng có lợi cho bị cáo (bị cáo có 3 người, người bị hại

có hai người). Đặc biệt 3 bị cáo tự nhận là con nghiện đang

lên cơn và xảy ra giữa đêm tối. Trong thực tiễn, nhiều vụ án

cướp của, giết người mà bị cáo là các con nghiện đã có

những hành vi rất liều lĩnh, manh động và dã man. Với hoàn

cảnh xảy ra như vậy, sự đe doạ của các bị cáo làm cho nạn

nhân thấy rằng vũ lực sẽ xảy ra ngay nếu như không đưa tài

sản cho chúng. Như vậy, hành vi đe doạ của bị cáo đã chứa

đựng yếu tố dùng vũ lực ngay tức khắc. Vì vậy, cần xét xử

các bị cáo tội cướp tài sản như cáo trạng của Viện kiểm sát

đã truy tố. Trên cơ sớ phân tích như trên, Hội đồng xét xử đã

nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát (1).

Sáu là kỹ năng đối đáp với tình huống bào chữa cho rằng bị cáo

phạm tội về khoản khác nhẹ hơn khoản mà Viện kiểm sát truy tố.

Đây là các tình huống trong thực tế cũng thường xảy ra. Để đối

đáp với các tình huống này, Kiểm sát viên cần nắm vững các quy

định của pháp luật để vận dụng cho phù hợp với tính chất, mức độ

của hành vi phạm tội. Bộ luật hình sự năm 1999 có nhiều quy định

nhưng thực tiễn truy tố, xét xử có nhiều vướng mắc trong nhận

thức giữa các cơ quan pháp luật. Đó là các quy định thế nào là gây

cố tật nhẹ (điểm b khoản 1 Điều 104 BLHS); vũ khí, phương tiện

hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác (điểm d khoản 2 Điều 133 BLHS);

tình tiết có giá trị lớn, có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn (Điều 248

BLHS); quy mô lớn, thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn

(Điều 249 BLHS); dùng hung khí nguy hiểm, phạm tội nhiều lần

đối với cùng một người hoặc nhiều người (điểm a, c khoản 1 Điều

104 BLHS); phạm tội nhiều lần (điểm c khoản 2 Điều 254 BLHS);

phạm tội có tính chất chuyên nghiệp (điểm b khoản 1 Điều 48

BLHS); về việc xác định trách nhiệm hình sự đối với người chưa

thành niên; quyết định hình phạt tù đối với người chưa thành niên

từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi; về một số tình tiết là yếu tố định tội

hoặc định khung hình phạt . . . Những vấn đề trên đây đã được nghị

quyết của Hội đồng Thẩm phán hoặc thông tư liên tịch hướng dẫn

cụ thể, các Kiểm sát viên cần nắm vững để làm căn cứ đối đáp với

các ý kiến đề nghị xét giảm nhẹ hình phạt. Đồng thời, Kiểm sát

viên phải vận dụng các quy định của các văn bản hướng dẫn áp

dụng một số quy định của BLHS để giải quyết vụ việc có hiệu quả.

Ngoài ra, Kiểm sát viên cần bám sát các tình tiết của vụ án để

phân tích và đối đáp cho phù hợp các quy định của pháp luật.

Ví dụ 1, Vụ án Nguyễn Văn Điều vì mâu thuẫn ghen

tuông nên đã dùng cành cây đánh chị Hoàng Chung Thuỷ

bị thương với thương tật 27%. Viện kiểm sát truy tố bị cáo

về tội cây gây thương tích... theo điểm a khoản 2 Điều 104

BLHS và đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo Điều từ 3

năm đến 4 năm tù. Trong quá trình xét xử, hành vi phạm

tội đã được xét hỏi công khai làm rõ, bi cáo nhận tội như

cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, chỉ đề nghị Hội đồng

xét xử xem xét áp dụng khoản 2 Điều 46 BLHS cho giảm

nhẹ hình phạt vì bị cáo có thành tích xuất sắc trong công

tác được thủ trưởng đơn vi tặng giấy khen. Đồng thời,

người bi hại cũng đề nghị được giảm nhẹ cho bi cáo. Khi

đối đáp lại Kiểm sát viên đã viện dẫn các căn cứ pháp luật

để khẳng đinh: Bị cáo Nguyễn Văn Điều có thành tích

trong công tác và được tặng giấy khen là có thật. Tuy

nhiên, hình thức khen thưởng là giấy khen của thủ trưởng

đơn vị không được xem là tình tiết giảm nhẹ. Bới vì, căn cứ

Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐ TP ngày 04. 8. 2000 của Hội

đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp

dụng một số quy định trong phần chung của BLHS năm

1999 trong đó có điểm s khoản 1 Điều 46 BLHS đã xác

đinh: "người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến

đấu học tập hoặc công tác là người được thưởng Huân

chương, Huy chương, Bằng khen, Bằng lao động sáng tạo

hoặc có sáng chế, phát minh có giá trị lớn hoặc nhiều năm

là chiến sĩ thi đua . . . '? Với cách viện dẫn này Kiểm sát viên

không những bác bỏ có căn cứ những đề nghị của bị cáo

mà còn có tác dụng thuyết phục Hội đồng xét xử và những

người tham gia phiên toà(1).

Ví dụ 2, Vụ án Đồng Thế Chẩn phạm tội cố ý gây

thương tích ở Quảng Ninh.

Đồng Thế Chẩn đã có hành vi dùng dao đâm người bị

hại gây thương tích, tổn hại sức khoẻ 36%. Tại phiên toà

bị cáo bào chữa là khi đang cầm dao ở tay, do người bị hại

xô vào nên dao đã va vào người vi vậy đã gây thương tích

cho người bị hại. Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng, bị

cáo có hành vi phạm tội gây thương tích trong trạng thái

tinh thần bị kích động mạnh theo Điều 105 BLHS. Kiểm

sát viên đã đối đáp với bị cáo và luật sư như sau: Việc khai

báo của bị cáo tại phiên toà có mâu thuẫn so với tại cơ

quan điều tra, đồng thời mâu thuẫn với kết quả giám định.

Kiểm sát viên đã công bố các lời khai của bị cáo tại cơ

quan điều tra, tiến hành thẩm vấn thêm làm rõ tư thế cầm

dao đâm, khoảng cách giữa bị cáo, người bị hại. Từ đó,

Kiểm sát viên phân tích và đi đến kết luận bị cáo không thể

vô ý tạo nên vết thương ở bụng và ở lưng của người bị hại

được. với các cơ chế hình thành vết thương, tư thế dùng

dao đâm như vậy có căn cứ khẳng đinh bị cáo đã có hành

vi nguy hiểm với quyết tâm đến cùng và mong muốn hậu

quả xảy ra. Kiểm sát viên đã viện dẫn lời khai của những

người làm chứng, của người bị hại để khẳng định người bị

hại không có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với bị

cáo Do vậy, với các chứng cứ đã được làm rõ tại phiên toà

không có cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội trong trạng thái

tinh thần bi kích động mạnh theo Điều 105 BLHS. Vì vậy,

việc truy tố bi cáo Đồng Thế Chẩn phạm tội cố ý gây

thương tích là có căn cứ. Nội dung đối đáp này đã được Hội

đồng xét xử ủng hộ (1).

Ví dụ 3, Vụ án Nguyễn Quốc Khánh cùng đồng bọn

phạm tội cướp giật tài sản.

Trong phần bào chữa, luật sư đã đưa ra nhiều tình tiết

(1)Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

(2)Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

 

giảm nhẹ để đề nghị Hội đồng xét xử quyết đinh hình phạt

dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã

quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn

của điều luật. Trong đó, có những tình tiết luật sư đưa ra

không đúng với quy định của pháp luật như tình tiết phạm

tội lần đầu. Kiểm sát viên đã căn cứ vào điểm h khoản 1

Điều 46 BLHS và tính chất của vụ án để đối đáp: Trong

trường hợp cụ thể này thì Ngyuyễn Quốc Khánh tuy phạm

tội lần đầu nhưng đây là trường hợp nghiêm trọng nên

không được áp dụng điểm h khoản 1 điều 46 BLHS. Bởi vì,

theo điểm h khoản 1 BLHS quy đinh "Phạm tội lần đầu và

thuộc trường hợp ít nghiêm trọng . Nguyễn Quốc Khánh và

đồng bọn phạm tội cướp giật có tổ chức, do vậy phải bị truy

cứu trách nhiệm hình sự theo điểm a khoản 2 Điều 136

BLHS. Đây là trường hợp phạm tội nghiêm trọng. Do vậy,.

trong vụ án này tuy bị cáo phạm tội lần đầu, nhưng thuộc

trường hợp nghiêm trọng, vì thế tình tiết phạm tội lần đầu

nhưng là trường hợp nghiêm trọng, nên không được coi là

tình tiết giảm nhẹ. Lời đối đáp của Kiểm sát viên đã được

Hội đồng xét xử nhất trí (1).

Ví dụ 4, Vụ án Trần Như Toàn phạm tội cây gây thương

tích ở tỉnh Nam Định.

Hai người bị hại trong vụ án này là 2 đồng chí Công

an xã với thương tích mỗi người là 23% và 11%. Tại

phiên toà, luật sư và người bị hại đưa ra quan điểm cho

rằng khi vụ án xảy ra người bị hại là người đang đi làm

nhiệm vụ. Do vậy, phải áp dụng điểm k khoản 1 và

khoản 2 Điều 104 BLHS để xử phạt nghiêm khắc các bị

cáo Tuy nhiên Kiểm sát viên đã căn cứ vào các chứng

cứ đã được làm rõ tại phiên toà để đối đáp: Căn cứ vào

các lời khai của bị cáo, bị hai, người làm chứng, tại thời

điểm xảy ra vụ án các người bị hại tuy là công an viên

nhưng không được phân công làm bất cứ nhiệm vụ gì và

như vậy không được coi người bị hại là người đang làm

nhiệm vụ. Vì vậy, không có căn cứ để áp dụng điểm k

khoản ~ và khoản 2 Điều 104 BLHS để truy cứu trách

nhiệm hình sự đối với bị cáo. Với các chứng cứ đã được

(1) Nguòn hồ sơ tại VKSNDTC

 

làm sáng rõ, vụ án này chỉ cần áp dụng khoản 1 Điều

104 BLHS để truy tố bị cáo như cáo trạng của Viện kiểm

sát là phù hợp. Quan điểm đối đáp của Kiểm sát viên đã

được Hội đồng xét xử nhất trí(1).

Đối với ý kiến của bị cáo và luật sư đề nghị cho hưởng án

treo thì các Kiểm sát viên cần nắm chắc quy định Điều 60 BLHS.

Điều 60 BLHS quy định điều kiện áp dụng án treo là: có mức phạt

tù không quá 3 năm; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ. Trong

thực tiễn áp dụng pháp luật, có nhiều trường hợp chúng ta chưa

phân định sự khác nhau giữa nhân thân và và hoàn cảnh gia

đình. Có trường hợp bị cáo có tiền án, tiền sự nhưng lấy lý do gia

đình có bố được thưởng huân chương để đề nghị cho hưởng án

treo. Điều kiện về nhân thân theo Điều 60 BLHS nói lên bị cáo là

người lần đầu phạm tội, không cần cách ly xã hội. Còn gia đình có

bố được thưởng huân chương thì đó là tình tiết giảm nhẹ theo

khoản 2 Điều 46 BLHS.

Bảy là, kỹ năng đối đáp với tình huống mà bị cáo, người bào

chữa và những người tham gia tố tụng cho rằng cần phải hoãn

phiên toà để trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để yêu cầu điều tra bổ sung

vô vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, bỏ lọt tội phạm và có

nhiều mâu thuẫn về chứng cứ.

Mặc dù hiện nay Bộ luật TTHS chưa quy định cụ thể về thủ tục

Toà án trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn đang xét

xử Nhưng trong thực tiễn xét xử tình hình này thường xảy ra.

Hàng năm số án bị Toà án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để yêu cầu

điều tra bổ sung 2 1 70 vụ án (trong đó, trả hồ sơ vì lý do về thủ tục

tố tụng chiếm 12%, vì lọt tội chiếm 9%) . . . Điều này có nghĩa là quá

trình thụ lý vụ án, khi thấy có một trong các trường hợp quy định

tại khoản 1 Điều 179 Bộ luật TTHS thì Hội đồng xét xử được ra

quyết định hoãn phiên toà, trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Theo quy

định tại khoản 2,3 Điều 199 Bộ luật TTHS thì một trong hai quyết

định mà Hội đồng xét xử phải thảo luận và thông qua tại phòng

nghị án có quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Điều đó có

nghĩa là tại phiên toà khi thấy có một trong các trường hợp quy

định tại khoản 1 Điều 179 Bộ luật TTHS thì Hội đồng xét xử ra

quyết định hoãn phiên toà, hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong nhiều

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

trường hợp theo đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử có thể

hoãn phiên toà, trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung. Tuy nhiên,

Bộ luật TTHS chưa quy định cụ thể nội dung này, do vậy quá trình

sửa đổi, bổ sung Bộ luật TTHS cần lưu ý nội dung này để quy định

cụ thể về việc trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung.

Đối với tình huống cho rằng vụ án có vi phạm nghiêm trọng

tô tụng hình sự. Kiểm sát viên cần nắm vững các quy định tại Nghị

quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05.11.2004 của Hội đồng Thẩm

phán TANDTC hướng dẫn như thế nào là vi phạm nghiêm trọng

thủ tục tố tụng. Tại điểm 4.4 của Nghị quyết trên đây đã khẳng

định: "Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tô/tụng là trường hợp Bộ luật

TTHS quy định bắt buộc phải tiên hành hoặc tiên hành theo thủ

tục tô tụng, nhưng cơ quan tiên hành tố tụng, ngưu tiên hành tôi

tụng bỏ qua hoặc thực hiện không đúng, xâm phạm nghiêm trọng

đên~quyền lợi của bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự,

bị đơn dân sự, người có quyên lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án

hoặc làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan, toàn diện".

Những dạng vi phạm thủ tục tố tụng thường bị người bào chữa

và những người tham gia tố tụng đề nghị Hội đồng xét xử trả lại hồ

sơ để yêu cầu điều tra bổ sung là các trường hợp liên quan đến việc

xác định sự thật vụ án. Đó là các trường hợp xác định tuổi phải chịu

trách nhiệm hình sự của bị cáo, tuổi của nạn nhân trong việc xác định

hiếp dâm hay hiếm dâm trẻ em; trong việc giám định, hoặc là các

trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự như về xử

lý tang vật, các trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa mà chưa

có sự tham gia của người bào chữa... Đối với các tình huống này Kiểm

sát viên phải nghiên cứu kỹ các ý kiến bào chữa đưa ra, đối chiếu với

các quy định của pháp luật để xem xét, chấp nhận hay bác bỏ.

Ví dụ 1, Vụ án Trịnh Quang Long và Lâm Ngọc Thái

phạm tội cây gây thương tích.

Tại phiên toà luật sư bào chữa cho bi cáo Trịnh Quang

Long cho rằng: Đây là bản giám định không khách quan,

bởi vì chỉ với một giám định viên thì không đủ khả năng

chuyên môn để giám đinh cho một con người. Mặt khác,

trong phần khám thương tích của biên bản giám đinh về vết

thương niệu đạo của Thuỷ, giám đinh viên có nêu tiết dịch

màu nâu có mùi hôi, do vậy vết thương tại niệu đạo của

Thuỷ không phải do Long gây ra mà do Thuỷ bi bệnh xã hội

trước khi bi Long đánh, nên không thể tính chung vào

thương tích do Long và Thái gây ra cho Thuỷ. Mặt khác,

việc xác định tỷ lệ thương tật (20%) tại niệu đạo của Thuỷ

là không có căn cứ. Kết luận của Giám đinh viên pháp y

Bệnh viện 109 Quân khu 11 đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục

TTHS và Pháp lệnh Giám đinh tư pháp, vi trong kết luận

không ghi trình độ văn hoá của Giám định viên và bản giám

định không đúng hình thức văn bản. Luật sư đề nghị Hội

đồng xét xử hoãn phiên toà trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để

điều tra giám đinh lại thương tích cho người bị hại. Kiểm sát

viên đã đối đáp: Luật sư cho rằng một Giám đinh viên thì

không đủ khả năng giám đinh thương tích, vì các bộ phận

trên cơ thể con người rất phức tạp là không có căn cứ. Bởi

vì Giám định viên là người có đầy đủ trình độ chuyên môn,

phẩm chất đạo đức và được cơ quan nhà nước có thẩm

quyền bổ nhiệm để làm công tác giám định. Việc luật sư cho

rằng vết thương niệu đạo của Thuỷ không phải do Long mà

do bệnh xã hội gây ra là không có căn cứ. V căn cử vào lời

khai của Thuỷ, Long và những người làm chứng đã xác định

chính Long đã gây thương tích tại niệu đạo của Thuỷ. Mặt

khác tại giấy chứng thương của bệnh viện Vun Phúc xác

định chảy máu đầu miệng sáo. Bệnh viện Bạch Mai đã chẩn

đoán: dập niệu đạo trước do bị đánh. Do vậy không thể cho

rằng vết thương tại niệu đạo của Thuỷ là do bệnh xã hội gây

ra. Việc áp dụng Mục 7 Chương VII của bản quy chế tiêu

chuẩn thương tật để xác định tỷ lệ thương tật tại niệu đạo

của Thuỷ là hoàn toàn chính xác vì dập niệu đạo cần được

hiểu là niệu đạo bi để theo nhiều chiều hướng. Việc kết luận

giám định không ghi trình độ văn hoá của Giám định viên

tuy có vi phạm thủ tục tố tụng, nhưng không phải là vi phạm

nghiêm trọng. Kết luận giám định do Giám định viên ký,

không vi phạm về hình thức văn bản theo Pháp lệnh Giám

định tư pháp. Từ những lập luận trên, Kiểm sát viên đề nghị

Hội đồng xét xử không trả lại hồ sơ mà tiếp tục tuyên án. Đề

nghị này được Hội đồng xét xử đồng ý(1)

Ví dụ 2, Vụ án Lê Văn Mạnh phạm tội giết người, hiếp

dâm Ở tỉnh Thanh Hoá.

Khoảng 1 7h ngà.y 2 1 . 3. 2005, Lê Văn Mạnh đã có hành

(1) Nguồn hồ sơ vụ án tại VKSNDTC

 

vi giết người và hiếp dâm cháu Hoàng Thị Loan. Người

bào chữa cho rằng đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng, bị

cáo cùng một lúc phạm 2 tội đặc biệt nghiêm trọng và có

nhiều tình tiết tăng nặng, mức hình phạt có thể tử hình,

nhưng quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không

có luật sư bào chữa theo quy đinh của pháp luật. Khoản

2 Điều 57 BỘ luật TTHS quy đinh: các trường hợp bị can,

bị cáo phạm tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là

tử hình; bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có

nhược điểm về tâm thần hoặc thể chết thì bắt buộc phải

có người bào chữa. Kiểm sát viên thấy rằng y kiến của

người bào chữa là có căn cứ, nên đồng ý với đề nghị của

người bào chữa(1)

Ví dụ 3, Vụ án Nguyễn Văn Phát phạm tội hiếp dâm và

giết người ở thành phố C.

Vụ án này bị cáo phạm hai tội đặc biệt nghiêm trọng

nhưng quá trình điều tra không mời luật sư tham gia tố

tụng là vi phạm khoản 2 Điều 57 Bộ luật TTHS. Người làm

chứng là cháu Nguyễn Văn Lên 10 tuổi, nhưng khi lấy lời

khai không có giám hộ của cháu Lên là vi phạm khoản 5

Điều 1 35 Bộ luật TTHS.

Ngày 26.01.2007, Cơ quan cảnh sát điều tra có Công

văn số 45/Ci6(P6), Bộ Công an hướng dẫn "Đối với các

trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa (khoản 2 Điều

57 Bộ luật TTHS) thi Cơ quan điều tra phải chủ động thực

hiện, đây là vấn đề bắt buộc. Nếu không thực hiện thì các

biên bản hỏi cung sẽ không có giá trị pháp luật . Ngày

28.02.2007 Toà án nhân dân tối cao có Công văn số

26/KHSX hường dẫn: sau khi thụ lý vụ án và qua nghiên

cứu hồ sơ vụ án, nếu xét thấy trường hợp bắt buộc phải có

người bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 57 của Bộ

luật TTHS, mà các giai đoạn tố tụng trước đó chưa có sự

tham gia của người bào chữa (trừ trường hợp bị can, bị cáo

và người đại diện hợp pháp của họ từ chối người bào chữa)

thi tuỳ từng trường hợp cụ thể mà giải quyết như sau:

"1. Trường hợp thụ lý để xét xử sơ thẩm, thì Toà án căn

cứ vào điểm c khoản 1 Điều 1 79 của Bộ luật tố tụng hìnhkhi xét xử

(1) Ngồn hồ sơ tại VKSNDTC

 

phúc thẩm Toà án cấp phúc thẩm căn cứ Điều 250 của Bộ

luật tố tụng kinh sự huỷ án sơ thẩm để điều tra lại (nếu các

giai đoạn tố tụng trước khi xét xử sơ thẩm chưa có sự tham

sự trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để điều tra bố sung.

2. Trường hợp thụ lý để xét xử phúc thẩm, thi 

gia của người bào chữa) hoặc huỷ án để xét xử lại (nếu các

giai đoạn tố tụng trước khi xét xử sơ thẩm đã có sự tham

gia của người bào chữa, nhưng ở giai đoạn xét xử sơ thẩm

không có sự tham gia của người bào chữa(1).

Do vậy, đối với vụ án trên đây, nếu chưa truy tố thì Kiểm sát

viên phải căn cứ khoản 3 Điều 168 Bộ luật TTHS trả hồ sơ cho cơ

quan điều tra để yêu cầu điều tra bổ sung; nếu đã truy tố và phiên

toà đang xét xử sơ thẩm thì Kiểm sát viên căn cứ vào các Điều 179,

199 Bộ luật TTHS để đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra

bổ sung. Nếu đang xét xử phúc thẩm thì Kiểm sát viên căn cứ Điều

250 Bộ luật TTHS để đề nghị Hội đồng xét xử huỷ án sơ thẩm để

yêu cầu điều tra lại (nếu quá trình điều tra chưa có sự tham gia

của người bào chữa); huỷ án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại (nếu

phiên toà sơ thẩm không có luật sư bào chữa cho bị cáo).

Đối với tình huống vụ án có nhiều mâu thuẫn về chứng cứ, cần

trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung. Đây là các trường hợp mà qua xét

hỏi công khai có nhiều tình tiết của vụ án chưa được làm sáng rõ.

Trong trường hợp này Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ các đề nghị

của bị cáo, người bào chữa và các quy định của pháp luật để xem

xét chấp nhận hay bác bỏ.

Ví dụ 1, Vụ án Lê Ngọc Kiều phạm tội chứa mại dâm Ở

tỉnh Long An.

Tại phiên toà lời khai của bị cáo và người làm chứng có 

nhiều mâu thuẫn. Bị cáo một mực kêu oan cho rằng  bị cáo

không có hành vi tổ chức chứa mại dâm. Việc bán dâm là

do tiếp viên, bị cáo hoàn toàn không biết. Trong khi đó, người bán

dâm và người mua dâm không có mặt tại phiên tòa. Qúa trình điều tra

không được tiến hành đối chất. Trong lúc đó, luật sư bào chữa cho bị 

 cáo đề nghị  cho hoãn phiên tòa để điều tra bổ sung. Như vậy, việc luật

sư đề nghị trả hồ sơ để điều tra bổ sung là có căn cứ, Kiểm sát viên cần ủng hộ

quan điểm trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Đây là vụ án mà trong quá trình điều tra và kiểm sát điều tra còn có nhiều thiếu sót, cần phải được điều tra củng cố thêm cứng cứ.(1) 

Ví dụ 2, Vụ án đưa và nhận hối lộ tại Công ty Cổ phần

bảo hiểm Petrolimex (PJICO).

Tại phiên toà ngày 11.4.2007, trong phần thẩm vấn, bi

cáo Phan Hồng Thu đã khai về việc Cơ quan điều tra

không "sờ" tới hai hợp đồng dịch vụ có ý nghĩa quan trọng

quyết đinh tính chất của vụ án. Phan Hồng Thu khai rằng

việc làm của minh là do bị "ấp"/ầm theo "kịch bản" của luật

sư (bên Công ty Việt Thái Phong) và Trần Nghĩa Vinh. Để

được chi tiền bảo hiểm, Thu phải chấp nhận "thương lượng"

và được gợi ý phải chi hoa hồng 50% số tiền bảo hiểm 3, 8

tỷ Tại Toà, luật sư bào chữa cho bị cáo Phan Hồng Thu đã

đưa ra một số ch~lg cứ quan trọng về PJICO đã mua tái

bảo hiểm lô hàng tại một công ty ở Xinhgapo với mức 80%

giá tri bảo hiểm. Điều này đã được đại diện của PJICO thừa

nhận trước Toà là có thật. Luật sư ĐỖ Thi Thanh Tâm đã

nói. "Có tài liệu chứng minh PJICO đã nhận hai lần tổng

cộng gần 1 50. 000USA tiến tái bảo hiểm . Ngày 18 . 4. 2005,

thực hiện trách nhiệm chi trả bồi thường việc tái bảo hiểm

nói trên, phía Xinhgapo đã chấp nhận thanh toán đợt một

gần 100. 000USD cho PJICO. Sự việc này xảy ra một tháng

sau khi PJICO chấp nhận thanh toán bảo hiểm 3, 8 tỷ đồng

cho Công ty Việt Thái Phong. Tuy nhiên, vấn đề đó đã

không được đề cập trong cáo trạng của Viện kiểm sát.

Theo các luật sư, đây là các tình tiết mới cần được xem xét

lại để xác định rõ mức độ thiệt hại của PJICO trong vụ án.

Trên cơ sở các tài liệu do bị cáo và luật sư đưa ra, Kiểm

sát viên thấy đây là các chứng cứ cần phải được tiếp tục

điều tra làm rõ, nên đã đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ

để điều tra bổ sung. Chiều ngày 11.4.2007, Hội đồng xét

xử đã cho tạm dừng phiên toà, trả hồ sơ vụ án cho Viện

kiểm sát để điều tra bổ sung(2)

- Đối với tình huống vụ án có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, cần trả

lại hồ sơ để điều tra bổ sung.

Tình huống này có thể xảy ra khi bị cáo, người bào chữa, người

tham gia những đưa ra lập luận cho rằng quá trình điều tra, truy

(1) Nguồn hồ sơ tại VKSNDTC

tố đã bỏ lọt hành vi phạm tội và người phạm tội và yêu cầu trả hồ

sơ để điều tra bổ sung. Trong các tình huống này Kiểm sát viên

phải nghiên cứu kỹ những nội dung họ nêu ra. Đồng thời đối chiếu

với các tình tiết của vụ án đã được làm rõ tại phiên toà. Trên cơ sở

đó phân tích, đánh giá và kết luận về việc các cơ quan pháp luật có

bỏ lọt hành vi phạm tội và người phạm tội hay không như ý kiến

của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng. Nếu

qua nghiên cứu thấy có căn cứ xác định là không có việc để lọt

hành vi phạm tội và tội phạm thì bác bỏ ý kiến cho rằng vụ án này

lọt tội phạm. Trong trường hợp nếu có dấu hiệu bỏ lọt hành vi

phạm tội hoặc người phạm tội thì có thể đề xuất Hội đồng xét xử

sẽ khởi tố bị can để tiếp tục điều tra xử lý sau, hoặc có thể đề nghị

Hội đồng xét xử trả Hồ sơ điều tra bổ sung.

Ví dụ 1, Vụ án Trần Huy Hùng trộm cắp 3 xe máy bị

Viện kiểm sát truy tố theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình

sự về tội trộm cắp tài sản.

Tại phiên toà, qua xét hỏi bị cáo Hùng đã nhận toàn bộ

hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy

tố Đồng thời bị cáo còn khai thêm số xe máy trên đây

được Nguyễn Tài tiêu thụ. Bị cáo và đại diện người bị hại

yêu cầu khởi tố Nguyễn Tài để xử lý cùng vụ án, như vậy

mới bảo đảm công bằng. Kiểm sát viên đã đối đáp lại như

sau: Tại phiên toà bị cáo khai thêm người tiêu thụ xe máy

là Nguyễn Tài. Tuy nhiên hành vi tiêu thụ xe máy của

Nguyễn Tài chưa được điều tra, xác minh, đồng thời hành

vi tiêu thụ xe máy nếu có thì đó là hành vi độc lập, sẽ được

xử lý theo Điều 250 BLHS về tội "Chứa chấp hoặc tiêu thụ

tài sản do người khác phạm tội mà có , không ảnh hưởng

đến việc xử lý hành vi phạm tội của bị cáo Trần Huy Hùng.

Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử và tuyên án

đối với hành vi phạm tội của bị cáo Trần Huy Hùng về tội

trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 138 BLHS. Đối với

hành vi tiêu thu 3 xe máy của Nguyễn Tài đề nghị tách ra

để khởi tố điều tra về vụ án khác. Nội dung đối đáp của

Kiểm sát viên được Hội đồng xét xử chấp nhận (1).

Ví dụ 2, Vụ án Nguyễn Thị Liên phạm tội thiếu trách

nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.

Bị cáo Nguyễn Thị Liên là thủ quỹ đơn vị nhưng để mất

(1) Nguồn hồ sơ vụ án tại VKSNDTC

52 triệu đồng. Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm

tội như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Tuy nhiên, bi

cáo xuất trinh tài liệu chứng minh trong số tiền bị thiếu hụt

đó có rất nhiều khoản do Thủ trưởng đơn vị là Lê Hoàng

chỉ đạo Luật sư bảo vệ cho bị cáo đề nghị trả hồ sơ để

điều tra bổ sung. Kiểm sát viên qua thẩm vấn bị cáo thấy

đề nghị của luật sinh có căn cứ. Bởi vi, vụ án này cần làm

rõ vai trò của Lê Hoàng trong việc chỉ đạo bị cáo rút tiền

ra sử dụng ra sao, việc này có liên quan đến xác định tính

chất của vụ án. Đây có phải là vụ án có tổ chức hay không,

vai trò trách nhiệm của bị cáo như thế nào? V vậy, Kiểm

sát viên đồng ý với ý kiến của luật sư là phải trả hồ sơ để

điều tra bổ sung (1)

Ví dụ 3, Trong vụ án Phạm Hồng Quân phạm tội vi

phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông

đường bộ theo Điều 202 Bộ luật hình sự tại Hà NỘL Người

bị hại và luật sư yêu cầu xử lý hình sự những cán bộ điều

tra vì thiếu trách nhiệm làm cho vụ án bị kéo dài và không

chính xác. Về nội dung này Kiểm sát viên đã đối đáp:

chương IV. Kỹ năng thực hành quyền công tố tại phiên toà HS sơ thẩm

Những vi phạm của các cán bộ giải quyết vụ án này như

sửa chữa sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện

trường, không đưa Bản kết luận giám định số 3418 vào hồ

sơ vụ án là vi phạm nghiêm trọng và Viện kiểm sát nhân

dân tối cao đã có Văn bản số 666/KSĐT ngày 14.3.2006

yêu cầu Bộ Công an chỉ đạo làm rõ trách nhiệm để xử lý

nghiêm túc những người tham gia giải quyết vụ án này. Sau

đó Công an Hà Nội đã có kỷ luật nghiêm khắc đối với 8

cán bộ tham gia giải quyết vụ án này. Tại phiên toà, các

cán bộ này cũng có mặt với tư cách người làm chứng và đã

trình bày các sai sót, khuyết điểm của minh trong việc giải

quyết vụ án. Đặc biệt, tại phiên toà, các cán bộ này không

chỉ nhận khuyết điểm của mình khi tham gia giải quyết vụ

án mà còn có lời xin lỗi gia tỉnh nạn nhận. Sau đó không

khí căng thẳng tại phiên toà được lắng dịu (2).

Tám là, kỹ năng đối đáp với ý kiến của người bị hại, bị đơn dân

sự, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan,

(1)Ngồn hồ sơ vụ án tại VKSNDTC.

(2) Nguồn hồ sơ vụ án tại VKSNDTC

người bảo vệ quyền lợi của những ngưu này, người tham gia tô

tụng về bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

Đây là các trường hợp mà trong thực tiễn truy tố, xét xử thường

xảy ra nhiều. Nhiều trường hợp giải quyết tốt nhưng cũng có nhiều

trường hợp giải quyết không đúng, dẫn đến khiếu kiện kéo dài.

Một trong những nguyên nhân đã đề cập ở phần trên, một số Kiểm

sát viên chỉ quan tâm đến lĩnh vực hình sự, ít quan tâm đến vấn

đề dân sự trong vụ án hình sự, coi đây là việc của Toà án. Mặt

khác, do nhận thức của một số Kiểm sát viên về nội dung đòi bồi

thường thiệt hại trong vụ án hình sự không đúng với các quy định

của pháp luật. Do vậy, trong quá trình xét xử, nhiều ý kiến của

người bị hại, bị đơn dân sự, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi

nghĩa vụ liên quan, người bào chữa cho những người này đưa ra đề

nghị giải quyết việc bồi thường thiệt hại thì Kiểm sát viên lúng túng,

có việc đối đáp không đúng quy định của pháp luật. Về bồi thường

thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra đã được Hội đồng Thẩm phán

Toà án nhân dân tối cao quy định tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-

HĐTP ngày 08.7.2006. Đây là Nghị quyết quan trọng nên các Kiểm

sát viên cần quán triệt, nắm vững để đối đáp tại phiên toà. Nội dung

đòi bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra có nhiều, sau đây

chúng ta nghiên cứu một số kỹ năng đối đáp đặc trưng:

- Đối với tình huống về đề nghị xác định người có trách nhiệm

bồi thường thiệt hại. Đây là các trường hợp do người bị hại, nguyên

đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan,

người bảo vệ quyền lợi cho những người này đề nghị. Những trường

hợp này thường xảy ra trong các vụ án vi phạm quy định về an toàn

giao thông đường bộ theo Điều 202 BLHS. Bởi vì, với cơ chế kinh tế

thị trường hiện nay, để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, nhiều

người đã đầu tư mua xe mô và thuê người lái xe điều khiển xe ôm

để kinh doanh vận tải. Quá trình điều khiển xe ôm, do không chấp

hành luật giao thông đường bộ, gây tai nạn làm chết người. Hoặc là

trong trường hợp người điều khiển xe máy gây tai nạn nghiêm

trọng mà người điều khiển xe chưa thành niên. . . Trong các trường

hợp trên, để đảm bảo việc giải quyết bồi thường thiệt hại có kết quả,

vấn đề quan trọng là phải xác định chính xác ai là người có trách

nhiệm bồi thường? Nhiều trường hợp do việc nghiên cứu không kỹ

các quy định của pháp luật nên trước các yêu cầu của những người

tham gia tố tụng đưa ra về xác định người có trách nhiệm bồi

thường, Kiểm sát viên đã có những lúng túng khi xử lý tình huống

này. Để đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng do hành vi phạm tội gây ra, Kiểm sát viên cần xác

định chính xác mối quan hệ về sở hữu giữa người trực tiếp gây ra

tai nạn này với phương tiện gây ra tai nạn đó; mối quan hệ giữa

người gây ra tai nạn với người đỡ đầu người đó. Nếu như trong vụ

án hình sự, việc xác định trách nhiệm hình sự chủ yếu dựa trên việc

xác định chính xác người trực tiếp gây ra tai nạn, thì trong việc giải

quyết việc bồi thường ngoài hợp đồng vấn đề quan trọng là xác định

đúng các mối quan hệ trên đây: Ai là người sở hữu phương tiện đó?

Nếu người gây tai nạn là người chưa thành niên thì ai là bố, mẹ

hoặc là người đỡ đầu họ? Người bị thiệt hại có ai phải cấp dưỡng cho

ai không? Nếu xác định chính xác các mối quan hệ trên đây thì đó

là cơ sở của việc xác định người có trách nhiệm bồi thường. Vậy tại

sao phải xác định các mối quan hệ này? Để giải quyết vấn đề này,

chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu các tình huống sau đây:

Ví dụ, Vụ án Nguyễn Thanh Hùng phạm tội vi phạm

quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

theo điều 202 BLHS.

Khoảng 13h chiều ngày 10.01.2002 Nguyễn Thanh

Hùng điều khiển xe máy Wave có dung tích xi lanh 100cm3

(do Trần Văn Mai đứng tên chủ sở hữu) chở anh Trần Văn

Mai với tốc độ 50-69km/h trên quốc la. Khi đang đi, Hùng

phát hiện phía trước có một người điều khiển xe đạp là óng

Lưu Trọng Lành sinh năm 1929 đang đi. Do không làm chủ

tốc độ xử lý kém nên trục bánh trước xe máy của Hùng lái

đâm vào xe đạp ông Lành làm hai xe và người ngã xuống

đường. Tai nạn xảy ra làm ông Lành bị thương nặng và sau

đó chết tại bệnh viện do đa chấn thương và vỡ hộp sọ.

Về trách nhiệm hình sự thì bị cáo, người bào chữa đều

nhất trí với cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố Nguyễn

Thanh Hùng về tội vi phạm quy định về điều khiển phương

tiện giao thông đường bộ theo điểm a khoản 2 Điều 202

BLHS. Tuy nhiên, về trách nhiệm dân sự thì quá trình xét xử

đã có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau trong việc xác định

ai là người có trách nhiệm bồi thường cho đại diện của người

bị hại. Đại diện người bị hại yêu cầu bồi thường

30.210.000đồng. Anh Trần Văn Mai cho rằng, bị cáo

Nguyễn Thanh Hùng là người trực tiếp gây ra tai nạn nên

phải chịu trách nhiệm bồi thường cho ông Lưu Trọng Lành.

Bị cáo Hùng cho rằng việc bồi thường thiệt hại cho người bị

hại phải do bị cáo và anh Mai liên đới bồi thường. Bởi vì

chiếc xe này thuộc chủ sở hữu là anh Trần Văn Mai, cho

nên anh Mai phải có trách nhiệm bồi thường. Cũng có ý kiến

cho rằng Nguyễn Thanh Hùng mới 14 tuổi 5 tháng. Do vậy,

Nguyễn Thanh Hùng không có trách nhiệm bồi thường.

Kiểm sát viên đã nghiên cứu kỹ các tình tiết của vụ án

và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm

phán Toà án nhân dân tối cao về bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng và đã tiến hành đối đáp như sau: Chủ sở

hữu chiếc xe máy wave trên đây là của anh Trần Văn

MaL Tuy anh Mai có giao xe cho Nguyễn Thanh Hùng

điều khiển nhưng anh Mai vẫn ngồi sau xe khi bị cáo

Hùng điều khiển xe máy và gây tai nạn. Như vậy, trong

trường hợp này, Trần Văn Mai vẫn đang chiếm hữu, sử

dụng chiếc xe máy wave - nguồn nguy hiểm cao độ. Bởi

vì Trần Văn Mai đang thực hiện mọi hành vi theo ý chí

của minh để nắm giữ, quản lý, sử dụng chiếc xe máy mà

Trần Văn Mai đã đồng ý cho Nguyễn Thanh Bình điều

khiển. Theo quy định tại điểm a Mục 2 phần 111 Nghị

quyết số 03/NQ-HĐTP ngày 08.7.2006 của Hội đồng

Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thi "a- Chủ sở hữu

nguồn nguy hiểm cao độ đang chiếm hữu, sử dụng

nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do

nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Chủ sớ hữu đang chiếm

hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ là đang thực hiện

mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, quản lý

nguồn nguy hiểm cao độ, nhưng không được trái pháp

luật đạo đức xã hội. . . Như vậy trong trường hợp này Trần

Văn Mai phải có trách nhiệm bồi thường.

Mặt khác, khi phạm tội bị cáo Nguyễn Thanh Hùng

chưa đủ 15 tuổi, là người chưa thành niên. Theo quy định

tại đoạn 1 khoản 2 Điều 606 BLDS thì: "2. Người chưa

thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt mà còn cha, mẹ thì cha,

mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. . .'? Theo quy định tại

đoạn 3 điểm 3. 1 mục 3 phần 1 hường dẫn Điều 606 BLDS

quy đinh: "Trong trường hợp quy định tại đoạn 1 khoản 2

Điều 606 BLDS thì cha, mẹ của người gây thiệt hại là bị

đơn dân sư (người gây thiệt hại ở đây là người chưa thành

niên). V vậy, trong trường hợp này cha, mẹ bị cáo phải

được xác định là người tham gia tố tụng với tư cách là bị

đơn dân sự, có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người

bị hại. Vì vậy, trách nhiệm dân sự trong vụ án này là Trần

Văn Mai (chủ sở hữu chiếc xe máy wave) và cha, mẹ bị

cáo Nguyễn Thanh Hùng phải liên đới bồi thường thiệt hại

cho đại diện của người bị hại Nội dung đối đáp trên đây

được bị cáo, đại diện của người bị hại, người bào chữa,

người có quyền, nghĩa vụ liên quan đồng tình, góp phần

cùng toà án có phán quyết chính xác (1)

- Đối với trường hợp người bị hại, bị đơn dân sư, nguyên đơn

dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người

đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi cho những người

này đưa ra ý kiên đề nghị tăng sức hoặc giảm mức bồi thường.

Trong thực tiễn truy tố, xét xử chúng ta thường gặp các trường

hợp người bị hại, bị đơn dân sự, nguyên đơn dân sự, người có quyền

lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của

họ, người bảo về quyền lợi cho những người này đưa ra đề nghị

tăng mức bồi thường (người bị hại, nguyên đơn, người có quyền lợi

nghĩa vụ liên quan) hoặc đề nghị giảm mức bồi thường (bị đơn,

người bị hại. . .). Để đối đáp có kết quả với những người trên đây,

Kiểm sát viên không chỉ nắm vững các tình tiết liên quan đến việc

bồi thường thiệt hại mà còn nắm vững các quy định của pháp luật

về dân sự, hình sự. Việc bồi thường ngoài hợp đồng đã được BLDS

quy định cụ thể và các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán hướng

dẫn một số điều của BLDS như chi phí hợp lý, chứng từ thanh toán,

thu nhập thực tế, đối tượng được bồi thường cấp dưỡng, thiệt hại xảy

ra, thoả thuận...Trên cơ sở đó cần đối đáp để bác bỏ hay chấp nhận.

- Tình huống đối với các đề nghị xác định lại tư cách người

tham gia tô tụng. Đây là những tình huống mà trong thực tiễn

cũng thường xảy ra do việc không xác định tư cách người tham gia

tố tụng nên làm cho vụ án phải bị huỷ để điều tra xét xử lại và bị

kéo dài.

Ví dụ, Khoảng 16h20 ngày 07.3.2003, Mai Khắc Hoà

điều khiển xe Ô tô BKS 57H 0689 tham gia giao thông trên

đường thì đã đâm vào phía sau xe máy BKS 51X4 4159

(1) Nuồn hồ sơ vụ án tại VKSNDTC

do ông Vũ Trọng Dục điều khiển, làm ông Dục bị chết. Sau

vụ tai nạn trên, Mai Khắc Hoà đã bồi thường cho gia tỉnh

người bi hại 60 triệu đồng do ông Vũ Hải Lượng (anh trai

ông Dục nhận).

Bản án hình sự sơ thẩm số 614/HSST ngày 22.4. 2004

của Toà án nhân dân thành phố H. đã áp dụng điểm c

khoản 2 Điều 202, điểm b, p khoản 1 Điều 46, Điều 47'bộ

luật hình sự phạt Mai Khắc Hoà 2 năm tù về tội vi phạm

quy định về điều khiển giao thông đường bộ theo Điều

202 BLHS.

Ap dụng khoản 1, 2 Điều 42 BLHS buộc Mai Khắc Hoà

bồi thường tiền cấp dưỡng nuôi cháu Vũ Thị Kim Dung mỗi

tháng 300. 000 đồng kể từ ngày 07 . 3. 2003 đến khi cháu

Dung tròn 18 tuổi và bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho

cháu Dung 10 triệu đồng. Các khoản tiền bồi thường cấp

dưỡng và bồi thường tổn thất tinh thần cho cháu Dung do

chị Nguyễn Thị Thuý An (mẹ cháu Dung) nhận. 

Như vậy, bản án đã xác định cháu Dung là người đại

diện hợp pháp của anh Dục và chị Nguyễn Thị Thuỷ An là

người giám hộ của cháu Dung. Nhưng trong vụ án này anh

Dục là nạn nhân có anh trai là Vũ Hải Lượng không được

tham gia với tư cách là người đại diện hợp pháp của anh

Dục và gia đình ông Lượng không công nhận cháu Dung

là con ngoài giá thú của anh Dục. Trong lúc đó giữa chị An

và anh Dục (nạn nhân) chưa phải là vợ chồng, đồng thời

Toà án cũng chưa có quyết định về việc truy nhận cha cho

con mà bản án đã xác định cháu Dung là con ngoài giá thà

của anh Dục là chưa có cơ sở. Mặt khác, cháu Dung là

người chưa thành niên, mới 8 tuổi 4 tháng 16 ngày, vì vậy

việc phán quyết của Toà án là không phù hợp với quy đinh

của pháp luật dân sự về về người đại diện. Người đại diện

phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (khoản 5 Điều 139

BLDS) và năng lực hành vi dân sự đầy đủ phải là người

thành niên (Điều 19 BLDS). Đối với vụ án này có sai lầm

về xác định tư cách người tham gia tố tụng nên đã bị Toà

án cấp trên huỷ về quyết đinh xác đinh cháu Vũ Thị Kim

Dung là con ngoài giá thú của ông Vũ Trọng Dục và toàn

bộ quyết đinh trách nhiệm dân sự để điều tra, xét xử sơ

thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật

Lời giới thiệu

Chú thích Viết tắt

                      CHƯƠNG I

                CƠ SỞ CỦA VẤN ĐỀ

1 Tranh luận tại phiên toà, khái niệm, bản chất

11 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tranh

luận trong tố tụng hình sự

111. Các quy định của pháp luật về tranh luận và trách

nhiệm thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại các

phiên toà sơ thẩm

                       CHƯƠNG II

    KỸ NĂNG CHUẨN Bị THỰC HÀNH QUYỀN  CÔNG TỐ

                Tại PHIÊN TÒA SƠ THẨM

1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên tại phiên toà

sơ thẩm

1 . Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên khi tham gia

phiên toà sơ thẩm

2. Địa vị pháp lý của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm

3. Về số lượng Kiểm sát viên tham gia phiên toà

11 Về nguyên tắc uỷ quyền thực hành quyền công tố

                    CHƯƠNG III

        KỸ NĂNG NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN

          CHUẨN Bị THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG Tố

1 Phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ án

11 Kỹ năng nghiên cứu các thủ tục tố tụng

1 . Kiểm tra thủ tục giao, nhận hồ sơ và vật chứng vụ án

2. Kỹ năng nghiên cứu các thủ tục tố tụng của hồ sơ vụ án

3. Kỹ năng nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ của hồ sơ

4. Kỹ năng nghiên cứu tôi khai của người bị hại, nguyên

đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan đến vụ án

5. Kỹ năng nghiên cứu tôi khai của người làm chứng

6. Kỹ năng nghiên cứu biên bản đối chất

7. Kỹ năng nghiên cứu biên bản khám nghiệm hiện trường,

khám nghiệm tử thi

8. Kỹ năng nghiên cứu biên bản nhận dạng

9. Kỹ năng nghiên cứu biên bản khám xét, thu giữ, tạm giữ

đồ vật thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm

10. Kỹ năng nghiên cứu biên bản thực nghiệm điều tra

1 1 . Kỹ năng nghiên cứu kết luận giám định

1 2. Kỹ năng nghiên cứu các quyết định xử lý vụ án của Cơ

quan điều tra

13. Kỹ năng nghiên cứu giải quyết các khiếu nại, tố cáo,

các dư luận xã hôi về vụ án

16. Những vấn đề cần rút ra sau khi nghiên cứu hồ sơ và

xem xét các vật chứng tài liệu

1 7. Kỹ năng báo cáo án

111 Kỹ năng xây dựng các văn bản pháp luật

1 . Kỹ năng xây dựng bản cáo trạng

2. Địa vị pháp lý của bản cáo trạng

3. Thực trạng hoạt động xây dựng bản cáo trạng

4. Bố cục của bản cáo trạng

IV Kỹ năng xây dựng bản luận tội

1 . Khái niệm, căn cứ pháp luật của bản luận tội

2. Địa vị pháp lý của luận tội

3. Thực trạng luận tội trong thời gian qua

4. Kỹ năng xây dựng bản luận tội

V Kỹ năng xây dựng để cương xét hỏi, kế hoạch đối đáp

1 . Xây dựng đề cương xét hỏi

2. Xây dựng kế hoạch đối đáp

                               CHƯƠNG IV

             KỸ NĂNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ

              Tại PHIÊN TOÀ HÌNH Sự SƠ THẨM

Kỹ năng đọc cáo trạng

1 . Một số đánh giá nhận xét

2. Kỹ năng đọc cáo trạng của Kiểm sát viên

11 Kỹ năng xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên toà

1 . Ý nghĩa và tầm quan trọng trong việc xét hỏi tại

phiên toà

2. Nguyên tắc xét hỏi của Kiểm sát viên

3. Phương pháp xét hỏi của Kiểm sát viên

4. Thái độ xét hỏi của Kiểm sát viên

5. Công bố những lời khai tại Cơ quan điều tra

6. Những nội dung cụ thể trong việc xét hỏi của Kiểm

111 Kỹ năng tranh luận tại phiên toà của Kiểm sát viên

1 . Khái niệm tranh luận trong tố tụng hình sự

2. Kỹ năng trình bày lời luận tội của Kiểm sát viên

IV Kỹ năng đối đáp của Kiểm sát viên

1 . khái niệm đối đáp trong tố tụng hình sự

2. Mục đích, yêu cầu của việc đối đáp

3. Nội dung đối đáp của Kiểm sát viên

 CHỊU TRÁCH NHIỆM XUẤT BẢN

           PHẠM VĂN TUẤN

CHỊU TRÁCH NHIỆM NỘI DUNG

TS. TRƯƠNG QUANG VINH

BIÊN TẬP BÙI THỊ THU HẰNG-NGUYỄN TỐ HẰNG-

                     NGUYỄN NỮ THANH NHÀN

 BIÊN TẬP MỸ THUẬT ĐẶNG VINH QUANG

TRÌNH BÀY PHẠM VIỆT HÀ

IN 3414 CUỐN. NỘP LƯU CHIỂU 1/2008

Chia sẻ cảm nhận của bạn

Tin liên quan

TẠ ĐÌNH ĐỀ - NHỮNG GÓC KHUẤT CUỘC ĐỜI

TẠ ĐÌNH ĐỀ - NHỮNG GÓC KHUẤT CUỘC ĐỜI

Bình luậnNgười đăng: Admin

TẠ ĐÌNH ĐỀ - NHỮNG GÓC KHUẤT CUỘC ĐỜI Xem thêm

KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT ÁN PHỤ NỮ

KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT ÁN PHỤ NỮ

Bình luậnNgười đăng: Admin

KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT ÁN PHỤ NỮ Xem thêm

THƠ: NHỮNG ĐÊM TRĂNG MÊNH MANG

THƠ: NHỮNG ĐÊM TRĂNG MÊNH MANG

Bình luậnNgười đăng: Admin

THƠ: NHỮNG ĐÊM TRĂNG MÊNH MANG Xem thêm

TUYỂN CHỌN CÁC VỤ ÁN GĐT

TUYỂN CHỌN CÁC VỤ ÁN GĐT

Bình luậnNgười đăng: Admin

TUYỂN CHỌN CÁC VỤ ÁN GĐT Xem thêm

THEO DÒNG CÔNG LÝ

THEO DÒNG CÔNG LÝ

Bình luậnNgười đăng: Admin

THEO DÒNG CÔNG LÝ Xem thêm