Tạ Đình Đề (tái bản)

8 tháng trước - Bởi Admin

Tạ Đình Đề

những góc khuất cuộc đời

TS. DƯƠNG THANH BIỂU

Tạ Đình Đề

những góc khuất cuộc đời

 (Tác phẩm và Dư luận)

(Tái bản)

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN

Thay cho lời giới thiệu

Suốt thời bé tôi thường được bố say sưa kể cho nghe về những chuyện mang mầu sắc huyền thoại trong đó Tạ Đình Đề là nhân vật chính. Những chuyện đó không chỉ hấp dẫn, mà còn đầy tinh thần nghĩa hiệp, thượng võ. Dù kể bao nhiêu lần chăng nữa, chúng vẫn đủ hấp dẫn để người nghe muốn nghe thêm, còn người kể thì không thấy cảm hứng bị giảm. Mỗi chuyện sau đó, tuỳ người kể, tùy nơi được kể lại, mà sinh ra không biết bao nhiêu dị bản. Mặc, chúng, những câu chuyện ấy vẫn luôn tươi mới và có sức lôi kéo cực kỳ khó cưỡng.

Chính vì thế tên tuổi Tạ Đình Đề đã trở thành một phần của ký ức những người như tôi. Có cảm giác ông không bao giờ chết, không thể bị đánh bại, nhất là khi tất cả mọi người cùng mong muốn điều đó ở vị anh hùng của mình. Đúng là Tạ Đình Đề đã trở thành người hùng dân gian từ khi ông còn sống. Đó là điều rất đáng kể với bất cứ cuộc đời nào.

Chẳng hạn như bố tôi, ông không chỉ tin sái cổ vào những câu chuyện rất khó tin gắn với Tạ Đình Đề, mà còn thầm mong ước được làm những điều nghĩa hiệp ấy. Ông khiến chúng tôi luôn hình dung Tạ Đình Đề là một thứ người giời, có phép thần thông biến hoá.

Chẳng hạn như chúng tôi, mỗi khi gặp chuyện gì nguy hiểm, đáng sợ, chúng tôi lại thầm khấn ông Tạ Đình Đề hiện ra để cứu giúp.

Điều thú vị là bố tôi không bao giờ biết người anh hùng của ông và bản thân ông có dây dưa về máu mủ. Có lẽ họ bằng vai nhau. Và nếu đúng như vậy thì Tạ Đình Đề phải gọi bố tôi bằng anh họ xa. Những khi còn sống và lúc đó bố tôi đã tha hương, cụ Tạ Đình Đề vẫn về lễ Tổ chung với chúng tôi, hiện nhà thờ đặt ở xã Quảng Bị, huyện Chương Mỹ, Hà Nội. Khi cụ mất thì con cháu cụ thay mặt và vẫn rất chăm chỉ.

Những chuyện như vậy tôi cũng chỉ mới biết cách nay hơn chục năm, nhất là sau khi báo chí nói nhiều về vụ án đầy bi hài mang tên Tạ Đình Đề, thuộc số những vụ án lịch sử. Chỉ có điều diễn biến vụ án như thế nào thì vẫn luôn là mối quan tâm của những người như tôi. Nhưng ở mỗi nơi, những chi tiết, tình tiết lại có sự khác nhau. Nguồn gốc của vụ án cũng chỉ được nói sơ qua. Điều đó khiến công cuộc minh oan cho Tạ Đình Đề với chúng tôi cứ mãi còn bị bỏ dở, mặc dù Nhà nước đã chứng tỏ điều này bằng một tấm huân chương Độc Lập tặng cho ông. Thực tế là từ bấy đến nay chúng tôi vẫn có ý tìm kiếm tài liệu để hiểu tường tận hơn về nỗi oan khuất (hoặc sự dại dột) của người bà con trong họ nhà mình, dẫn đến nỗi đau thương cho cả gia đình ông, cho dòng họ và làm tổn thương ký ức thế hệ con cháu chúng tôi. Nhưng xem ra sự thật cứ luôn ở phía trước, cách một đoạn đủ để thành tù mù. May thay, luôn có những người cũng nôn nóng minh oan cho Tạ Đình Đề như chúng tôi, hoàn toàn chỉ vì công lý. Vì thế mà chúng ta mới được đọc cuốn sách quý này. Nó quý trước hết bởi những tư liệu được đảm bảo cao về tính trung thực. Nó quý còn bởi, với những người như tôi, mọi thắc mắc về vụ án Tạ Đình Đề đều được thỏa mãn.

Tôi thực sự chỉ biết nói rằng, từ đáy lòng mình, xin chân thành cảm ơn tác giả, tiến sĩ Dương Thanh Biểu và mong cho ngòi bút nghĩa khí của ông luôn mạnh mẽ. Cái tình của ông thật lớn, với bạn đọc và với cuộc đời.

Hà Nội tháng 01-2014

Tạ Duy Anh


Phần 1

TÁC PHẨM

Một

____________________

 

Mở đầu

 

 

 

S

au ngày miền Nam hoàn toàn được giải phóng, Tạ Đình Đề có dịp vào thành phố Hồ Chí Minh để thăm con, cháu và bạn bè. Một hôm, ông cùng người bạn già, cũng là chiến sĩ biệt động thành Hà Nội năm xưa, thuê một chiếc xích lô đi dạo chơi ven bờ sông Sài Gòn. Lâu ngày gặp nhau, họ hàn huyên, nhắc lại những câu chuyện chiến đấu, hy sinh nhưng rất đỗi hào hùng thời chống Pháp. Hai người đang cái nhịp hàn huyên, sôi nổi theo kiểu nhà binh, ôn cũ nhớ xưa, bỗng người đạp xích lô, dừng lại, nhảy xuống đất. Anh ta chạy lên phía trước, hai tay chắp trước ngực, cúi vái ba cái, đoạn nhìn thẳng vào hai vị khách và hỏi một cách trân trọng:

  • - Thưa hai chú. Có phải một trong hai chú đây là Tạ Đình Đề không ạ?

Cả hai vị khách rất ngạc nhiên vì họ chỉ gọi nhau bằng bí danh mà sao anh này lại biết ông Đề nhỉ? Ông Đề mỉm cười, hỏi lại:

- Tại sao ở Sài Gòn mà anh lại biết ông Đề?

- Dạ thưa hai chú. Cháu vừa đạp xích lô vừa nghe hai chú trò chuyện. Nghe chuyện hai chú kể, linh cảm cháu nhận ra một trong hai chú rất giống hình ảnh ông Đề thời Hà Nội bị Pháp tạm chiếm. Thời kỳ năm 1947-1949, cháu đang là học sinh ở Hà Nội. Tụi cháu lúc đó ai cũng thích nghe chuyện về Đội biệt động thành Hà Nội do Tạ Đình Đề chỉ huy. Bà con Hà Nội thời đó ai cũng ca ngợi những chiến công thầm lặng nhưng vô cùng oanh liệt của Tạ Đình Đề và các chiến sĩ Đội biệt động thành Hà Nội. Có người kể rằng, hồi đó, bọn lính Pháp và bọn Việt gian bán nước ở Hà Nội vô cùng lo sợ Tạ Đình Đề và các chiến sĩ của ông. Họ có biệt tài xuất quỷ nhập thần, không có sức mạnh nào ngăn nổi.

Năm 1953, cháu chưa đến tuổi trưởng thành nhưng vẫn bị bắt đi lính Bảo chính Đoàn cho Pháp. Lúc đó bọn cháu, thằng lính nào cũng thích kể cho nhau về chuyện ông Đề. Chuyện rằng, ông ấy có tài xuất quỷ nhập thần, hai tay cầm hai khẩu súng Van-te lăm lăm, bắn đâu trúng đấy. Vậy mà trong bọn lính chúng cháu, có đứa đi bảo vệ tên quan hai người Pháp, trong chớp mắt, bị ông Đề, như trên trời nhảy xuống, bấm huyệt làm nó không nói được. Ông ấy bảo: Cho Tạ Đình Đề "mượn" chiếc áo và súng đi nhé. Thằng lính bảo vệ như bị thôi miên, mất hết hồn vía, ngoan ngoãn cởi áo và súng đưa cho Tạ Đình Đề. Vừa nói, ông Đề vừa khoác trang phục lính ngụy, rảo bước đến gần tên quan hai, ghé tai, nói bằng tiếng Pháp, ra lệnh cho hắn chỉ huy toán lính đi thẳng. Còn tên quan hai người Pháp cùng ông Đề rẽ ngoặt vào một ngõ nhỏ rồi biến mất tăm... Bọn lính chúng cháu và có cả bọn lính Tây nữa, rất thích nghe những chuyện về ông Đề. Cũng thật lạ, khi nghe những chuyện về ông, bọn lính chúng cháu vừa phục, vừa sợ sệt, khiếp vía nhưng thằng nào cũng thích nghe. Sau đó, bọn chỉ huy người Pháp phát hiện, trong các doanh trại, bọn lính  hay kể chuyện về ông Đề và Đội biệt động thành Hà Nội. Nhiều tên yếu bóng vía lúc nào cũng tưởng như ông Đề đang có mặt đâu đó. Có những tên lính suy sụp ý chí, không giám thực thi nhiệm vụ. Bọn chỉ huy đã ra mật lệnh: Từ nay, cấm tiệt việc bàn tán về chuyện ông Đề. Nhưng chuyện về ông ấy cứ râm ran trong trại lính...

Người đạp xích lô kể đến đây, rút trong túi tấm giấy đưa cho hai vị khách và nói: Đây là địa chỉ và số điện thoại của cháu. Lúc nào hai bác cần đi đâu cứ gọi, cháu sẵn sàng phục vụ ngay à.

Đầu những năm 50, Tạ Đình Đề hoạt động ở những vùng tiếp giáp giữa Khu III và Khu IV. Ở các quán nước hay nơi tụ tập đông người tại các tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh, đâu đâu bà con cũng kể chuyện về ông Đề: Ông Đề học trường Võ bị của Tưởng Giới Thạch, được chúng giao đi ám sát Cụ Hồ, nhưng rồi được Cụ cảm hóa và trở thành người cận vệ trung thành của Cụ. Có lần, ông Đề đã kịp thời phát hiện và tiêu diệt tên nữ quái là gián điệp của địch được giao nhiệm vụ ám sát Cụ Hồ. Rồi biết bao chuyện nữa: Ông Đề tóm gọn tên trùm buôn lậu, có súng ở mạn Cầu Bố. Ông Đề thi bắn súng với sĩ quan Tàu, rồi chuyện ông Đề ngăn chặn công an viên lộng hành, ức hiếp nhân dân...

Chuyện về Tạ Đình Đề thời ấy được lan ra và truyền tụng trong dân gian, từ Nam chí Bắc, từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị đến vùng nông thôn. Cho đến hơn nửa thế kỷ sau, chuyện về ông Đề vẫn được nhắc đến trên công luận (báo Công an nhân dân Online ngày 23-02-2008, báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh ngày 17-12-2012...). Những câu chuyện về Tạ Đình Đề đã trở thành huyền thoại, được nhân dân truyền tụng, thêu dệt, thêm thắt, gửi vào đó khát vọng Anh hùng, lòng yêu nước, thương dân. Những câu chuyện ấy đan xen nhau giữa thực và ảo, bình thường và phi thường, cần mẫn và thông minh, thật thà và dũng cảm, nhiệt huyết và tốt bụng. Câu chuyện vào đoạn cuối bao giờ cũng bất ngờ khiến người nghe cười phá lên sảng khoái, tự hào...

Tạ Đình Đề, dưới con mắt của nhân dân Việt Nam được truyền tụng cho nhau nghe là thế đấy. Nhưng cũng con người ấy, vào thời kỳ Đất nước gặp phải hiểm nghèo (cuối những năm 70 và những năm 80 của thế kỷ trước), cả nước lại rộ lên cái tên Tạ Đình Đề. Cái tên đó, lúc này không phải là huyền thoại Anh hùng năm xưa nữa mà là những bi thương của một kẻ tù tội, do cơ quan pháp luật bắt giam, đúng lúc đất nước ta vào thời "đêm trước đổi mới"! Lần thứ nhất, Tạ Đình Đề bị bắt giam suốt gần hai năm, rồi bị truy tố ra Tòa với ba trọng tội: Tham ô tài sản XHCN, Cố ý làm trái và Hối lộ. Với những tội danh ấy, vào thời điểm này, thường thì bị xã hội lên án mạnh mẽ. Ấy vậy mà, tại phiên tòa xét xử Tạ Đình Đề, hàng ngàn người từ các địa phương kéo về, từ các cung đoạn đường sắt, từ nội và ngoại thành Hà Nội lũ lượt kéo đến. Họ chen nhau đứng dưới loa phóng thanh, quanh khu vực Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội trong thời tiết nắng gắt, cơm đùm cơm nắm suốt sáu ngày liền để theo dõi diễn biến phiên tòa xét xử vụ án Tạ Đình Đề.

Một điều lạ nữa là, khi Tạ Đình Đề phát biểu trước Tòa hoặc luật sư bào chữa cho ông Đề cũng như đại diện đơn vị của ông Đề phát biểu, tiếng vỗ tay rào rào không ngớt. Khi nghe bà Phùng Lê Trân, Chủ tọa Hội đồng xét xử tuyên bố tha bổng ông Đề thì hàng ngàn người ồ lên vui sướng, reo hò, hô vang: Tạ Đình Đề,   Tạ Đình Đề! Quả là sự kiện chưa từng có trong tiến trình lịch sử tư pháp nước nhà.

Vẫn chưa hết. Sau sự kiện làm chấn động dư luận nói trên độ hơn chục ngày, bản án tuyên bố ông Đề vô tội đã bị cơ quan công tố kháng nghị, yêu cầu xét xử phúc thẩm toàn bộ vụ án đó. Nhưng cũng thật lạ, hơn 16 năm sau, Tạ Đình Đề và các bị cáo khác, mất việc làm, mỏi mòn chờ bản án phúc thẩm mà vẫn không được ai xét xử. Trong lúc đang chờ phiên tòa phúc thẩm, Tạ Đình Đề lại bị bắt giam hơn 2 năm về tội an ninh quốc gia. Nhiều người tự hỏi, một lão thành cách mạng, một người Anh hùng như ông Đề sao lại phạm tội tày đình như vậy? Cũng thật may cho ông Đề, tuy Cơ quan điều tra có đề nghị truy tố về tội tuyên truyền phản cách mạng nhưng lần này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã quyết định đình chỉ điều tra, giải oan cho ông.

Đến nay Tạ Đình Đề "đã đi theo Bác Hồ". Mặc dù đã bị "vào tù, ra tội" đến mấy lần nhưng ông đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là người có công lớn với đất nước, với nhân dân và đã được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng III. Trong tâm khảm người dân đất Việt, ông Đề là người anh hùng có công với dân, với nước, đã bị sa cơ, lỡ vận, rơi vào vòng oan trái đến tận cùng. Đối với tôi, hình ảnh người anh hùng ấy vẫn luôn ám ảnh và hiện diện trong đầu óc tôi suốt nửa thế kỷ qua. Tuổi thơ của tôi được truyền năng lượng mới nhờ những câu chuyện huyền thoại của ông Đề được người lớn   kể lại. Tấm gương Anh hùng của ông như thêm một động lực thôi thúc tôi xung phong lên đường ra tiền tuyến chiến đấu chống quân thù. Kết thúc đời quân ngũ, tôi chuyển ngành về Viện kiểm sát nhân dân tối cao, nguyện suốt đời làm "người lính" trên mặt trận bảo vệ pháp luật.

Trớ trêu thay, Tạ Đình Đề, người Anh hùng trong trí tưởng tượng của tôi năm xưa, lúc này lại là bị can, bị cáo, hai lần sa vào vòng lao lý, gần bốn năm ngồi tù oan! Trong lần ông Đề bị bắt giam lần thứ hai, tôi có dịp được "trả nợ" cho ông phần nào. Nhưng những gì mà ông phải chịu đựng qua những lần bị bắt giam oan thì quá lớn. Vì vậy, việc ông Đề bị oan ức cứ đeo bám tôi suốt mấy chục năm trời làm nghề Kiểm sát. Cho đến nay, khi đã về hưu, tôi vẫn không quên được hình ảnh ông Đề. Tôi đã lục tung cả "kho lưu trữ" để đọc lại hồ sơ của hai vụ án mà ông Đề là bị can, bị cáo. Tôi đã tìm gặp những người làm công việc điều tra, truy tố và xét xử ông Đề ở vụ án trên; gặp gỡ những vị lão thành, những vị tướng một thời đã sát cánh cùng ông, xông pha trận mạc, chiến đấu chống quân thù; rồi gặp hỏi chuyện những con người một thời đã cùng ông Đề, vượt qua biết bao gian khổ để xây dựng Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt; gặp những người họ hàng thân thích của ông, những người cầu thủ bóng đá của ông và có cả những người cùng cảnh lao tù với ông Đề nữa. Chưa hết, tôi cố đọc những cuốn sách, bài báo từ trước đến nay đã viết về ông Đề. Cuối cùng, kết hợp sử dụng những tư liệu do ông Đề kể lại mà tôi may mắn đã  có dịp được trò chuyện với ông nhiều lần.

Chúng tôi đã kể cho nhau nghe những chuyện về cuộc đời người lính đầy gian khổ hy sinh thời chống Pháp (của ông Đề) và thời chống Mỹ (của tôi). Chúng tôi ngồi ôn lại những năm tháng bao cấp và hiểm nghèo của những năm 70 và 80, thế kỷ trước. Ông đã tâm sự rất thật với tôi về cuộc đời và những suy nghĩ như thế nào đối với đơn vị của ông đã làm ở thời kỳ đầu, mầy mò đổi mới. Ngày ấy, Nhà nước thực hiện cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, ông đã vắt óc suy nghĩ tìm cách quản lý mới như thế nào để đẩy mạnh sản xuất, ông đã lo công ăn, việc làm, bảo đảm đời sống cho anh em công nhân ra sao và bằng cách nào ông đã đưa sản xuất ngày càng phát triển, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều và chất lượng đáp ứng nhu cầu cho xã hội. Tôi hỏi ông với tư cách là "người em" để hiểu rõ sự việc và tâm trạng của "ông anh" trong suốt gần 4 năm ngồi tù oan uổng.

Cuối cùng, với những cảm xúc và lòng quý trọng ông, với trách nhiệm nghề nghiệp và lương tâm người trong cuộc, tôi như được thôi thúc, đi đến quyết định phải cầm bút viết tiếp câu chuyện về Tạ Đình Đề. Đã bao đêm không ngủ, tôi cứ suy nghĩ nên viết về ông như thế nào? Những chuyện như huyền thoại của ông không những trở thành các câu chuyện dân gian từ trước tới nay mà còn được nhiều sách, báo đã đề cập. Cuối cùng tôi đã chọn viết về những góc khuất nhưng cũng thẫm đẫm chất huyền thoại của cuộc đời ông. Qua câu chuyện này, tôi muốn gửi gắm một điều: Tạ Đình Đề là một Anh hùng trong chiến tranh đã được nhân dân tôn lên thành huyền thoại. Người Anh hùng ấy, khi chuyển sang trận tuyến sản xuất kinh doanh, ông cũng đã đi đầu trong công cuộc đổi mới về quản lý kinh tế công nghiệp, cùng thời với ông Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú, tiến hành đổi mới trong quản lý kinh tế nông nghiệp. Đó là huyền thoại lần thứ hai của ông Đề mà ngày nay, tôi cũng như nhiều người, vẫn trân trọng và nhớ ơn ông.

Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc cả những người đã gặp và chưa gặp cùng đồng hành với tôi trong quá trình phác thảo nên Chân dung một CON NGƯỜI viết hoa: Tạ Đình Đề!


Hai

____________________

 

Chiến sĩ biệt động trở về

làm kinh tế

 

 

 

H

ẹn ông nhiều lần nhưng hôm nay mới được gặp ông tại số nhà 106, A3,      ngõ 222, Lê Duẩn, phường Khâm Thiên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Tôi biết ông vừa từ thành phố Hồ Chí Minh ra sau chuyến vào thăm gia đình người con trai đầu là Tạ Đình Hùng(*). Tôi kéo ghế ngồi đối diện với ông qua cái bàn nước nhỏ được kê ngay ngắn trong góc căn phòng không rộng lắm. Tôi nhìn ông, thoáng thấy dạo này nước da ông bớt xanh và hơi ngăm ngăm, dáng nhanh nhẹn, hoạt bát hơn nhiều. Đôi mắt ông vẫn tinh anh như xưa. Ông vẫn đội chiếc mũ phớt nhàu nát, bộ ria mép bạc màu được ông cắt tỉa gọn gàng.

Theo hẹn, tôi nghĩ, không biết khi gặp ông nên xưng hô thế nào cho phải phép. Ngồi nhẩm tính, năm chín hai này ông đã bảy nhăm, còn tôi mới bốn ba. Ông hơn tôi những ba mươi tuổi. Tuổi tôi cũng suýt soát tuổi con đầu của ông nên gọi bác là đúng lẽ. Nghĩ vậy, tôi chào ông bằng bác và xưng cháu.

Nghe tôi chào như vậy, ông lắc đầu, gạt đi. Ông bảo: Cứ xưng ông với tôi cũng được, năm nay mình đã hơn bảy nhăm, có gần tiểu đội cháu nội, ngoại rồi còn gì. Tôi cười, cảm ơn ông. Ngoài trời, cơn mưa hè xối xả như trút nước. Con hẻm trước nhà ông nước đã dâng đầy ngập bàn chân. Tiếng nước mưa dội xuống mái nhà nghe lộp bộp, lộp bộp.

Pha nước xong, ông xoay cái điếu bát về phía mình. Ông lấy que gạt tàn thuốc, nhét bi thuốc khác vào nõ điếu. Đoạn, ông rót nước mời tôi. Mùi chè Thái bốc lên ngạt ngào, ngầy ngậy. Ông bật diêm, đưa xe điếu vào nõ, châm lửa. Ông nhấp nhấp vài lần nghe "choác... choác... choác", rồi lấy hơi, kéo một mạch dài. Gân cổ ông nổi lên cuồn cuộn. Cái điếu bát reo lên rong róc, rộn ràng. Một làn khói dài, trắng xanh bay ra từ miệng ông, lan lên tận trần nhà rồi tỏa khắp gian phòng. Đôi mắt ông lim dim nhìn làn khói xanh, vẻ mãn nguyện.

Tôi nhập ngụm nước trà thơm nhìn ông. Tôi cảm thấy khoan khoái vì ông đã chấp nhận tiếp tôi. Về nội dung thì ông ủng hộ. Còn địa điểm, đã có lần tôi đề nghị gặp nhau ở quán cà phê gần nhà ông để nhâm nhi cho vui thì Tạ Đình Đề lắc lắc đầu. Ông bảo: "Mình có cà phê cà pháo gì đâu, rượu bia cũng không nốt. Chỉ nghiện mỗi thứ là thuốc lào thôi". Tôi nghĩ thầm trong bụng, nghiện thuốc lào mà không ghê à, "nhớ ai như nhớ thuốc lào, đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên". Rồi, ông "chốt" ý kiến dứt khoát theo kiểu con nhà lính: "Thế này nhé, địa điểm gặp nhau tại nhà tôi(*). Thời gian vào ngày chủ nhật. Nếu ngày thường mà rỗi có thể gặp nhau cũng được nhưng phải thông báo trước. Dạo này bạn bè ngày xưa hay tụ tập nhau để "ôn nghèo gợi khổ" nên cũng bận". Thôi, giời không chịu đất thì đất phải chịu giời vậy. Đúng hẹn, chúng tôi gặp nhau và làm việc tại căn nhà của ông.

Sòng phẳng mà nói thì chuyện về ông Tạ Đình Đề ở thời kỳ nào và lĩnh vực gì cũng được người đời kể cho nhau nghe rất hấp dẫn. Nhưng hôm nay tôi cũng không ngờ, ông lại gần gũi và giản dị đến thế! Nhìn ông "bắn" thuốc lào, ánh mắt tinh anh và trìu mến, giọng nói bổ bả, thật thà như người nông dân "xứ Đoài" pha chút lãng tử của chàng trai Hà thành. Sự thông minh và dũng cảm trong chiến đấu chống quân thù của người chiến sĩ tình báo đã tạo nên chất huyền thoại của ông trong chiến tranh. Khi về với đời thường thì Tạ Đình Đề lại là người khiêm tốn, giản dị, tốt bụng. Ông rất ít kể về mình, nói về mình. Vì vậy, tôi không viết lại về cuộc đời huyền thoại trong chiến tranh của ông như báo chí đã có dịp đăng tải. Tôi chỉ muốn ông kể sâu hơn, kỹ hơn về các tình tiết và những tâm trạng của ông trong những vụ án trước đây mà ông đã vướng vào. Hy vọng, với phương pháp tiếp cận kiểu này may ra mới khai thác được những sự kiện và con người, qua đó thấy được rõ thêm những góc khuất cuộc đời ông trong tiến trình lịch sử tư pháp hồi đó mà nhiều người đang quan tâm.

Nghĩ vậy, tôi mới hỏi: "Trong lá thư của bà Thọ, vợ ông gửi quý Tòa có đoạn viết, đại ý: Khi ông Đề được cấp trên giao nhiệm vụ quản lý Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt, mặc dù năng lực có hạn nhưng ông Đề đã không quản khó khăn vất vả, dám nghĩ, dám làm, cái gì có lợi cho đơn vị, cho Nhà nước thì mang hết sức mình ra cống hiến. Vậy xin ông nói cụ thể hơn về ý kiến này của bà Thọ?

Ông kể: "Năm 1954, Hà Nội được giải phóng, hòa bình lập lại. Trong không khí rộn ràng hân hoan ấy, tôi cứ tưởng được cống hiến hết đời mình vì sự nghiệp tình báo của Quân đội. Nhưng nào ngờ, sau đó không lâu, tôi được chuyển ngành về Tổng cục Đường sắt Việt Nam(*). Đây là công việc không liên quan gì đến chức năng của nhà binh nhưng ít nhiều đã từng gắn bó một thời với tôi từ lúc còn niên thiếu ở Vân Nam Trung Quốc. Cũng lúc này, nhà tôi, bà Đặng Thị Thọ, cũng được chuyển về công tác tại Vụ Tài vụ, Tổng cục Đường sắt.

Nhận công tác một thời gian, tôi được lãnh đạo Tổng cục Đường sắt giao nhiều nhiệm vụ. Lúc đầu, được cử làm Trưởng đoạn Đầu máy Hà Nội. Năm 1956, phụ trách công tác thể dục thể thao Tổng cục Đường sắt. Năm 1971, được giao nhiệm vụ phụ trách Xưởng sản xuất vợt bóng bàn, gioăng cao su và một số mặt hàng cao su khác phục vụ Ngành. Trong đó, mặt hàng chủ lực của Xưởng là vợt bóng bàn, gioăng cao su, các bát đệm cao su cho xe lửa... Tính tôi  thích làm những việc mới mẻ và có thách thức, lại được cấp trên tin tưởng giao, nên khi nhận nhiệm vụ này, tôi thật sự phấn khởi.

Từ giữa thập niên 1960, đế quốc Mỹ thực hiện cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc hết sức khốc liệt. Đường sắt Việt Nam cũng là trọng điểm bắn phá ác liệt của máy bay Mỹ. Những năm tháng chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, anh chị em Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt vừa sản xuất, vừa chiến đấu, tuy đời sống vật chất thiếu thốn trăm bề và cũng căng thẳng nhưng tinh thần lao động vì chủ nghĩa xã hội, vì thống nhất đất nước vẫn sục sôi, nhiệt huyết hơn bao giờ hết. Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt được lãnh đạo cấp trên giao kế hoạch sản xuất nhiều sản phẩm để phục vụ yêu cầu của Ngành’’.

Ông dừng lại nhấp ngụm nước chè Thái rồi tiếp tục câu chuyện: "Tuy thế, khi nhìn vào sức sản xuất của Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt, có lúc tôi cảm thấy băn khoăn, lo lắng. Hòa bình mới được một thời gian, sản xuất đang từng bước phục hồi thì cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt của giặc Mỹ lại diễn ra. Công xưởng, máy móc, thiết bị của Xưởng dụng cụ cao su không chỉ thiếu trầm trọng mà còn vô cùng lạc hậu. Với máy móc, thiết bị như vậy, làm sao đơn vị bứt phá vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn được? Tôi ước mơ có phép màu nào đó, xưởng chúng tôi có máy móc hiện đại, để anh em công nhân vận hành hết công suất, hàng hóa làm ra nhiều và tinh xảo hơn".

Có lẽ, câu hỏi của thời quá khứ vẫn còn treo lơ lửng trong tâm thức ông. Tạ Đình Đề dừng lại, kéo mạnh một hơi thuốc lào, thả khói lên trần nhà rồi tự dưng trầm ngâm hẳn. Tôi trộm nghĩ, ông đang ngược dòng thời gian để trở về với những năm tháng đã qua chăng? Đây là thời kỳ chúng ta đang thực hiện cơ chế "kế hoạch hóa" với chế độ "tập trung, bao cấp". Cơ chế này tuy đã phục vụ có hiệu qủa yêu cầu của thời chiến, bảo vệ hậu phương lớn, chi viện kịp thời cho tiền tuyến trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà nhưng chính nó đã để lại nhiều hậu quả nặng nề và cản trở sự phát triển kinh tế xã hội. Nghĩ vậy, tôi hỏi ông: "Bản án sơ thẩm có nhận định: Nhìn lại toàn bộ hoạt động của Tạ Đình Đề trong những năm 1971-1974, đi đến kết luận như sau: Thấy việc gì có lợi cho đơn vị mình phụ trách thì bất kể là móc ngoặc, xin nhượng, mua bán đổi chác... là tiến hành. Thấy mặt hàng gì có khả năng dùng được thì tung tiền ra mua kỹ thuật về sản xuất(*). Ông có thể nói cụ thể ý kiến của mình về nhận định trên của Hội đồng xét xử được không ạ?".

Tay xoay xoay chiếc điếu bát đã lên nước bóng loáng, ông gật đầu: "Vào những năm đầu thập kỷ 70, lúc này máy bay Mỹ ném bom miền Bắc rất ác liệt. Tôi nghe đồng nghiệp thông báo một tin rất quan trọng là tại các ga xe lửa và Cảng Hải Phòng có nhiều phương tiện, máy móc bị bom đạn Mỹ bắn phá nằm lăn lóc, rải rác khắp nơi, trong đó có cái còn sử dụng được. Mấy ngày sau đó, tôi cùng anh em đơn vị lên đường đi khảo sát ngay tại các ga xe lửa và Cảng Hải Phòng. Đúng như tin đồng nghiệp báo, tôi thấy tại các nơi này có rất nhiều máy móc, thiết bị của nước ngoài được nhập về chưa sử dụng. Trong số đó, có cái đã bị bom Mỹ bắn phá tan hoang, có cái nằm phơi nắng, phơi mưa. Bằng quan sát mắt thường của người hiểu ít nhiều về máy móc, chúng tôi thấy có nhiều máy móc bị địch bắn phá hư hỏng nhưng có khả năng sửa chữa, phục hồi được để trở thành các phương tiện hữu ích cho đơn vị.

Sau chuyến đi ấy, mấy đêm liền tôi trằn trọc không sao ngủ được. Hình ảnh các cỗ máy đang nằm dưới tầm bom đạn, hàng ngày phơi sương, phơi gió ngoài cảng, ga xe lửa cứ hiện lên trước mắt tôi. Tôi đã từng mơ ước, các phương tiện máy móc đó được chuyển về đơn vị mình thì nay cơ hội đã đến. Nhất định dưới bàn tay lao động của anh em công nhân nó sẽ được sống lại để sản xuất ra của cải vật chất cho đất nước. Tôi trực tiếp báo cáo và được đồng chí Tổng cục trưởng Tổng cục Đường sắt Hà Đăng Ấn nhất trí cho đơn vị liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết. Đồng chí Tổng cục trưởng lưu ý chúng tôi là phải có văn bản báo cáo xin ý kiến của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải và Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần... Nghe vậy, trong bụng tôi như có trống giong cờ mở, vui lắm. Không chần chừ thêm chút nào, tôi cho anh em thảo công văn gửi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như: Tổng cục trưởng Tổng cục Đường sắt Hà Đăng Ấn; Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Dương Bạch Liên và Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần Đinh Đức Thiện để xin ý kiến. Qua thông tin tôi nắm được, khi nhận được văn bản này, các đồng chí ấy cũng thấy máy móc, thiết bị không thể bỏ phí, lăn lóc như thế được và đã rất ủng hộ ý kiến đề xuất của đơn vị. Họ đã nhất trí nhượng lại cho đơn vị chúng tôi. Và sau đó, một số máy móc thiết bị được chúng tôi vận chuyển về Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt."

Vừa nghe ông kể tôi vừa thầm nghĩ, ông Đề quả là người dám nghĩ, giám làm như người lính dũng cảm xông pha trận mạc năm xưa, nay đang "tả xung hữu đột" trên mặt trận kinh tế. Với lòng nhiệt huyết và trách nhiệm cùng trí thức và máy móc công cụ, Tạ Đình Đề và cộng sự đã giải quyết được cơ bản về thiết bị máy móc cho đơn vị. Nhưng có máy móc rồi, còn con người sử dụng các cỗ máy ấy thì sao? Đây là thời kỳ thực hiện chế độ bao cấp, con người làm việc cầm chừng, lớ ngớ như gà công nghiệp, không hiểu ông đã có biện pháp gì để kích thích người lao động hăng hái sản xuất.

Tôi nhớ bản cáo trạng(*) truy tố ông Đề có liệt kê một loạt các hành vi của Tạ Đình Đề phạm tội cố ý làm trái. Trong đó có hành vi chi thưởng cho người nào có sáng kiến, cải tiến, chi mua kỹ thuật, chi tiếp khách, chi bồi dưỡng và chi thưởng cho mỗi cán bộ, công nhân viên của Xưởng dụng cụ cao su, mỗi người 1/2 tháng lương hết 10.000đ... Theo quan điểm của cơ quan truy tố, đó là hành vi phạm tội cố ý làm trái. Nghĩ vậy, tôi hỏi ông: "Trong bản cáo trạng truy tố ông về tội cố ý làm trái, có việc chi tiêu sai nguyên tắc trong đơn vị. Ông có thể kể cho nghe chi tiết hơn về nội dung này được không ạ".

Ông gật gật đầu, tiếp tục câu chuyện: "Để làm rõ nội dung này, thiết nghĩ cần hiểu đúng bối cảnh lúc bấy giờ, nhất là tinh thần làm việc của công nhân. Vào thời điểm ấy, nhiều công nhân trong đơn vị không mặn mà với công việc được giao. Tình trạng "chân ngoài dài hơn chân trong" đang xảy ra phổ biến không chỉ đối với cách suy nghĩ và hành động của công nhân Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt mà còn xảy ra trong nhiều đơn vị kinh tế khác. Tình hình trên dẫn đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm rất thấp. Đời sống của tuyệt đại bộ phận cán bộ công nhân viên trong đơn vị rất khó khăn... Trong tình trạng sản xuất của đơn vị đi xuống như vậy, tôi cảm thấy ăn không ngon, ngủ không yên. Nhiều lúc cứ trằn trọc, băn khoăn, nghĩ mãi cách tháo gỡ tình trạng trì trệ trong đơn vị mà chưa có cách nào. Hễ nằm xuống giường, gác tay lên trán, dù buổi trưa ở cơ quan hay lúc về nhà, hình ảnh người công nhân phải chịu cảnh khó khăn về đời sống hiện lên rõ mồn một trước mắt tôi. Xót xa lắm chứ! Nhiều lúc thấy anh em công nhân phải nghỉ việc để "đi đánh ngoài", tìm cái ăn cho vợ con nhưng cũng không cải thiện được kinh tế bao nhiêu tôi cay đắng lắm. Có hôm vào thăm anh em công nhân đang sản xuất giữa ca, tôi quặn lòng khi nhìn vào cặp lồng cơm của họ. Có gì đâu ngoài vài lưng cơm độn mỳ, có người cơm độn sắn, độn khoai và rau muống luộc. Người nào khá hơn một chút thì may ra có vài miếng đậu phụ rán cháy cạnh... Nhìn cặp lồng cơm đạm bạc, nét mặt xanh xao của người thợ, mắt tôi tự nhiên rưng rưng. Tôi đứng lặng im, quay mặt về nơi khác để cố che đi nỗi xúc động trào dâng vì xót thương anh chị em đồng nghiệp thân yêu của mình. Nhìn cuộc sống cơ cực của anh em người thợ, tôi tự hỏi: Tại sao đất nước đã thống nhất, hòa bình đã được lập lại mà cái ăn, cái mặc cho anh em công nhân vẫn không đủ?

Là người lãnh đạo, tôi cảm thấy mình chưa hoàn thành nhiệm vụ của người đảng viên được anh em tin tưởng giao cho và thật sự có lỗi với anh em công nhân. Từ suy nghĩ vậy, tôi đã cùng anh em tìm mọi cách để vực dậy đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ công nhân. Sau đó, trong buổi giao ban lãnh đạo đơn vị, tôi đã phát biểu và nhận mình là người có lỗi lớn nhất trước sự vất vả trăm đường của người thợ. Cũng trong buổi giao ban này, tôi đã cùng tập thể lãnh đạo hạ quyết tâm đoàn kết, tìm mọi cách để vực dậy sức sản xuất của đơn vị".

Năm tháng túng thiếu, gian khó ấy qua rồi, xa rồi mà giọng ông kể với tôi vẫn còn nghèn nghẹn: "Tôi không thể chối bỏ trách nhiệm của người lãnh đạo trước cuộc sống quá ư khó khăn của công nhân. Cổ nhân nói: "Có thực mới vực được đạo". Cái bụng của anh em công nhân chưa no thì đừng nói chuyện động viên chung chung được. Đã bao lần bàn bạc trong tập thể đơn vị cũng như bao đêm vắt óc suy nghĩ tìm cách làm cho cái "bụng" công nhân được no hơn, mặc ấm hơn mà cũng chưa tìm ra giải pháp. Mọi người trong Xưởng dụng cụ cao su đều lo cái ăn cái mặc mà không xong. Có người xin nghỉ phép để đi chạy chợ, buôn bán, thêm thắt đồng ra đồng vào cũng bị phá sản vì vướng vào cơ chế chỉ Nhà nước mới được lưu thông, phân phối. Hồi đó, những hàng hóa không phải của ngành thương nghiệp Nhà nước thì đều coi là hàng lậu. Do vậy, đâu đâu cũng mọc lên các trạm kiểm soát gắt gao để "ngăn sông cấm chợ". Chính vì vậy mà gạo, thịt, bánh kẹo, bột giặt, áo quần, mũ dép... đều có thể là hàng lậu ở bất cứ nơi nào, lúc nào. Còn việc khai hoang trồng trọt, chăn nuôi thì ở Hà Nội lấy đâu đất mà làm".

Ông kể tiếp: "Đến giữa thập kỷ 60 của thế kỷ trước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, miền Bắc chúng ta đã tạo được một động lực mới mẻ và vô cùng lớn lao để khích lệ mọi người hăng say chiến đấu và sản xuất. Nhưng cuối những năm 70 và trong những năm 80 của thế kỷ trước, cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp lại dựa vào ý chí chủ quan, mệnh lệnh hành chính đã làm mất đi tinh thần hăng say trong sản xuất, dần dần động lực người lao động không còn như trước nữa. Người lao động không còn hăng hái sản xuất khi thấy người làm nhiều, làm ít đều hưởng như nhau, không ai có thể mãi mãi lo cái chung khi vợ con đói rách và mình cũng thế. Động lực sản xuất của người lao động bao gồm lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần gần như bị triệt tiêu tại nhiều đơn vị kinh tế.  Tôi không được học hành bài bản về quản lý kinh tế nên chỉ nghĩ rằng, muốn đẩy mạnh phát triển sản xuất, một trong những biện pháp quan trọng là người lãnh đạo đơn vị phải biết tận dụng và khơi dậy động lực vốn có của người lao động. Động lực đó chính là lấy lợi ích vật chất để khuyến khích tinh thần say mê làm việc của anh chị em công nhân. Đồng thời phải tạo ra cuộc sống tinh thần trong công nhân để họ phấn khởi, hăng say trong sản xuất.

Sau nhiều lần trằn trọc, suy nghĩ lóe sáng trong tôi ý nghĩ ấy. Phải làm thế nào để công nhân gắn bó với sản xuất, gắn bó với đơn vị, từ đó họ mới có nhiều sáng kiến cải tiến chứ. Phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công nhân, làm cho họ coi Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt là ngôi nhà chung của chính mình. Nghĩ là làm, tôi tổ chức hội nghị công nhân viên, thảo luận dân chủ và đi đến nhất trí: Áp dụng hình thức khoản sản phẩm, khoán công việc đến từng tổ sản xuất, từng người công nhân. Nghĩa là, đơn vị của tôi không áp dụng hình thức trả lương bình quân như các xí nghiệp khác vẫn làm theo quy định mà trả lương theo sản phẩm. Người nào có nhiều sáng kiến, cải tiến, làm được nhiều sản phẩm thì sẽ được trả lương nhiều hơn người làm được ít sản phẩm... Nếu sản xuất phát triển, quỹ phúc lợi tăng lên thì cho phép áp dụng chế độ ăn giữa ca không mất tiền, trả thêm lương tháng 13 để cho công nhân ăn Tết. Khi tiến hành phổ biến, xin ý kiến góp ý của anh chị em công nhân về chủ trương này, mọi người hào hứng và nhiệt liệt ủng hộ.

Thời kỳ bấy giờ, đây là điều vô cùng mới lạ, chưa có nơi nào làm như vậy. Có người còn góp ý là quá mạo hiểm. Lúc đó tôi cũng đã xác đinh, việc làm ăn theo cơ chế mới rất có thể bị cho là "phá rào", không chấp hành pháp luật và rất có thể bị nguy hiểm. Nhưng hãy gạt sang một bên những gì thuộc về lợi ích cá nhân, cái lớn nhất lúc bấy giờ chính là làm thế nào cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho anh em người thợ cũng như vực dậy sự phát triển đi lên của Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt. Tuy nhiên, đây là cách làm ăn mới, nên tôi đã trực tiếp báo cáo xin ý kiến đồng chí Tổng cục trưởng Hà Đăng Ấn. Sau khi nghe tôi báo cáo, đồng chí Hà Đăng Ấn hoàn toàn đồng ý. Đồng chí chỉ lưu ý rằng việc chi thưởng chỉ được trích từ quỹ phúc lợi của đơn vị. Nghĩa là, chỉ khi nào sản xuất phát triển thì mới được thực hiện việc chi thưởng. Và sau đó chủ trương này được áp dụng thực hiện trong Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt."

Nghe ông kể cũng như lời phát biểu của ông Hà Đăng Ấn trước tòa và hỏi thêm một số người thợ về trả lương theo sản phẩm tại Xưởng dụng cụ cao su là sự thật. Tôi thấy hiện nay phương pháp quản lý trên đây đã trở thành quy định của Nhà nước, quen thuộc, bình thường. Nhưng vào thời điểm đó, việc hình thành ý tưởng này nó chẳng hề đơn giản chút nào nếu không muốn nói là vô cùng phức tạp. Diễn đạt theo cách nói dân gian là "bẻ nạng chống trời đó". Với cách làm của mình, Tạ Đình Đề đã khôi phục lại cái động lực vốn có của người lao động. Chỉ tiếc rằng, những cải tiến trong quản lý xí nghiệp của ông Đề đã đưa lại hiệu quả lớn lao như vậy nhưng phải sau hàng chục năm trời mới trở thành cơ chế chính sách, mới trở thành hiện thực sinh động.

Tạ Đình Đề kể tiếp: "Sau một thời gian áp dụng phương thức làm ăn mới, anh em công nhân của Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt đã được trả công xứng đáng. Người lao động hăng hái làm việc, có nhiều sáng kiến cải tiến, năng suất lao động tăng lên, sản phẩm của xí nghiệp có độ tinh xảo cao, cạnh tranh được với sản phẩm của nước ngoài. Chỉ tính riêng mặt hàng vợt bóng bàn đã được nhiều khách hàng trong và ngoài nước ưa chuộng. Tôi còn nhớ vào thời kỳ đó, vợt bóng bàn thương hiệu made in Việt Nam do Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt sản xuất không thua kém sản phẩm nước ngoài và được xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới."

Tôi ngắm ông, lòng đầy thán phục. Sự say mê nhiệt huyết của Tạ Đình Đề và đồng nghiệp của ông thật đáng trân trọng trong hoàn cảnh bấy giờ. Đó là tinh thần dám nghĩ, dám làm của những con người cộng sản chân chính hết lòng vì nhân dân. Nghe ông tâm sự, tôi thầm nghĩ: Vào thời điểm những năm 70 của thế kỷ trước, hàng công nghiệp của ta sản xuất ra mà được xuất khẩu chỉ đếm trên đầu ngón tay. Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt của ông Đề, lúc đầu chỉ là hợp tác xã sản xuất, mà sản phẩm là vợt bóng bàn được xuất khẩu để lấy tiền mua đầu máy xe lửa cho Nhà nước thì quả là điều kỳ diệu. Tuy nhiên, tôi không khỏi băn khăn về mặt công nghệ kỹ thuật dẫn tới thành công của sản phẩm vợt bóng bàn như ông đã kể. Có bí quyết gì đặc biệt không vậy? Và, bằng cách nào mà trong hoàn cảnh vừa sản xuất vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt không những trụ vững mà còn phát triển đi lên? Tôi tiếp tục đặt câu hỏi cho ông.

Trong câu chuyện về công nghệ kỹ thuật của mình, ông thường nhắc đến một nhân vật mà thời đó được anh em gọi là "chiến lược gia", "kiến trúc sư" của đơn vị. Đó là người đã tiên phong, đi đầu trong việc nghiên cứu, sản xuất vợt bóng bàn mà lâu nay ít người biết đến.

Ông kể: "Hồi năm 1946, tôi có người bạn là Nguyễn Văn Thi(*). Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Văn Thi chuyên bán cà phê, gọi là cà phê Nhân. Quán cà phê Nhân ở Hà Nội trở thành nơi cung cấp tin tức tình báo rất hiệu quả cho Đội biệt động thành Hà Nội. Như tôi đã kể trên, sau khi hòa bình lập lại, Tổng cục Đường sắt thành lập Xưởng dụng cụ cao su để sản xuất nhiều mặt hàng phục vụ Ngành, trong đó có vợt bóng bàn. Lúc đầu, đơn vị gặp nhiều khó khăn và lúng túng về công nghệ kỹ thuật, nên quyết tâm tìm người tài để gỡ bí. Nghe tin Nguyễn Văn Thi đang sản xuất thử vợt bóng bàn nên tôi đã ghé thăm và mời ông về làm việc cho Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt. Tôi đặt vấn đề như vậy và ông bạn của tôi vui vẻ nhận lời ngay. Ông Thi cười hể hả: "Với ai còn suy tính đắn đo, chứ với anh Đề thì xong ngay". Với đầu óc thông minh và đôi bàn tay vàng của ông Thi, vợt bóng bàn do Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt sản xuất ngày càng có chất lượng. Nhiều người trong đơn vị thật sự phấn khởi khi vợt bóng bàn mang thương hiệu made in Việt Nam được khách hàng trong và ngoài nước thời đó rất ưa chuộng. Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu nhập khẩu nhiều mặt hàng này. Xuất khẩu ngày càng tăng, do đó đơn vị đã thu về cho Nhà nước khá nhiều ngoại tệ".

Nhân câu chuyện này, xin trích bài báo của Trần Quang, đăng Tạp chí Thể thao ngày 11-02-2013 kể về mối cơ duyên giữa Tạ Đình Đề và ông Nguyễn Văn Thi: "Ít người biết rằng ông và một người bạn đồng tuế Nguyễn Văn Thi đã cùng nhau khai sinh ra một thương hiệu độc đáo của thể thao Việt Nam một thời, đó là những chiếc vợt mút (mousse) "made in Đường sắt Việt Nam", một sản phẩm từng có giá trị xuất khẩu cao trên trường quốc tế. Trong vở kịch "Tôi và chúng ta" nổi tiếng một thời, Lưu Quang Vũ đã lấy nguyên mẫu và chất liệu từ Tạ Đình Đề và Xưởng dụng cụ Cao su Đường sắt.

Tạ Đình Đề và Nguyễn Văn Thi cùng sinh năm 1917, quen thân nhau từ sớm. Họ nhanh chóng và tự nguyện đến với cách mạng và từ năm 1946, cùng với dòng người Hà Nội đi tản cư, ông Thi đã mở quán cà phê lấy tên là cà phê Nhân tại Nho Quan, chợ Đại, Cống Thần để làm cơ sở liên lạc. Đội trưởng Tạ Đình Đề và Thiếu tướng Hoàng Sâm đã nhiều lần đến cửa

Chia sẻ cảm nhận của bạn

Tin liên quan

Bộ luật hình sự - nước CHXHCN Việt Nam 2017

Bình luận Người đăng: Admin

NGHỊ QUYẾT VỀ VIỆC THI HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ SỐ 100/2015/QH13 ĐÃ ĐƯỢC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU THEO LUẬT SỐ 12/2017/QH14 VÀ VỀ HIỆU LỰC THI HÀNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG... Xem thêm

Vương quốc hoa hồng đầu tiên tại Việt Nam

Bình luận Người đăng: Admin

Vương quốc hoa hồng đầu tiên tại Việt Nam Xem thêm

Theo dòng công lý

Bình luận Người đăng: Admin

Theo dòng công lý là một hồi ức quý, có giá trị góp phần xây dựng con người cán bộ, Kiểm sát viên trong giai đoạn hiện nay. Qua những vụ án lớn một thời được... Xem thêm

Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm

Bình luận Người đăng: Admin

"Tranh luận tại phiên toà sơ thẩm" do TS. Dương Thanh Biểu hiện đang công tác tại Viện Kiểm sát nhân dân tối cao biên soạn là một cuốn sách có nội dung phong phú và... Xem thêm