TẠ ĐÌNH ĐỀ, NHỮNG GÓC KHUẤT CUỘC ĐỜI

1 tháng trước - Bởi Admin
Bình luận - 2.640 lượt xem

Tạ Đình Đề

nhữ ng góc khuât cuộ c đời


2


TS. DƯƠNG THANH BIỂU

T ạ Đình Đề

những góc khuất cuộc đời

(Tác phẩm và Dư luận) (Tái bản)


4





ó


Thay cho lời giới thiệu

Suốt thời bé tôi thường được bố say sưa kể cho nghe về những chuyện mang mầu sắc huyền thoại trong đó Tạ Đình Đề là nhân vật chính. Những chuyện đó không chỉ hấp dẫn, mà còn đầy tinh thần nghĩa hiệp, thượng võ. Dù kể bao nhiêu lần chăng nữa, chúng vẫn đủ hấp dẫn để người nghe muốn nghe thêm, còn người kể thì không thây cảm hứng bị giảm. Môi chuyện sau đó, tuỳ người kể, tùy nơi được kể lại, mà sinh ra không biết bao nhiêu dị bản. Mặc, chúng, những câu chuyện ấy vẫn luôn tươi mới và có sức lôi kéo cực kỳ khó cưỡng.

Chính vì thế'' tên tuổi Tạ Đình Đề đã trở thành một phần của ký ức những người như tôi. Có cảm giác ông không bao giờ chết, không thể bị đánh bại, nhât là khi tất cả mọi người cùng mong muốn điều đó ở vị anh hùng của mình. Đúng là Tạ Đình Đề đã trở thành người hùng dân gian từ khi ông còn sống. Đó là điều râ't đáng kể với bât cứ cuộc đời nào.

Chẳng hạn như bố tôi, ông không chỉ tin sái cổ vào những câu chuyện rat khó tin gắn với Tạ Đình Đề, mà còn thầm mong ước được làm những điều nghĩa hiệp ây. Ông khiến chúng tôi luôn hình dung Tạ Đình Đề là một thứ người giời, có phép thần thông biến hoá.

Chẳng hạn như chúng tôi, môi khi gặp chuyện gì nguy hiểm, đáng sợ, chúng tôi lại thầm khấn ông Tạ Đình Đề hiện ra để cứu giúp.

Điều thú vị là bố tôi không bao giờ biết người anh hùng của ông và bản thân ông có dây dưa về máu mủ. Có lẽ họ bằng vai nhau. Và nếu đúng như vậy thì Tạ Đình Đề phải gọi bố tôi bằng anh họ xa. Những khi còn sống và lúc đó bố tôi đã tha hương,

ÍT' 1—"x \               1 T~\ A' a                                                   a' 1 A Í-I-I a’ 1                                                                         f • -ị f                                                                , A •         1 «A

cụ Tạ Đình Đề van về le Tổ chung với chúng tôi, hiện nhà thờ đặt ở xã Quảng Bị, huyện Chương Mỹ, Hà Nội. Khi cụ mât thì con cháu cụ thay mặt và van rât chăm chỉ.

Những chuyện như vậy tôi cũng chỉ mới biết cách nay hơn chục năm, nhât là sau khi báo chí nói

s nhiều về vụ án đầy bi hài mang tên Tạ Đình Đề, thuộc số những vụ án lịch sử. Chỉ có điều diễn biến vụ án như thế nào thì vẫn luôn là mối quan tâm của những người như tôi. Nhưng ở môi nơi, những chi tiết, tình tiết lại có sự khác nhau. Nguồn gốc của vụ án cũng chỉ được nói sơ qua. Điều đó khiến công cuộc minh oan cho Tạ Đình Đề với chúng tôi cứ mãi còn bị bỏ dở, mặc dù Nhà nước đã chứng tỏ điều này bằng một tấm huân chương Độc Lập tặng cho

/V                  ÍT11                    1 A' 1 \               , \      1 A' 4. A'                                                     1           /                , /\ • /V                               r r

ông. Thực tế là từ bây đến nay chúng tôi vẫn có ý

, \                                1                                             • A'   , \ •                              1 • /s.                                 4. A’ 1                                   • A’     ,                                                         \                       . A                                                   1                                                     A'                                                   a •

tìm kiếm tài liệu để hiểu tường tận hơn vẽ nôi oan khuất (hoặc sự dại dột) của người bà con trong họ nhà mình, dẫn đến nôi đau thương cho cả gia đình ông, cho dòng họ và làm tổn thương ký ức thế hệ con cháu chúng tôi. Nhưng xem ra sự thật cứ luôn ở phía trước, cách một đoạn đủ để thành tù mù. May thay, luôn có những người cũng nôn nóng minh oan cho Tạ Đình Đê' như chúng tôi, hoàn toàn chỉ vì công lý. Vì thế mà chúng ta mới được đọc cuốn sách quý này. Nó quý trước hết bởi những tư liệu được đảm bảo cao về' tính trung thực. Nó quý còn bởi, với những người như tôi, mọi thắc mắc về' vụ án Tạ Đình Đề đều được thỏa mãn.


Tôi thực sự chỉ biết nói rằng, từ đáy lòng mình, xin chân thành cảm ơn tác giả, tiến sĩ Dương Thanh Biểu và mong cho ngòi bút nghĩa khí của ông luôn mạnh mẽ. Cái tình của ông thật lớn, với bạn đọc và với cuộc đời.

Hà Nội tháng G1-2G14 Tạ Duy Anh


Phần 1

TÁC PHẨM


l2


Một

Mở đầu


au ngày miền Nam hoàn toàn được giải phóng, Tạ Đình Đề có dịp vào thành phố' Hồ Chí Minh để thăm con, cháu và bạn bè. Một hôm, ông cùng người bạn già, cũng là chiến sĩ biệt động thành Hà Nội năm xưa, thuê một chiếc xích lô đi dạo chơi ven bờ sông Sài Gòn. Lâu ngày gặp nhau, họ hàn huyên, nhắc lại những câu chuyện chiến đấu, hy sinh nhưng rất đỗi hào hùng thời chống Pháp. Hai người đang cái nhịp hàn huyên, sôi nổi theo kiểu nhà binh, ôn cũ nhớ xưa, bỗng người đạp xích lô, dừng lại, nhảy xuống đất. Anh ta chạy lên phía trước, hai tay chắp


trước ngực, cúi vái ba cái, đoạn nhìn thẳng vào hai vị khách và hỏi một cách trân trọng:

Thưa hai chú. Có phải một trong hai chú đây là Tạ Đình Đề không ạ?

Cả hai vị khách rất ngạc nhiên vì họ chỉ gọi nhau bằng bí danh mà sao anh này lại biết ông Đề nhỉ? Ông Đề mỉm cười, hỏi lại:

Tại sao ở Sài Gòn mà anh lại biết ông Đề?

Dạ thưa hai chú. Cháu vừa đạp xích lô vừa nghe hai chú trò chuyện. Nghe chuyện hai chú kê^, linh cảm cháu nhận ra một trong hai chú rất giống hình ảnh ông Đề thời Hà Nội bị Pháp tạm chiếm. Thời kỳ năm l947- 1949, cháu đang là học sinh ở Hà Nội. Tụi cháu lúc đó ai cũng thích nghe chuyện về Đội biệt động thành Hà Nội do Tạ Đình Đề chỉ huy. Bà con Hà Nội thời đó ai cũng ca ngợi những chiến công thầm lặng nhưng vô cùng oanh liệt của Tạ Đình Đề và các chiến sĩ Đội biệt động thành Hà Nội. Có người kể rằng, hồi đó, bọn lính Pháp và bọn Việt gian bán nước ở Hà Nội vô cùng lo sợ Tạ Đình Đề và các chiến sĩ của ông. Họ có biệt tài xuất quỷ nhập thần, không có sức mạnh nào ngăn nổi.

Năm 1953, cháu chưa đến tuổi trưởng thành nhưng vẫn bị bắt đi lính Bảo chính Đoàn cho Pháp. Lúc đó bọn cháu, thằng lính nào cũng thích kể cho nhau về chuyện ông Đề. Chuyện rằng, ông ấy có tài xuất quỷ nhập thần, hai tay cầm hai khẩu súng Van-te lăm lăm, bắn đâu trúng đây. Vậy mà trong bọn lính chúng cháu, có đứa đi bảo vệ tên quan hai người Pháp, trong chớp mắt, bị ông Đề, như trên trời nhảy xuống, bâm huyệt làm nó không nói được. Ông ây bảo: Cho Tạ Đình Đề "mượn" chiếc áo và súng đi nhé. Thằng lính bảo vệ như bị thôi miên, mât hết hồn vía, ngoan ngoãn cởi áo và súng đưa cho Tạ Đình Đề. Vừa nói, ông Đề vừa khoác trang phục lính ngụy, rảo bước đến gần tên quan hai, ghé tai, nói bằng tiếng Pháp, ra lệnh cho hắn chỉ huy toán lính đi thẳng. Còn tên quan hai người Pháp cùng ông Đề rẽ ngoặt vào một ngõ nhỏ rồi biến mât tăm... Bọn lính chúng cháu và có cả bọn lính Tây nữa, rât thích nghe những chuyện về ông Đề. Cũng thật lạ, khi nghe những chuyện về ông, bọn lính chúng cháu vừa phục, vừa sợ sệt, khiếp vía nhưng thằng nào cũng thích nghe. Sau đó, bọn chỉ huy người Pháp phát hiện, trong các doanh trại, bọn lính hay kể chuyện về ông Đề và Đội biệt động thành Hà Nội. Nhiều tên yếu bóng vía lúc nào cũng tưởng như ông Đề đang có mặt đâu đó. Có những tên lính suy sụp ý chí, không giám thực thi nhiệm vụ. Bọn chỉ huy đã ra mật lệnh: Từ nay, câm tiệt việc bàn tán về chuyện ông Đề. Nhưng chuyện về ông ây cứ râm ran trong trại lính...

Người đạp xích lô kể đến đây, rút trong túi tâm giây đưa cho hai vị khách và nói: Đây là địa chỉ và số


điện thoại của cháu. Lúc nào hai bác cần đi đâu cứ gọi, cháu sẵn sàng phục vụ ngay à.

Đầu những năm 50, Tạ Đình Đề hoạt động ở những vùng tiếp giáp giữa Khu III và Khu IV. Ở các quán nước hay nơi tụ tập đông người tại các tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh, đâu đâu bà con cũng kể chuyện về ông Đề: Ông Đề học trường Võ bị của Tưởng Giới Thạch, được chúng giao đi ám sát Cụ Hồ, nhưng rồi được Cụ cảm hóa và trở thành người cận vệ trung thành của Cụ. Có lần, ông Đề đã kịp thời phát hiện và tiêu diệt tên nữ quái là gián điệp của địch được giao nhiệm vụ ám sát Cụ Hồ. Rồi biết bao chuyện nữa: Ông Đề tóm gọn tên trùm buôn lậu, có súng ở mạn Cầu Bố' Ông Đề thi bắn súng với sĩ quan Tàu, rồi chuyện ông Đề ngăn chặn công an viên lộng hành, ức hiếp nhân dân...

Chuyện về Tạ Đình Đề thời ấy được lan ra và truyền tụng trong dân gian, từ Nam chí Bắc, từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị đến vùng nông thôn. Cho đến hơn nửa thế' kỷ sau, chuyện về ông Đề vẫn được nhắc đến trên công luận (báo Công an nhân dân Online ngày 23-02-2008, báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh ngày 17-12-2012...). Những câu chuyện về Tạ Đình Đề đã trở thành huyền thoại, được nhân dân truyền tụng, thêu dệt, thêm thắt, gửi vào đó khát vọng Anh hùng, lòng yêu nước, thương dân. Những câu chuyện ấy đan xen nhau giữa thực và ảo, bình thường và phi thường, cần mẫn và thông minh, thật thà và dũng cảm, nhiệt huyết và tố't bụng. Câu chuyện vào đoạn cuối bao giờ cũng bất ngờ khiến người nghe cười phá lên sảng khoái, tự hào...

Tạ Đình Đề, dưới con mắt của nhân dân Việt Nam được truyền tụng cho nhau nghe là thế đấy. Nhưng cũng con người ấy, vào thời kỳ Đất nước gặp phải hiểm nghèo (cuối những năm 70 và những năm 80 của thế' kỷ trước), cả nước lại rộ lên cái tên Tạ Đình Đề. Cái tên đó, lúc này không phải là huyền thoại Anh hùng năm xưa nữa mà là những bi thương của một kẻ tù tội, do cơ quan pháp luật bắt giam, đúng lúc đất nước ta vào thời "đêm trước đổi mới"! Lần thứ nhất, Tạ Đình Đề bị bắt giam suố't gần hai năm, rồ'i bị truy tố' ra Tòa với ba trọng tội: Tham ô tài sản XHCN, Cố' ý làm trái và Hối lộ. Với những tội danh ấy, vào thời điểm này, thường thì bị xã hội lên án mạnh mẽ. Ấy vậy mà, tại phiên tòa xét xử Tạ Đình Đề, hàng ngàn người từ các địa phương kéo về, từ các cung đoạn đường sắt, từ nội và ngoại thành Hà Nội lũ lượt kéo đến. Họ chen nhau đứng dưới loa phóng thanh, quanh khu vực Tòa án nhân dân thành phố' Hà Nội trong thời tiết nắng gắt, cơm đùm cơm nắm suốt sáu ngày liền để theo dõi diễn biến phiên tòa xét xử vụ án Tạ Đình Đề.

Một điều lạ nữa là, khi Tạ Đình Đề phát biểu trước Tòa hoặc luật sư bào chữa cho ông Đề cũng như đại diện đơn vị của ông Đề phát biểu, tiếng vô tay rào rào không ngớt. Khi nghe bà Phùng Lê Trân, Chủ tọa Hội đồng xét xử tuyên bố tha bổng ông Đề thì hàng ngàn người ồ lên vui sướng, reo hò, hô vang: Tạ Đình Đề, Tạ Đình Đề! Quả là sự kiện chưa từng có trong tiến trình lịch sử tư pháp nước nhà.

vẫn chưa hết. Sau sự kiện làm chân động dư luận nói trên độ hơn chục ngày, bản án tuyên bố' ông Đề vô tội đã bị cơ quan công tố' kháng nghị, yêu cầu xét xử phúc thẩm toàn bộ vụ án đó. Nhưng cũng thật lạ, hơn 16 năm sau, Tạ Đình Đề và các bị cáo khác, mât việc làm, mỏi mòn chờ bản án phúc thẩm mà vẫn không được ai xét xử. Trong lúc đang chờ phiên tòa phúc thẩm, Tạ Đình Đề lại bị bắt giam hơn 2 năm về tội an ninh quốc gia. Nhiều người tự hỏi, một lão thành cách mạng, một người Anh hùng như ông Đề sao lại phạm tội tày đình như vậy? Cũng thật may cho ông Đề, tuy Cơ quan điều tra có đề nghị truy tố về tội tuyên truyền phản cách mạng nhưng lần này, Viện kiểm sát nhân dân tôi cao đã quyết định đình chỉ điều tra, giải oan cho ông.

Đến nay Tạ Đình Đề "đã đi theo Bác Hồ". Mặc dù đã bị "vào tù, ra tội" đến mây lần nhưng ông đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là người có công lớn với đât nước, với nhân dân và đã được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng III. Trong tâm khảm người dân đâ't Việt, ông Đề là người anh hùng có công với dân, với nước, đã bị sa cơ, lỡ vận, rơi vào vòng oan trái đến tận cùng. Đố! với tôi, hình ảnh người anh hùng ây vẫn luôn ám ảnh và hiện diện trong đầu óc tôi suốt nửa thế' kỷ qua. Tuổi thơ của tôi được truyền năng lượng mới nhờ những câu chuyện huyền thoại của ông Đề được người lớn kể lại. Tâm gương Anh hùng của ông như thêm một động lực thôi thúc tôi xung phong lên đường ra tiền tuyến chiến đâu chống quân thù. Kế't thúc đời quân ngũ, tôi chuyển ngành về Viện kiểm sát nhân dân tối cao, nguyện suối; đời làm "người lính" trên mặt trận bảo vệ pháp luật.

Trớ trêu thay, Tạ Đình Đề, người Anh hùng trong trí tưởng tượng của tôi năm xưa, lúc này lại là bị can, bị cáo, hai lần sa vào vòng lao lý, gần bốn năm ngồi tù oan! Trong lần ông Đề bị bắt giam lần thứ hai, tôi có dịp được "trả nợ" cho ông phần nào. Nhưng những gì mà ông phải chịu đựng qua những lần bị bắt giam oan thì quá lớn. Vì vậy, việc ông Đề bị oan ức cứ đeo bám tôi suốt mây chục năm trời làm nghề Kiểm sát. Cho đến nay, khi đã về hưu, tôi vẫn không quên được hình ảnh ông Đề. Tôi đã lục tung cả "kho lưu trữ" để đọc lại hồ sơ của hai vụ án mà ông Đề là bị can, bị cáo. Tôi đã tìm


gặp những người làm công việc điều tra, truy tô' và xét xử ông Đề ở vụ án trên; gặp gỡ những vị lão thành, những vị tướng một thời đã sát cánh cùng ông, xông pha trận mạc, chiến đấu chông quân thù; rồi gặp hỏi chuyện những con người một thời đã cùng ông Đề, vượt qua biết bao gian khổ để xây dựng Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt; gặp những người họ hàng thân thích của ông, những người cầu thủ bóng đá của ông và có cả những người cùng cảnh lao tù với ông Đề nữa. Chưa hết, tôi cô' đọc những cuôn sách, bài báo từ trước

A- _                            _                                 A• s±'i 'S'                                                                                                       T~\ Ạ' /"ì                                          Ạ'*           \                                      1         A', 1                                                        ?                   1

đến nay đã viết vế ông Đế. Cuối cùng, kết hợp sử dụng những tư liệu do ông Đề kể lại mà tôi may mắn đã có dịp được trò chuyện với ông nhiều lần.

Chúng tôi đã kể cho nhau nghe những chuyện về cuộc đời người lính đầy gian khổ hy sinh thời chống Pháp (của ông Đề) và thời chông Mỹ (của tôi). Chúng tôi ngồi ôn lại những năm tháng bao cấp và hiểm nghèo của những năm 7Q và BQ, thế kỷ trước. Ông đã tâm sự rất thật với tôi về cuộc đời và những suy nghĩ như thế nào đôi với đơn vị của ông đã làm ở thời kỳ đầu, mầy mò đổi mới. Ngày ấy, Nhà nước thực hiện cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, ông đã vắt óc suy nghĩ tìm cách quản lý mới như thế nào để đẩy mạnh sản xuất, ông đã lo công ăn, việc làm, bảo đảm đời sông cho anh em công nhân ra sao và bằng cách nào ông đã đưa sản xuất ngày càng phát triển, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều và chất lượng đáp ứng nhu cầu cho xã hội. Tôi hỏi ông với tư cách là "người em” để hiểu rõ sự việc và tâm trạng của "ông anh" trong suố't gần 4 năm ngồ'i tù oan uổng.

Cuối cùng, với những cảm xúc và lòng quý trọng ông, với trách nhiệm nghề nghiệp và lương tâm người trong cuộc, tôi như được thôi thúc, đi đến quyết định phải cầm bút viết tiếp câu chuyện về Tạ Đình Đề. Đã bao đêm không ngủ, tôi cứ suy nghĩ nên viết về ông như thế' nào? Những chuyện như huyền thoại của ông không những trở thành các câu chuyện dân gian từ trước tới nay mà còn được nhiều sách, báo đã đề cập. Cuối cùng tôi đã chọn viết về những góc khuất nhưng cũng thẫm đẫm chất huyền thoại của cuộc đời ông. Qua câu chuyện này, tôi muốn gửi gắm một điều: Tạ Đình Đề là một Anh hùng trong chiến tranh đã được nhân dân tôn lên thành huyền thoại. Người Anh hùng ấy, khi chuyển sang trận tuyến sản xuất kinh doanh, ông cũng đã đi đầu trong công cuộc đổi mới về quản lý kinh tế' công nghiệp, cùng thời với ông Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú, tiến hành đổi mới trong quản lý kinh tế' nông nghiệp. Đó là huyền thoại lần thứ hai của ông Đề mà ngày nay, tôi cũng như nhiều người, vẫn trân trọng và nhớ ơn ông.

Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc cả những người đã gặp và chưa gặp cùng đồ'ng hành với tôi trong quá trình phác thảo nên Chân dung một CON NGƯỜI viết hoa: Tạ Đình Đề!


Hai

Chiến sĩ biệt động trở về làm kinh tế

X

ẹn ông nhiều lần nhưng hôm nay mới được gặp ông tại số' nhà 106, A3, ngõ 222, Lê Duẩn, phường Khâm Thiên, quận Đống Đa, thành phố' Hà Nội.

Tôi biết ông vừa từ thành phố' Hồ Chí Minh ra sau chuyến vào thăm gia đình người con trai đầu là Tạ Đình Hùng([1]). Tôi kéo ghế' ngồ'i đối diện với ông qua cái bàn nước nhỏ được kê ngay ngắn trong góc căn phòng không rộng lắm. Tôi nhìn ông, thoáng thây dạo này nước da ông bớt xanh và hơi ngăm ngăm, dáng nhanh nhẹn, hoạt bát hơn nhiều. Đôi mắt ông vẫn tinh anh như xưa. Ông vẫn đội chiếc mũ phớt nhàu nát, bộ ria mép bạc màu được ông cắt tỉa gọn gàng.

 

Theo hẹn, tôi nghĩ, không biết khi gặp ông nên xưng hô thế nào cho phải phép. Ngồi nhẩm tính, năm chín hai này ông đã bảy nhăm, còn tôi mới bốn ba. Ông hơn tôi những ba mươi tuổi. Tuổi tôi cũng suýt soát tuổi con đầu của ông nên gọi bác là đúng lẽ. Nghĩ vậy, tôi chào ông bằng bác và xưng cháu.

 

Nghe tôi chào như vậy, ông lắc đầu, gạt đi. Ông bảo: Cứ xưng ông với tôi cũng được, năm nay mình đã hơn bảy nhăm, có gần tiểu đội cháu nội, ngoại rồi còn gì. Tôi cười, cảm ơn ông. Ngoài trời, cơn mưa hè xối xả như trút nước. Con hẻm trước nhà ông nước đã dâng đầy ngập bàn chân. Tiếng nước mưa dội xuống mái nhà nghe lộp bộp, lộp bộp.

 

Pha nước xong, ông xoay cái điếu bát về phía mình. Ông lây que gạt tàn thuốc, nhét bi thuốc khác vào nõ điếu. Đoạn, ông rót nước mời tôi. Mùi chè Thái bốc lên ngạt ngào, ngầy ngậy. Ông bật diêm, đưa xe điếu vào nõ, châm lửa. Ông nhâp nhâp vài lần nghe "choác... choác... choác", rồi lây hơi, kéo một mạch dài. Gân cổ ông nổi lên cuồn cuộn. Cái điếu bát reo lên rong róc, rộn ràng.

 

Một làn khói dài, trắng xanh bay ra từ miệng ông, lan lên tận trần nhà rồi tỏa khắp gian phòng. Đôi mắt ông lim dim nhìn làn khói xanh, vẻ mãn nguyện.

 

Tôi nhập ngụm nước trà thơm nhìn ông. Tôi cảm thây khoan khoái vì ông đã châp nhận tiếp tôi. Về nội dung thì ông ủng hộ. Còn địa điểm, đã có lần tôi đề nghị gặp nhau ở quán cà phê gần nhà ông để nhâm nhi cho vui thì Tạ Đình Đề lắc lắc đầu. Ông bảo: "Mình có cà phê cà pháo gì đâu, rượu bia cũng không nốt. Chỉ nghiện môi thứ là thuốc lào thôi". Tôi nghĩ thầm trong bụng, nghiện thuốc lào mà không ghê à, "nhớ ai như nhớ thuốc lào, đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên". Rồi, ông "chối:" ý kiến dứt khoát theo kiểu con nhà lính: "Thế' này nhé, địa điểm gặp nhau tại nhà tôi([2]). Thời gian vào ngày chủ nhật. Nếu ngày thường mà rôi có thể gặp nhau cũng được nhưng phải thông báo trước. Dạo này bạn bè ngày xưa hay tụ tập nhau để "ôn nghèo gợi khổ" nên cũng bận". Thôi, giời không chịu đât thì đât phải chịu giời vậy. Đúng hẹn, chúng tôi gặp nhau và làm việc tại căn nhà của ông.

 

Sòng phẳng mà nói thì chuyện về ông Tạ Đình Đề ở thời kỳ nào và lĩnh vực gì cũng được người đời kể cho nhau nghe rât hâp dẫn. Nhưng hôm nay tôi cũng không ngờ, ông lại gần gũi và giản dị đến thế! Nhìn ông "bắn" thuốc lào, ánh mắt tinh anh và trìu mến, giọng nói bổ bả, thật thà như người nông dân "xứ Đoài" pha chút lãng tử của chàng trai Hà thành. Sự thông minh và dũng cảm trong chiến đấu chống quân thù của người chiến sĩ tình báo đã tạo nên chất huyền thoại của ông trong chiến tranh. Khi về với đời thường thì Tạ Đình Đề lại là người khiêm tốn, giản dị, tốt bụng. Ông rất ít kể về mình, nói về mình. Vì vậy, tôi không viết lại về cuộc đời huyền thoại trong chiến tranh của ông như báo chí đã có dịp đăng tải. Tôi chỉ muốn ông kể sâu hơn, kỹ hơn về các tình tiết và những tâm trạng của ông trong những vụ án trước đây mà ông đã vướng vào. Hy vọng, với phương pháp tiếp cận kiểu này may ra mới khai thác được những sự kiện và con người, qua đó thấy được rõ thêm những góc khuất cuộc đời ông trong tiến trình lịch sử tư pháp hồi đó mà nhiều người đang quan tâm.

 

Nghĩ vậy, tôi mới hỏi: "Trong lá thư của bà Thọ, vợ ông gửi quý Tòa có đoạn viết, đại ý: Khi ông Đề được cấp trên giao nhiệm vụ quản lý Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt, mặc dù năng lực có hạn nhưng ông Đề đã không quản khó khăn vất vả, dám nghĩ, dám làm, cái gì có lợi cho đơn vị, cho Nhà nước thì mang hết sức mình ra cống hiến. Vậy xin ông nói cụ thể hơn về ý kiến này của bà Thọ?

 

Ông kể: "Năm 1954, Hà Nội được giải phóng, hòa bình lập lại. Trong không khí rộn ràng hân hoan ấy, tôi cứ tưởng được cống hiến hết đời mình vì sự nghiệp tình báo của Quân đội. Nhưng nào ngờ, sau đó không lâu, tôi được chuyển ngành về Tổng cục Đường sắt Việt Nam([3]). Đây là công việc không liên quan gì đến chức năng của nhà binh nhưng ít nhiều đã từng gắn bó một thời với tôi từ lúc còn niên thiếu ở Vân Nam Trung Quốc. Cũng lúc này, nhà tôi, bà Đặng Thị Thọ, cũng được chuyển về công tác tại Vụ Tài vụ, Tổng cục Đường sắt.

 

Nhận công tác một thời gian, tôi được lãnh đạo Tổng cục Đường sắt giao nhiều nhiệm vụ. Lúc đầu, được cử làm Trưởng đoạn Đầu máy Hà Nội. Năm 1956, phụ trách công tác thể dục thể thao Tổng cục Đường sắt. Năm 1971, được giao nhiệm vụ phụ trách Xưởng sản xuất vợt bóng bàn, gioăng cao su và một số' mặt hàng cao su khác phục vụ Ngành. Trong đó, mặt hàng chủ lực của Xưởng là vợt bóng bàn, gioăng cao su, các bát đệm cao su cho xe lửa... Tính tôi thích làm những việc mới mẻ và có thách thức, lại được cấp trên tin tưởng giao, nên khi nhận nhiệm vụ này, tôi thật sự phấn khởi.

 

 

Từ giữa thập niên i960, đế' quốc Mỹ thực hiện cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc hết sức khốc liệt. Đường sắt Việt Nam cũng là trọng điểm bắn phá ác liệt của máy bay Mỹ. Những năm tháng chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, anh chị em Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt vừa sản xuât, vừa chiến đâu, tuy đời sống vật chât thiếu thốn trăm bề và cũng căng thẳng nhưng tinh thần lao động vì chủ nghĩa xã hội, vì thống nhât đât nước vẫn sục sôi, nhiệt huyết hơn bao giờ hết. Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt được lãnh đạo câp trên giao kế' hoạch sản xuât nhiều sản phẩm để phục vụ yêu cầu của Ngành''.

 

Ông dừng lại nhấp ngụm nước chè Thái rồi tiếp tục câu chuyện: "Tuy thế, khi nhìn vào sức sản xuât của Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt, có lúc tôi cảm thây băn khoăn, lo lắng. Hòa bình mới được một thời gian, sản xuât đang từng bước phục hồi thì cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt của giặc Mỹ lại diễn ra. Công xưởng, máy móc, thiết bị của Xưởng dụng cụ cao su không chỉ thiếu trầm trọng mà còn vô cùng lạc hậu. Với máy móc, thiết bị như vậy, làm sao đơn vị bứt phá vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn được? Tôi ước mơ có phép màu nào đó, xưởng chúng tôi có máy móc hiện đại, để anh em công nhân vận hành hết công suât, hàng hóa làm ra nhiều và tinh xảo hơn".

 

Có lẽ, câu hỏi của thời quá khứ vẫn còn treo lơ lửng trong tâm thức ông. Tạ Đình Đề dừng lại, kéo mạnh một hơi thuốc lào, thả khói lên trần nhà rồi tự dưng trầm ngâm hẳn. Tôi trộm nghĩ, ông đang ngược dòng thời gian để trở về với những năm tháng đã qua chăng? Đây là thời kỳ chúng ta đang thực hiện cơ chế' "kế' hoạch hóa" với chế' độ "tập trung, bao cấp". Cơ chế' này tuy đã phục vụ có hiệu qủa yêu cầu của thời chiến, bảo vệ hậu phương lớn, chi viện kịp thời cho tiền tuyến trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà nhưng chính nó đã để lại nhiều hậu quả nặng nề và cản trở sự phát triển kinh tế' xã hội. Nghĩ vậy, tôi hỏi ông: "Bản án sơ thẩm có nhận định: Nhìn lại toàn bộ hoạt động của Tạ Đình Đề trong những năm 1971-1974, đi đến kết luận như sau: Thây việc gì có lợi cho đơn vị mình phụ trách thì bất kể là móc ngoặc, xin nhượng, mua bán đôi chác... là tiến hành. Thây mặt hàng gì có khả năng dùng được thì tung tiền ra mua kỹ thuật về sản xuâ't([4]). Ông có thể nói cụ thể ý kiến của mình về nhận định trên của Hội đồng xét xử được không ạ?".

 

Tay xoay xoay chiếc điếu bát đã lên nước bóng loáng, ông gật đầu: "Vào những năm đầu thập kỷ 70, lúc này máy bay Mỹ ném bom miền Bắc rất ác liệt. Tôi nghe đồng nghiệp thông báo một tin rất quan trọng là tại các ga xe lửa và Cảng Hải Phòng có nhiều phương tiện, máy móc bị bom đạn Mỹ bắn phá nằm lăn lóc, rải rác khắp nơi, trong đó có cái còn sử dụng được. Mây ngày sau đó, tôi cùng anh em đơn vị lên đường đi khảo sát ngay tại các ga xe lửa và Cảng Hải Phòng. Đúng như tin đồng nghiệp báo, tôi thây tại các nơi này có râ't nhiều máy móc, thiết bị của nước ngoài được nhập về' chưa sử dụng. Trong số đó, có cái đã bị bom Mỹ bắn phá tan hoang, có cái nằm phơi nắng, phơi mưa. Bằng quan sát mắt thường của người hiểu ít nhiều về' máy móc, chúng tôi thây có nhiều máy móc bị địch bắn phá hư hỏng nhưng có khả năng sửa chữa, phục hồi được để trở thành các phương tiện hữu ích cho đơn vị.

 

Sau chuyến đi ây, mây đêm liền tôi trằn trọc không sao ngủ được. Hình ảnh các cô máy đang nằm dưới tầm bom đạn, hàng ngày phơi sương, phơi gió ngoài cảng, ga xe lửa cứ hiện lên trước mắt tôi. Tôi đã từng mơ ước, các phương tiện máy móc đó được chuyển về' đơn vị mình thì nay cơ hội đã đến. Nhât định dưới bàn tay lao động của anh em công nhân nó sẽ được sống lại để sản xuât ra của cải vật chât cho đât nước. Tôi trực tiếp báo cáo và được đồng chí Tổng cục trưởng Tổng cục Đường sắt Hà Đăng Ấn nhất trí cho đơn vị liên hệ với các cơ quan

 

_             'S'                        _ • 2 •         _             ^rt T~\ 'S' _                      _1_ f. T!'*7 _                                    1            2

 

có thẩm quyền để giải quyết. Đồng chí Tổng cục trưởng lưu ý chúng tôi là phải có văn bản báo cáo xin ý kiến của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải và Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần... Nghe vậy, trong bụng tôi như có trống giong cờ mở, vui lắm. Không chần chừ thêm chút nào, tôi cho anh em thảo công văn gửi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như: Tổng cục trưởng Tổng cục Đường sắt Hà Đăng Ấn; Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Dương Bạch Liên và Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần Đinh Đức Thiện để xin ý kiến. Qua thông tin tôi nắm được, khi nhận được văn bản này, các đồ'ng chí ấy cũng thấy máy móc, thiết bị không thể bỏ phí, lăn lóc như thế' được và đã rất ủng hộ ý kiến đề xuất của đơn vị. Họ đã nhất trí nhượng lại cho đơn vị chúng tôi. Và sau đó, một số' máy móc thiết bị được chúng tôi vận chuyển về Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt."

 

Vừa nghe ông kể tôi vừa thầm nghĩ, ông Đề quả là người dám nghĩ, giám làm như người lính dũng cảm xông pha trận mạc năm xưa, nay đang "tả xung hữu đột" trên mặt trận kinh tế. Với lòng nhiệt huyết và trách nhiệm cùng trí thức và máy móc công cụ, Tạ Đình Đề và cộng sự đã giải quyết được cơ bản về thiết bị máy móc cho đơn vị. Nhưng có máy móc rồi, còn con người sử dụng các cỗ máy ấy thì sao? Đây là thời kỳ thực hiện chế' độ bao cấp, con người làm việc cầm chừng, lớ ngớ như gà công nghiệp, không hiểu ông đã có biện pháp gì để kích thích người lao động hăng hái sản xuất.

 

Tôi nhớ bản cáo trạngH truy tô' ông Đề có liệt kê một loạt các hành vi của Tạ Đình Đề phạm tội cô' ý làm trái. Trong đó có hành vi chi thưởng cho người nào có sáng kiến, cải tiến, chi mua kỹ thuật, chi tiếp khách, chi bồi dưỡng và chi thưởng cho môi cán bộ, công nhân viên của Xưởng dụng cụ cao su, môi người 1/2 tháng lương hết lQ.QQQđ... Theo quan điểm của cơ quan truy tô', đó là hành vi phạm tội cô' ý làm trái. Nghĩ vậy, tôi hỏi ông: "Trong bản cáo trạng truy tô' ông về tội cô' ý làm trái, có việc chi tiêu sai nguyên tắc trong đơn vị. Ông có thể kể cho nghe chi tiết hơn về nội dung này được không ạ".

 

Ông gật gật đầu, tiếp tục câu chuyện: "Để làm rõ nội dung này, thiết nghĩ cần hiểu đúng bôi cảnh lúc bấy giờ, nhất là tinh thần làm việc của công nhân. Vào thời điểm ấy, nhiều công nhân trong đơn vị không mặn mà với công việc được giao. Tình trạng "chân ngoài dài hơn chân trong" đang xảy ra phổ biến không chỉ đôi với cách suy nghĩ và hành động của công nhân Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt mà còn xảy ra trong nhiều đơn vị kinh tế khác. Tình hình trên dẫn đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm rất thấp. Đời sông của tuyệt đại bộ phận cán bộ công nhân viên trong đơn vị rất khó khăn... Trong tình trạng sản xuất của đơn vị đi xuống như vậy, tôi cảm thây ăn không ngon, ngủ không yên. Nhiều lúc cứ trằn trọc, băn khoăn, nghĩ mãi cách tháo gỡ tình trạng trì trệ trong đơn vị mà chưa có cách nào. Hễ nằm xuống giường, gác tay lên trán, dù buổi trưa ở cơ quan hay lúc về nhà, hình ảnh người công nhân phải chịu cảnh khó khăn về đời sống hiện lên rõ mồn một trước mắt tôi. Xót xa lắm chứ! Nhiều lúc thây anh em công nhân phải nghỉ việc để "đi đánh ngoài", tìm cái ăn cho vợ con nhưng cũng không cải thiện được kinh tế bao nhiêu tôi cay đắng lắm. Có hôm vào thăm anh em công nhân đang sản xuât giữa ca, tôi quặn lòng khi nhìn vào cặp lồng cơm của họ. Có gì đâu ngoài vài lưng cơm độn mỳ, có người cơm độn sắn, độn khoai và rau muống luộc. Người nào khá hơn một chút thì may ra có vài miếng đậu phụ rán cháy cạnh... Nhìn cặp lồng cơm đạm bạc, nét mặt xanh xao của người thợ, mắt tôi tự nhiên rưng rưng. Tôi đứng lặng im, quay mặt về nơi khác để œ che đi nôi xúc động trào dâng vì xót thương anh chị em đồng nghiệp thân yêu của mình. Nhìn cuộc sống cơ cực của anh em người thợ, tôi tự hỏi: Tại sao đât nước đã thống nhât, hòa bình đã được lập lại mà cái ăn, cái mặc cho anh em công nhân vẫn không đủ?

 

Là người lãnh đạo, tôi cảm thây mình chưa hoàn thành nhiệm vụ của người đảng viên được anh em tin

 

tưởng giao cho và thật sự có lỗi với anh em công nhân. Từ suy nghĩ vậy, tôi đã cùng anh em tìm mọi cách để vực dậy đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ công nhân. Sau đó, trong buổi giao ban lãnh đạo đơn vị, tôi đã phát biểu và nhận mình là người có lỗi lớn nhất trước sự vất vả trăm đường của người thợ. Cũng trong buổi giao ban này, tôi đã cùng tập thể lãnh đạo hạ quyết tâm đoàn kết, tìm mọi cách để vực dậy sức sản xuất của đơn vị".

 

Năm tháng túng thiếu, gian khó ấy qua rồi, xa rồi mà giọng ông kể với tôi vẫn còn nghèn nghẹn: "Tôi không thể chối bỏ trách nhiệm của người lãnh đạo trước cuộc sống quá ư khó khăn của công nhân. Cổ nhân nói: "Có thực mới vực được đạo". Cái bụng của anh em công nhân chưa no thì đừng nói chuyện động viên chung chung được. Đã bao lần bàn bạc trong tập thể đơn vị cũng như bao đêm vắt óc suy nghĩ tìm cách làm cho cái "bụng" công nhân được no hơn, mặc ấm hơn mà cũng chưa tìm ra giải pháp. Mọi người trong Xưởng dụng cụ cao su đều lo cái ăn cái mặc mà không xong. Có người xin nghỉ phép để đi chạy chợ, buôn bán, thêm thắt đồng ra đồng vào cũng bị phá sản vì vướng vào cơ chế' chỉ Nhà nước mới được lưu thông, phân phối. Hồi đó, những hàng hóa không phải của ngành thương nghiệp Nhà nước thì đều coi là hàng lậu. Do vậy, đâu đâu cũng mọc lên các trạm kiểm soát gắt gao để "ngăn sông cấm chợ". Chính vì vậy mà gạo, thịt, bánh kẹo, bột giặt, áo quần, mũ dép... đều có thể là hàng lậu ở bất cứ nơi nào, lúc nào. Còn việc khai hoang trồng trọt, chăn nuôi thì ở Hà Nội lấy đâu đất mà làm".

 

Ông kể tiếp: "Đến giữa thập kỷ 60 của thế' kỷ trước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, miền Bắc chúng ta đã tạo được một động lực mới mẻ và vô cùng lớn lao để khích lệ mọi người hăng say chiến đấu và sản xuất. Nhưng cuối những năm 70 và trong những năm 80 của thế' kỷ trước, cơ chế' quản lý tập trung quan liêu, bao cấp lại dựa vào ý chí chủ quan, mệnh lệnh hành chính đã làm mất đi tinh thần hăng say trong sản xuất, dần dần động lực người lao động không còn như trước nữa. Người lao động không còn hăng hái sản xuất khi thấy người làm nhiều, làm ít đều hưởng như nhau, không ai có thể mãi mãi lo cái chung khi vợ con đói rách và mình cũng thế. Động lực sản xuất của người lao động bao gồm lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần gần như bị triệt tiêu tại nhiều đơn vị kinh tế. Tôi không được học hành bài bản về quản lý kinh tế nên chỉ nghĩ rằng, muốn đẩy mạnh phát triển sản xuất, một trong những biện pháp quan trọng là người lãnh đạo đơn vị phải biết tận dụng và khơi dậy động lực vốn có của người lao động. Động lực đó chính là lấy lợi ích vật chất để khuyến khích tinh thần say mê làm việc của anh chị em công nhân. Đồng thời phải tạo ra cuộc sống tinh thần trong công nhân để họ phân khởi, hăng say trong sản xuât.

 

Sau nhiều lần trằn trọc, suy nghĩ lóe sáng trong tôi ý nghĩ ây. Phải làm thế' nào để công nhân gắn bó với sản xuât, gắn bó với đơn vị, từ đó họ mới có nhiều sáng kiến cải tiến chứ. Phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công nhân, làm cho họ coi Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt là ngôi nhà chung của chính mình. Nghĩ là làm, tôi tổ chức hội nghị công nhân viên, thảo luận dân chủ và đi đến nhất trí: Áp dụng hình thức khoản sản phẩm, khoán công việc đến từng tổ sản xuât, từng người công nhân. Nghĩa là, đơn vị của tôi không áp dụng hình thức trả lương bình quân như các xí nghiệp khác vẫn làm theo quy định mà trả lương theo sản phẩm. Người nào có nhiều sáng kiến, cải tiến, làm được nhiều sản phẩm thì sẽ được trả lương nhiều hơn người làm được ít sản phẩm... Nếu sản xuât phát triển, quỹ phúc lợi tăng lên thì cho phép áp dụng chế độ ăn giữa ca không mât tiền, trả thêm lương tháng 13 để cho công nhân ăn Tết. Khi tiến hành phổ biến, xin ý kiến góp ý của anh chị em công nhân về chủ trương này, mọi người hào hứng và nhiệt liệt ủng hộ.

 

Thời kỳ bây giờ, đây là điều vô cùng mới lạ, chưa có nơi nào làm như vậy. Có người còn góp ý là quá mạo hiểm. Lúc đó tôi cũng đã xác đinh, việc làm ăn theo cơ chế mới rất có thể bị cho là "phá rào", không chấp hành pháp luật và rất có thể bị nguy hiểm. Nhưng hãy gạt sang một bên những gì thuộc về lợi ích cá nhân, cái lớn nhất lúc bấy giờ chính là làm thế nào cải thiện đời sông vật chất và tinh thần cho anh em người thợ cũng như vực dậy sự phát triển đi lên của Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt. Tuy nhiên, đây là cách làm ăn mới, nên tôi đã trực tiếp báo cáo xin ý kiến đồng chí Tổng cục trưởng Hà Đăng Ấn. Sau khi nghe tôi báo cáo, đồng chí Hà Đăng Ấn hoàn toàn đồng ý. Đồng chí chỉ lưu ý rằng việc chi thưởng chỉ được trích từ quỹ phúc lợi của đơn vị. Nghĩa là, chỉ khi nào sản xuất phát triển thì mới được thực hiện việc chi thưởng. Và sau đó chủ trương này được áp dụng thực hiện trong Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt."

 

Nghe ông kể cũng như lời phát biểu của ông Hà Đăng Ấn trước tòa và hỏi thêm một sô người thợ về trả lương theo sản phẩm tại Xưởng dụng cụ cao su là sự thật. Tôi thấy hiện nay phương pháp quản lý trên đây đã trở thành quy định của Nhà nước, quen thuộc, bình thường. Nhưng vào thời điểm đó, việc hình thành ý tưởng này nó chẳng hề đơn giản chút nào nếu không muôn nói là vô cùng phức tạp. Diễn đạt theo cách nói dân gian là "bẻ nạng chông trời đó". Với cách làm của mình, Tạ Đình Đề đã khôi phục lại cái động lực vốn có của người lao động. Chỉ tiếc rằng, những cải tiến trong quản lý xí nghiệp của ông Đề đã đưa lại hiệu quả lớn lao như vậy nhưng phải sau hàng chục năm trời mới trở thành cơ chế' chính sách, mới trở thành hiện thực sinh động.

 

Tạ Đình Đề kể tiếp: "Sau một thời gian áp dụng phương thức làm ăn mới, anh em công nhân của Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt đã được trả công xứng đáng. Người lao động hăng hái làm việc, có nhiều sáng kiến cải tiến, năng suất lao động tăng lên, sản phẩm của xí nghiệp có độ tinh xảo cao, cạnh tranh được với sản phẩm của nước ngoài. Chỉ tính riêng mặt hàng vợt bóng bàn đã được nhiều khách hàng trong và ngoài nước ưa chuộng. Tôi còn nhớ vào thời kỳ đó, vợt bóng bàn thương hiệu made in Việt Nam do Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt sản xuất không thua kém sản phẩm nước ngoài và được xuất khẩu ra nhiều nước trên thế' giới."

 

Tôi ngắm ông, lòng đầy thán phục. Sự say mê nhiệt huyết của Tạ Đình Đề và đồ'ng nghiệp của ông thật đáng trân trọng trong hoàn cảnh bấy giờ. Đó là tinh thần dám nghĩ, dám làm của những con người cộng sản chân chính hết lòng vì nhân dân. Nghe ông tâm sự, tôi thầm nghĩ: Vào thời điểm những năm 70 của thế' kỷ trước, hàng công nghiệp của ta sản xuất ra mà được xuất khẩu chỉ đếm trên đầu ngón tay. Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt của ông Đề, lúc đầu chỉ là hợp tác xã sản xuât, mà sản phẩm là vợt bóng bàn được xuât khẩu để lây tiền mua đầu máy xe lửa cho Nhà nước thì quả là điều kỳ diệu. Tuy nhiên, tôi không khỏi băn khăn về' mặt công nghệ kỹ thuật dẫn tới thành công của sản phẩm vợt bóng bàn như ông đã kể. Có bí quyết gì đặc biệt không vậy? Và, bằng cách nào mà trong hoàn cảnh vừa sản xuât vừa chiến đâu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt không những trụ vững mà còn phát triển đi lên? Tôi tiếp tục đặt câu hỏi cho ông.

 

Trong câu chuyện về công nghệ kỹ thuật của mình, ông thường nhắc đến một nhân vật mà thời đó được anh em gọi là "chiến lược gia", "kiến trúc sư" của đơn vị. Đó là người đã tiên phong, đi đầu trong việc nghiên cứu, sản xuât vợt bóng bàn mà lâu nay ít người biết đến.

 

Ông kể: "Hồi năm 1946, tôi có người bạn là Nguyễn Văn ThiH. Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Văn Thi chuyên bán cà phê, gọi là cà phê Nhân. Quán cà phê Nhân ở Hà Nội trở thành nơi cung câp tin tức tình báo rât hiệu quả cho Đội biệt động thành Hà Nội. Như tôi đã kể trên, sau khi hòa bình lập lại, Tổng cục Đường sắt thành lập Xưởng dụng cụ cao su để sản xuât nhiều mặt hàng phục vụ Ngành, trong đó có vợt bóng bàn. Lúc đầu, đơn vị gặp nhiều khó khăn và lúng túng về công nghệ kỹ thuật, nên quyết tâm tìm người tài để gỡ bí. Nghe tin Nguyễn Văn Thi đang sản xuất thử vợt bóng bàn nên tôi đã ghé thăm và mời ông về' làm việc cho Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt. Tôi đặt vấn đề như vậy và ông bạn của tôi vui vẻ nhận lời ngay. Ông Thi cười hể hả: "Với ai còn suy tính đắn đo, chứ với anh Đề thì xong ngay". Với đầu óc thông minh và đôi bàn tay vàng của ông Thi, vợt bóng bàn do Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt sản xuất ngày càng có chất lượng. Nhiều người trong đơn vị thật sự phấn khởi khi vợt bóng bàn mang thương hiệu made in Việt Nam được khách hàng trong và ngoài nước thời đó rất ưa chuộng. Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu nhập khẩu nhiều mặt hàng này. Xuất khẩu ngày càng tăng, do đó đơn vị đã thu về cho Nhà nước khá nhiều ngoại tệ".

 

Nhân câu chuyện này, xin trích bài báo của Trần Quang, đăng Tạp chí Thể thao ngày 11-02-2013 kể về mối cơ duyên giữa Tạ Đình Đề và ông Nguyễn Văn Thi: "Ít người biết rằng ông và một người bạn đồng tuếNguyễn Văn Thi đã cùng nhau khai sinh ra một thương hiệu độc đáo của thể thao Việt Nam một thời, đó là những chiếc vợt mút (mousse) "made in Đường sắt Việt Nam", một sản phẩm từng có giá trị xuất khẩu cao trên trường quốc tế. Trong vở kịch "Tôi và chúng ta" nôi tiếng một thời, Lưu Quang Vũ đã lây nguyên

 

mẫu và châỉ liệu từ Tạ Đình Đề và Xưởng dụng cụ Cao su Đường sắt.

 

Tạ Đình Đề và Nguyễn Văn Thi cùng sinh năm 1917, quen thân nhau từ sớm. Họ nhanh chóng và tự nguyện đến với cách mạng và từ năm 1946, cùng với dòng người Hà Nội đi tản cư, ông Thi đã mở quán cà phê lây tên là cà phê Nhân tại Nho Quan, chợ Đại, Cống Thần để làm cơ sở liên lạc. Đội trưởng Tạ Đình Đề và Thiếu tướng Hoàng Sâm đã nhiều lần đến cửa hàng này để nghe báo cáo về tình hình hoạt động của quân địch. Từ đó, cứ sáng sáng, anh em trong đội từ đây ngược trở vào Hà Nội lây tin tức rồi ra ngoài báo cáo. Năm 1951, câp trên thông báo biệt động Hà Nội phải chuẩn bị cho ngày giải phóng Thủ đô và trở về nội thành hoạt động. Sau đó không lâu, Nguyễn Văn Thi mở quán cà phê Nhân tại số nhà 100 phố Cầu Gỗ để đón nhận tin tức từ các nơi. Với quán cà phê độc đáo và luôn đắt khách này, ông chủ quán được người ta gọi là "ông Nhân".

 

Sau khi Hà Nội giải phóng, ông Tạ Đình Đề lần lượt được cử giữ các nhiệm vụ như Trưởng đoạn Đầu máy Hà Nội, Trưởng ban TDTT kiêm Giám đốc Xưởng dụng cụ Cao su Đường sắt (trực thuộc Tổng cục Đường sắt). Còn ông Thi vẫn bán cà phê. Cả hai ông có cùng niềm đam mê với bóng bàn và mong muốn góp sức phát triển môn thể thao này. Lúc đầu ông Thi tự mầy mò sản xuâỉ vợt bóng bàn. Thế rồi "cái khó ló cái khôn" đầu năm 1959, ông Thi mua một tâm i-nốc về nhà hì hục đục khuôn để ép gai làm mặt vợt bằng cao su, mày mò ngót tháng trời làm ra một tấm ép đến hàng nghìn lỗ chân gai. Tuy nhiên khi ây chưa có xí nghiệp nào có đủ điều kiện để thử nghiệm hiệu quả của mẫu này. Sau đó, ông Thi đem mẫu xuống nhà máy Cao su Sao vàng gặp ông Hoạt, nguyên là một vận động viên bóng bàn Hà Nội đông thời là Giám đốc nhà máy chuyên làm lốp xe đạp. Ông Hoạt từng phải cầm chiếc vợt to tướng được ví như... cái quạt của Bà La Sát trong truyện Tây du ký mà thi đâu nên khi ông Thi nói vậy thì ông rất ủng hộ việc chế tạo cây vợt bóng bàn mới này. Ông Hoạt nhiệt tình giúp đỡ và còn đề nghị ông Thi thu xếp về làm tô’ trưởng tô’sản xuâỉ vợt bóng bàn của nhà máy Cao su Sao vàng. Họ cùng nhau nghiên cứu và không lâu sau cho ra đời chiếc vợt bóng bàn mặt cao su đầu tiên của Việt Nam mang mã số 001, chân gai nhỏ như kiểu vợt Becna Dunlop của Pháp. Mặt cao su đã vậy, cốt gỗ được sự chi viện từ Nhà máy gỗ dán Cầu Đuống; ông Bảo là Phó giám đốc nhà máy cũng tận tình giúp đỡ. Hôì đó, lối đánh "gò công" đang phôô biến và loại vợt này râỉ phù hợp với lôi đánh ấy, bởi lớp giữa là gỗ gạo, gỗ sung còn loại gỗ làm phần cốt của hai bên là gỗ trám trắng và trám đỏ. Ông Thi râỉ khéo tay. Ông thường xuyên nhận sửa vợt miễn phí cho những người hâm mộ, từ cắt gọt cốt cho đến thay, dán mặt mousse... ngay tại ngôi nhà ở phố Cầu Gỗ.

 

Thế là từ năm 1962, ông Tạ Đình Đề là Trưởng ban

 

TDTT của ngành Đường sắt, tới chơi và đề nghị ông Nguyễn Văn Thi về làm nhiệm vụ nghiên cứu sản xuất mặt vợt mút Việt Nam. Một ý tưởng mới mẻ! Thế là họ thành lập tô’ nghiên cứu mặt vợt bóng bàn tại phố Quán Sứ (Hà Nội). Công việc rất vất vả, nguyên vật liệu vừa hiếm vừa đắt, song được sự quan tâm của cấp trên, từ Tổng cục trưởng Hà Đăng Ấn tới Trưởng ban TDTT Tạ Đình Đề, mùa hè năm 1963 cây vợt mút Việt Nam đầu tiên có màu xanh - đỏ đã ra đời. Cây vợt Việt Nam đã nhanh chóng được sự đón nhận của nhiều người hâm mộ môn bóng bàn tại Hà Nội và các tỉnh miền Bắc. Ít người biết rằng sau một thương thảo ở cấp quốc gia, lô hàng đầu tiên của Việt Nam xuất sang Liên Xô đã đôi được 10 đầu máy hơi nước về ga Hà Nội, thành quả quá đỗi tuyệt vời! Cũng từ đó, vợt mút "made in Việt Nam" xuất khẩu đều đặn qua Liên Xô, cứ 10 chiếc vợt sẽ thu về 240.000đ. Bên Liên Xô, chiếc vợt này rất được hâm mộ, còn tại Việt Nam, đa số các VĐV bóng bàn của chúng ta đều ưa dùng để tập luyện và thi đấu..."

 

Câu chuyện về mối quan hệ giữa ông Đề và ông Nhân trong việc sản xuất "vợt mút made in Việt Nam" ở thời khởi thủy cũng đã được nhiều tờ báo đề cập. Tạp chí Giáo dục và thời đại tháng 7 năm 1994, có đăng bài của nhà văn Chu Lai về câu chuyện([5]) giữa nhà văn và

 

ông Tạ Đình Đề gặp ông Nhân ở Hà Nội: "Đang đi, chợt có tiếng gọi bên kia đường. Đó là một người đàn ông cao tuổi, ảo phông trắng, soóc trắng, kính râm, tay cầm cây vợt cầu lông, dảng bộ nhanh nhẹn rât tay chơi. Ai thế? Tôi hỏi.

 

Ông Nhân - Ông trả lời - Cà phê Nhân nổi tiếng Hà Thành đó, ông có nghe không?

 

 Vâng, quả nghe. Nghe cảch gọi thây hai cụ có vẻ bịn rịn với nhau lắm!

 

Tri kỷ đây. Tri kỷ trong chiến tranh, tri kỷ trong hòa bình, trong hoạn nạn và tri kỷ đến tận giờ. Hồi đảnh Phảp, ông ây mở quản cà phê tại Vân Đình. Từ ông tướng đến người lính đều ghé quản cả. Sau về Hà Nội cũng bản cà phê vừa lây tin cho ta.

 

Nhìn theo cải dảng đi bộ thoăn thoắt của ông Nhân ngập trong dòng người, tôi hỏi:

 

Có vẻ nhà thể thao hơn là ông chủ cà phê nổi tiếng?

 

Thì đúng. Ông ây chính là tảc giả đầu tiên của cây vợt bóng bàn Việt Nam và cũng là một trong những người đầu tiên cùng vào nhà mảy làm với tôi. Tôi vào tù, ông ây cũng xin nghỉ. Ra tù, ông ây bảo có vốn thì hùn vào, hai thằng lại sản xuâỉ vợt bóng bàn. Không vốn, cứ đến chơi, nôi lại tình cũ nghĩa xưa mình còn đang suy nghĩ".

 

Như Tạ Đình Đề đã nói, ông không phải là nhà kinh tế' và cũng không được học về quản lý kinh tế' một cách có hệ thống. Xuât phát điểm đầu tiên là sự trăn trở trước đời sống của người thợ nghèo khổ. Đất nước hòa bình rồi mà cuộc sống người thợ của ông phải chạy ăn từng bữa. Thậm chí nhiều gia đình người thợ của ông bị đói, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc... Từ đó ông suy nghĩ, tìm cách tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất và đời sống. Đời sống của công nhân trong Xưởng ngày càng được nâng cao. Trong thời gian này, mỗi khi gặp bạn bè, đồng nghiệp, ai cũng hỏi thăm và chúc mừng, coi Xưởng dụng cụ cao su là điểm sáng trong sản xuất của ngành Đường sắt Việt Nam.

 

Về' việc này, đại tá Quách Hải Lượng đã viết: "Anh Đề được giao nhiệm vụ làm Trưởng ban Thể dục thể thao của ngành Đường sắt và phụ trách xưởng chếbiến cao su tái sinh. Lúc này cả nước đang trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngành Đường sắt phải nhập một số máy hơi nước và linh kiện thuộc hệ thống chuyển động của toa xe lửa. Anh Đề đã cùng tập thể chỉ huy xưởng của mình sản xuất ra các gioăng cao su, các bát đệm cao su cung cấp cho xe lửa. Tuy là sản phẩm nội hóa từ cao su tái sinh nhưng cũng đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật và các sản phẩm đều được sử dụng có hiệu quả thực tế, đem lại hiệu ích cho ngành Đường sắt. Một ngành mà anh Đề yêu quý và cảm thông từ khi vào đời. Với đầu óc thông thoáng lại sớm nhận thức được phần nào kinh tế thị trường, anh Đề đã chỉ đạo Xưởng dụng cụ cao su làm ăn theo mô hình mở. Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt này đã sản xuât ra vợt bóng bàn Đường sắt nôi tiếng một thời. Sản phẩm vợt bóng bàn được tiêu thụ trong nước và xuâỉ khẩu ra nước ngoài. Để tiếp tục mở rộng hiệu quả làm ăn, ngoài các sản phẩm trên anh Đề đã chỉ đạo sản xuât các nhãn chai rượu... Để phục vụ cho hoạt động sản xuât kinh doanh, Xưởng dụng cụ cao su phải tự tìm kiếm nguyên vật liệu, máy móc. Làm được công việc này, nhờ tình yêu và sự quan tâm đến người thợ, với ý chí quyết tâm cao, giám nghĩ, giám làm của người chỉ huy đến tập thể anh chị em công nhân. Hoạt động của anh Đề đã thực sự có đóng góp cho ngành Đường sắt, anh được lãnh đạo Tổng cục và quần chúng, bạn bè, đồng nghiệp yêu mến, tôn trọng. Anh là một cán bộ tình báo, nhưng đến lúc làm ăn kinh tế cũng nôi đình đám. (Nhiều người coi đây là một đột phá, đôi mới quản lý công nghiệp, kiểu như khoán trong nông nghiệp của ông Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc). Nhưng cũng không ngờ, những việc làm hữu ích là thế, lại trở thành cái cớ cho người ta quy kết ông có hành vi chiếm đoạt tài sản Nhà nước".

 

Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến câu: Trên Trái đât này, đầu tiên làm gì có đường, do con người đi nhiều mới thành đường. Ai nói câu, đại ý như thế' nhỉ? Hình như là văn hào Lô Tân. Đúng vậy, đường là do con người đi lâu mà thành. Nhưng công lao đầu tiên phải thuộc về những con người khai phá, mở lối ban đầu. Nếu như ông Kim Ngọc là người mở đường về khoán sản phẩm trong nông nghiệp thì phải chăng ông Tạ Đình Đề là người tiên phong khoán sản phẩm trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp? Cả Kim Ngọc, lẫn Tạ Đình Đề đều xứng đáng là những vì sao của Đất nước có nghìn năm văn hiến này.

 

 


 

  

Đổi mới kinh tế

4* í Ạ •_______ 4 Ạ’ •                _ _          __ V _ f _ r

đi đôi với đổi mới văn hóa

ạ Đình Đề không những là người khai phá, mở đường trong quản lý kinh tế, quản lý xí nghiệp mà còn là người nhiệt huyết tìm tòi, đổi mới trên mặt trận văn hóa xã hội. Lúc gần gũi, tôi đã hỏi ông về quá trình tổ chức và hoạt động của phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao ở ngành Đường sắt trong những năm đời sống còn khó khăn nghèo khổ như thế' nào?

Tạ Đình Đề kể: "Tôi rât thích xem bóng đá và thưởng thức văn hóa văn nghệ. Ngoài nhiệm vụ xây dựng Xưởng

dụng cụ cao su, phụ trách đội bóng đá Đường sắt, tôi còn được đồng chí Hà Đăng Ấn, Tổng cục trưởng Tổng cục Đường sắt trực tiếp gọi lên giao nhiệm vụ xây dựng phong trào văn hóa, văn nghệ của Ngành. Hôm lên gặp, ông Hà Đăng Ấn ân cần nói: Ngành Đường sắt chúng ta là một ngành sản xuất đặc thù. Anh chị em công nhân phải sống xa nhà và hoạt động trong những điều kiện khó khăn và hết sức ác liệt do chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, trong đó có những trọng điểm bị ném bom hủy diệt nên rất cần có sự động viên kịp thời về tinh thần. Thời gian qua công tác văn thể của ngành Đường sắt chưa được chú ý. Do đó, chúng ta phải xây dựng cho được phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao trong toàn ngành Đường sắt. Dù khó khăn đến mấy, Đảng ủy và lãnh đạo Tổng cục Đường sắt cũng quyết tâm lãnh đạo và thực hiện nhiệm vụ này. Đảng ủy và lãnh đạo Tổng cục đã suy nghĩ rất nhiều, chưa biết nên giao nhiệm vụ quan trọng này cho ai? Sau nhiều lần bàn bạc, lãnh đạo đi đến quyết định "chọn mặt gửi vàng”, giao cho đồng chí Tạ Đình Đề đảm nhiệm.

Nghe Tổng cục trưởng giao nhiệm vụ trên đây, tôi cảm thấy công việc này quá lớn và vượt tầm của mình. Biết được băn khoăn của tôi, đồng chí Tổng cục trưởng giải thích thêm: Đây là nhiệm vụ rất khó khăn. Nhưng lãnh đạo Tổng cục rất kỳ vọng và gửi gắm niềm tin vào đồng chí. Dưới sự lãnh đạo của Tổng cục và lòng nhiệt huyết của mình, nhất định đồng chí sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ này. Nghe Tổng cục trưởng nói thế, bản chất người lính Cụ Hồ "Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành. Khó khăn nào cũng vượt qua" trỗi dậy mạnh mẽ trong tôi. Tôi vui vẻ nhận nhiệm vụ".

Rồi, bằng kiểu nói có phần bỗ bã, chất phác, ông kể: "Đồng chí biết không, công tác văn hóa, thể dục thể thao thời ấy được gọi tắt là công tác văn thể. Đây là công việc rất mới và cũng rất khó với tôi. Bởi vì, tôi rất yêu văn nghệ, mê bóng đá. Những khi có văn nghệ hay phim ở cơ quan của Tổng cục, tôi ít khi vắng mặt. Trong những buổi sinh hoạt văn nghệ, tôi rất khoái vừa ngồi xem vừa hút thuốc lào. Trên sân khấu anh chị em hát hò múa may rộn ràng, phía dưới mình cứ vừa chăm chú xem vừa nhả khói thuốc. Những lúc như vậy, thấy cuộc đời hay lắm đồng chí ạ. Đôi khi tôi nghĩ giá trời cho mình biết hát hò, đá bóng như hút thuốc lào thì lại càng hay biết mấy.

Thế mà cái thằng không biết hát hò, không biết thể thao như tôi lại được bổ nhiệm làm Trưởng ban Thể dục thể thao và văn nghệ Đường sắt. Nhận nhiệm vụ, tôi quyết làm bằng được, dù mới mẻ và khó khăn đến mấy. Riêng thể dục thể thao thì có vẻ ngắn gọn như thế' nhưng trong đó có rất nhiều bộ môn như bóng đá, bóng

chuyền, bóng rổ, bóng bàn, bơi lội, bắn súng, điền kinh...".

Nghe ông kể, tôi chợt nhớ đến Đội bóng đá Đường sắt đã từng vang bóng một thời. Lạ nhỉ, người đứng ra tổ chức đội bóng lừng danh đó lại không biết đá bóng. Trong lúc đó thì công việc chỉ đạo sản xuất tại Xưởng dụng cụ cao su cũng rất bộn bề, phức tạp, ngốn rất nhiều thời gian, công sức của ông. Tôi hỏi: "Ông có thể kể cho nghe quá trình xây dựng Câu lạc bộ bóng đá Đường sắt trước đây được không?"

Ông hồ hởi hẳn lên: "Được chứ. Theo gợi ý của cấp trên, trước hết cần ưu tiên xây dựng Đội bóng đá Đường sắt. Muốn xây dựng đội bóng đá, vấn đề cần quan tâm đầu tiên là cầu thủ. Đội bóng đá Đường sắt được thành lập vào năm 1956. Sau khi thành lập, tôi đã tận dụng mọi cơ hội, nhờ bạn bè giới thiệu những người có năng khiếu bóng đá rồi tự mình đến gặp gỡ mời về, thực hiện đúng theo lời dạy của cổ nhân chiêu hiền đại sĩ, thu phục nhân tâm. Lúc bấy giờ, nhiều cầu thủ giỏi và mê bóng đá nhưng có lý lịch " đen" thì không thể len được vào các đội bóng đá Nhà nước. Họ mang nỗi khổ, còn tôi thấy đây lại là cơ may. Tôi đã trực tiếp gặp, động viên và mời họ về đá cho đội Đường sắt. Nhiều cầu thủ giỏi thời đó đã đầu quân vào Đội bóng đá Đường sắt như danh thủ Sa Mát (Người châu Phi), danh thủ Vũ Quang Minh, cả hai đều là lính Pháp cũ. Tôi nghĩ, mình cần người đá bóng giỏi chứ có phải tuyển thành phần cốt cán đâu. Vả lại, công nhân Xưởng tôi anh nào cũng mê bóng đá. Họ ủng hộ việc lây quỹ phúc lợi của Xưởng để nuôi và động viên các cầu thủ bóng đá. Từ sự phân chân về thưởng thức văn nghệ, bóng đá, họ đã hăng say trong sản xuât".

Nghe ông Đề kể, tôi chợt nhớ: Trong suốt thời gian chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, Đội đã lập được những chiến công lẫy lừng, chỉ xếp sau đội Thể Công. Đội bóng đá Tổng cục Đường sắt trở thành một đội bóng mạnh trong làng bóng đá Việt Nam giữa thập niên 7Q, đầu sQ. Tháng 11-1976, Đội bóng đá Đường sắt được chọn là đội đại diện cho miền Bắc đi thi đâu với đội bóng hàng đầu của miền Nam là Cảng Sài Gòn. Năm 19SQ, Đội bóng đá Đường sắt đoạt chức vô địch toàn quốc.

Ông ngừng lời, đôi mắt nhìn vào khoảng không phía trước đầy xa xăm hồi nhớ. Hình ảnh những cầu thủ của đội bóng thân quen gắn liền với sân cỏ đang hiện ra trước mặt ông chăng? Khi có tuổi, con người ta hay hoài niệm, thương nhớ những gì đã qua, chắc là thế'. Tạ Đình Đề đã quay trở lại với câu chuyện tôi quan tâm. Ông nói như tâm sự: "Muốn làm tốt công việc, trước hế't chúng ta phải có nhiệt huyết và quan tâm đến anh em câp dưới. Đừng nói suông nhiều, phải xắn tay áo, lăn lộn với phong trào. Hồi ây, nếu rôi là tôi ra xem động viên anh em cầu thủ luyện tập. Sự có mặt của mình làm cho anh em vui vẻ, phấn chấn, hăng say hơn trong tập luyện. Những lúc Đội đi thi đấu, tôi sắp xếp để đi cùng các cầu thủ. Có cái gì mang cho anh em thứ đó; chai nước, bao thuốc lá tuy nhỏ nhưng thể hiện sự quan tâm của mình với cầu thủ, huấn luyện viên. Họ cảm kích lắm. Việc xây dựng Đội bóng đá Đường sắt đã cho tôi nhiều kinh nghiệm trong công tác tổ chức, thực hiện chỉ thị cấp trên, kể cả trong những thời khắc khó khăn nhất”.

Theo lời ông kể, tôi đã tìm đến gặp ông Vũ Quang MinhH, là cầu thủ xuất sắc của Đội bóng đá Đường sắt thời ấy bây giờ đã lên lão với tuổi 80. Ông Minh kể: "Nhắc đến ông Đề' là nói đến tấm lòng độ lượng, khoan dung, chiêu hiền đãi sĩ, là nhắc đến lòng nhiệt huyết say mê công việc của ông. Khi thành lập đội bóng đá, ông Đề đã mạnh dạn tuyển cả những người từng là tù hàng binh, có chuyên môn về đá cho đội Đường sắt như cầu thủ Sa Mát (người Phi), Diop (người Pháp gốc Phi) và Blayca (người Áo). Bản thân tôi cũng vậy. Trước đây, tôi là học sinh Hà Nội rồi bị bắt đi lính cho Pháp nhưng chuyên nghề đá bóng cho Câu lạc bộ Bảo chính đoàn miền Bắc (đội bóng đá Ngụy). Hòa bình lập lại, nghe theo tiếng gọi của ông Đề, tôi xin vào đầu quân cho Đội

bóng đá Đường sắt. Lúc đầu tôi cứ tưởng mình có thời gian đi lính cho Pháp, là thành phần không tôt nên khó được ông Đề chấp nhận. Nhưng khi tôi gặp ông và bày tỏ nguyện vọng, ông cười và chấp nhận ngay. Ông Đề là người rất tâm huyết với bóng đá. Ông không phải cầu thủ nhưng môi khi có cuộc đá bóng là ông tranh thủ đi cùng anh em. Môi lần như vậy, ông đi sâu tâm sự, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng và động viên kịp thời các cầu thủ, nhất là với những người có khúc mắc về tư tưởng như tôi. Những lúc ra sân bóng, ông là người trực tiếp xách quần áo cho anh em cầu thủ. Khi đội bóng đá phải đi thi đấu xa, ông đều sắp xếp đi cùng anh em, trực tiếp cùng ăn, cùng           ngủ      với       các       cầu      thủ                  để    động viên họ.

Chúng tôi rất xúc động về sự chăm lo chu đáo của thủ trưởng mình. Vì thế, những cầu thủ của Đội bóng đá Đường sắt thời ấy luôn thi đấu hết mình để dành chiến thắng, để không phụ tấm lòng thơm thảo của ông Đề. Chúng tôi ra sân cỏ thực sự vì màu cờ sắc áo của đơn vị. Đây là một trong những nguyên nhân đưa đến những thành tích vượt trội của Đội bóng đá Đường sắt lúc bấy giờ."

Báo Giao thông vận tải ngày 27-7-2Q13 có bài của An Hưng phỏng vấn ông Vũ Hạng, "nhân chứng sông" của Đội bóng đá Đường sắt thời ấy. Ông Vũ Hạng là người gắn bó với Tổng cục Đường sắt trên các cương vị: Trưởng

đoàn, Chỉ đạo viên, Chính trị viên Đội bóng đá TCĐS, Trưởng ban TDTT TCĐS. Trong buổi phỏng vấn này, ông Vũ Hạng cho biết: "Năm 1956, đội bóng ra đời trên cơ sở gom cầu thủ từ các đội: Thanh niên Hoàng Diệu, Trần Hưng Đạo, Sao Vàng, Toa Xe, Đầu Máy, Xe lửa Gia Lâm. Ngay năm đầu, đội Vô địch hạng B, giành quyền lên chơi giải hạng A từ năm 1957. Đáng chú ý là trong đội lúc đó có hai cầu thủ nước ngoài, Diop người Pháp gốc Phi và Blayca người Áo. Đây là hai hàng binh từ chiến dịch Điện Biên Phủ. Người đặt nền móng cho sự ra đời của Đội bóng đá TCĐS là Tổng cục trưởng TCĐS Hà Đăng Ấn, Trưởng ban TDTT là Tạ Đình Đê'".

Theo một bài viết trên báo Giao thông vận tải ngày 17-6-2013 cựu danh thủ Vũ Đức Minh đã kể rằng: "Hồi đó, chúng tôi sướng lắm. Chế độ dinh dưỡng cao, quần áo trang phục, giày thi đấu thích gì được nay, thông báo chỉ hai ngày sau là có. Đi thi đấu đến đâu đêu được cán bộ nhân viên ngành Đường sắt lo lắng, chăm chút.

Nếu nói vê" nên nếp sinh hoạt, tô’chức đội bóng thì Thể Công và TCĐS là số 1. Mà khi ấy, TCĐS đâu chỉ có bóng đá, các môn cơ bản và đại chúng như điên kinh, bơi lội, bắn súng, bóng rô, bóng bàn, bóng chuyên... cũng rất mạnh.

Các ông Hà Đăng Ấn, Tạ Đình Đe rất sát sao với đội, lại có uy tín với cấp trên. Tôi xuất thân là sĩ quan Bảo chính đoàn mà vẫn được cùng đội vào thăm Phủ Chủ tịch, Phủ Thủ


tướng. Không phải ở TCĐS và không có sự bao dung của Tạ Đình Đề thì thành phần như thế sẽ không có được vinh dự đó đâu .

Cũng theo lời ông Đề kể tôi đã đến gặp ông Trần Thanh Bình, công tác tại Ban Thi đua Tổng cục Đường sắt<[6]). Ông Bình nhớ lại: "Với tính cách đã nói là làm và làm kỳ được nên Tạ Đình Đề rất được anh em cũng như lãnh đạo Tổng cục Đường sắt tín nhiệm. Ngoài nhiệm vụ lãnh đạo Xưởng dụng cụ cao su chuyên sản xuất vợt bóng bàn, Tạ Đình Đề còn được Tổng cục trưởng giao nhiệm vụ trực tiếp xây dựng và lãnh đạo phong trào thể dục thể thao và văn hóa văn nghệ ngành Đường sắt Việt Nam. Nói thật, ông Tạ Đình Đề không phải là người có năng khiếu về văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao như những người khác. Nhưng ông là người có cách nhìn rất nhân văn và nhiệt huyết vì công việc chung. Sau hòa bình lập lại, ngành Đường sắt Việt Nam trong quá trình khôi phục và phát triển còn nhiều công việc phải làm, anh em công nhân lao động trong những điều kiện rất khó khăn. Để động viên kịp thời tinh thần làm việc cho công nhân, ngành Đường sắt phải tổ chức xây dựng đời sống văn hóa trong công nhân viên. Với lòng nhiệt huyết của mình, khi được lãnh đạo giao nhiệm vụ tổ chức các hoạt động thể dục thể thao và văn hóa văn nghệ là ông bắt tay vào thực hiện ngay. Từ đó phong trào văn thể của Ngành phát triển không ngừng. Những thành tựu nổi bật trong công tác văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao ngành Đường sắt ghi đậm dâu ân của Tạ Đình Đề. Ông là người có nhiều sáng kiến trong lãnh đạo kinh tế, lại biết vực dậy phong trào văn thể. Đến lượt nó lại tác động đến sản xuât phát triển. Hồi đó, chúng tôi thường nói, ông Đề và đơn vị của ông, bao gồm Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt, Câu lạc bộ bóng đá Đường sắt, Đội văn công Tổng cục Đường sắt là điểm sáng của Ngành".

 

Nghe ông kể, tôi có suy nghĩ, lĩnh vực thể thao như trên thì đã rõ vai trò của ông Đề. Nhưng lĩnh vực văn hóa, văn nghệ là vẫn đề phức tạp, dễ phát sinh những chuyện gây khó khăn cho người lãnh đạo chính trị, như lúc đó nhiều người đã quan niệm vậy. Tôi nhớ bản cáo trạng của vụ án trước đây có quy kết ông Đề về hành vi: "Tuyển dụng người vào biên chế của Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt râỉ tùy tiện, không dựa theo chỉ tiêu kế hoạch. Lập ra một đội văn công và chi sai nguyên tắc cho 60 người của đội văn công Đường sắt". Khi hỏi ông về lý do bản cáo trạng quy kế't nêu trên, ông Đề lắc đầu:

 

"Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo Tổng cục Đường sắt, chúng tôi đã tiến hành tuyển người và thành lập Đội văn công Đường sắt. Đội văn công Đường sắt lúc đó có những hạt nhân văn nghệ như nhạc sĩ Phan Lạc Hoa, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Trong hoàn cảnh khó khăn, ác liệt hồi đó, với phong trào "tiêng hát át tiêng bom", đội văn công Đường sắt đã phục vụ có hiệu quả công tác sản xuất và chiên đấu của ngành Đường sắt. Mọi chi phí của Đội văn công Đường sắt cũng lấy từ quỹ phúc lợi của đơn vị. Trong các đợt tổng kêt, lãnh đạo Tổng cục Đường sắt đã đánh giá cao về những thành công xuất sắc của Đội văn công Đường sắt. Thê' nhưng bản cáo trạng chỉ nhấn mạnh đên việc nhận người vào Đội văn công mà không thấy được tác động tích cực của Đội văn công Đường sắt đôi với quá trình sản xuất của Ngành trong hoàn cảnh chiên tranh ác liệt".

 

Tuy nhiên, nội dung bản cáo trạng lại gợi sự tò mò của tôi theo một hướng khác. Con người ngồi trước mặt tôi đây, chẳng có chút năng khiêu gì về văn hóa văn nghệ, nhưng không hiểu ông đã làm bằng cách nào để mảng hoạt động này nổi đình nổi đám như thê' trong cái thời khó khăn ấy. Tôi đặt câu hỏi với ông về băn khoăn đó, đề nghị ông kể thêm.

 

Giọng ông hào hứng hẳn lên: "Sau khi công tác thể dục thể thao đi vào ổn định, tôi lại được lãnh đạo Tổng cục Đường sắt giao nhiệm vụ trực tiêp chỉ đạo công tác văn hóa, văn nghệ. Nêu như trong bóng đá, tôi không phải là cầu thủ thì trong văn nghệ tôi cũng đâu phải là nhạc sĩ, nghệ sĩ. Tôi đã áp dụng kinh nghiệm xây dựng đội bóng đá theo chiêu thức quen thuộc là chiêu hiền đãi sĩ. Chúng tôi đã thuyết phục được Phan Lạc Hoa và Lưu Quang Vũ về đầu quân cho Tổng cục Đường sắt. Sau này cả hai người đã trở thành những nhạc sĩ và nhà viết kịch rất nổi tiếng".

 

Tạ Đình Đề nắm khá vững lai lịch và hoàn cảnh cấp dưới của mình. Ông cho tôi biết: Phan Lạc Hoa quê ở Thạch Thất, Hà Tây. Sau khi tốt nghiệp Trường Âm nhạc Hà Nội, Phan Lạc Hoa đã phải làm đủ mọi công việc để kiếm sống trong thời buổi bao cấp. Anh kết hôn với ca sĩ Thanh Hoa. Khi Thanh Hoa gần sinh con, Phan Lạc Hoa nghỉ học tìm việc nuôi con. Cũng thời gian này Phan Lạc Hoa gặp ông Đề. Tạ Đình Đề nhớ lại: "Qua câu chuyện, tôi biết Phan Lạc Hoa là nhạc sĩ rất say mê nghề nghiệp. Tôi nghĩ, sự nghiệp phát triển văn hóa, văn nghệ của ngành Đường sắt rất cần những con người như thế' này. Tôi nói rõ ý định mời anh ấy về đơn vị tôi, Phan Lạc Hoa rất phấn khởi. Tôi nghĩ, những con người như thế' này nếu lãnh đạo quan tâm động viên đúng mức thì sẽ phát huy được tài năng của mình. Do vậy, đơn vị đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để Phan Lạc Hoa phát huy khả năng sáng tác. Sau một thời gian đi thực tế, Phan Lạc Hoa đã sáng tác nhạc phẩm mang tựa đề Tàu anh qua núi rất nổi

 

 

tiếng. Và, hay hơn nữa chính Thanh Hoa, vợ của nhạc sĩ đã thể hiện rất thành công ca khúc này. Nhiều người trong ngành Đường sắt rất yêu thích bài hát này và thường nói vui ca khúc Tàu anh qua núi là Ngành ca của Đường sắt."

 

Ông cho biết, ngoài ca khúc trên đây, Phan Lạc Hoa còn sáng tác một số' bài thơ ca ngợi người công nhân đường sắt làm xúc động lòng người. Trong đó phải kể đến bài thơ Lửa hoa đèn. Giọng ông lắng xuống, hơi đượm buồn khi đọc cho tôi nghe một khổ thơ:

 

Anh thắp cây đèn xòe cánh nhớ cánh thương Màu tín hiệu: đỏ vàng xanh tím lục Trong xa cách ta vẫn gần, hạnh phúc Khi trái tim rung nhịp với con tàu!

 

Câu chuyện về Tạ Đình Đề nhận Phan Lạc Hoa vào làm việc tại Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt được báo([7]) đăng bài hồ'i ức của bác sĩ Sao Hồ'ng về Phan Lạc Hoa, một bệnh nhân đặc biệt ở Khoa Tâm thần, bệnh viện Bạch Mai. Xin trích lại để bạn đọc hiểu thêm câu chuyện:

 

"Mồ côi cha. Tuổi thơ trôi dạt qua nhiều vùng quê. Phải lao động từ nhỏ. Học hành chắp vá. Nghề nghiệp bấp bênh. Dáng vẻ phong trần, bất cần đời. Không thích khuôn phép và sống theo cảm xúc.

 

Từ nhỏ, Phan Lạc Hoa đã phải cùng mẹ lang bạt kiếm ăn xứ người. Từ quê Thạch Thất, hai mẹ con trôi dạt theo dòng di dân quen thuộc thời Pháp: Nam Định, Hải Phòng và Quảng Ninh. Ông học ở trường đời nhiều hơn ở trường lớp. Những công nhân và thợ lò vùng cảng, vùng mỏ tốt bụng đã cưu mang giúp đỡ mẹ con ông. Trong câu chuyện, ông vẫn ví von, tuôi thơ mình như cây cỏ dại mọc lên giữa cánh đông hoang.

 

Học hành chắp vá nhưng ông là người thông minh và nhạy cảm. Ông có "hoa tay" và năng khiếu văn nghệ gần như là bẩm sinh. Vì thế, từ phong trào văn nghệ vùng mỏ ông được cử về học ở Trường Âm nhạc Hà Nội, như là hạt nhân phong trào văn nghệ vùng mỏ trong tương lai.

 

Tại trường Nhạc, ông gặp và yêu mê mệt cô nữ sinh năm thứ ba "bé choắt có đôi mắt đẹp hút hôn và giọng hát đầy triển vọng, tên là Nguyễn Thị Thanh. Môi tình lãng mạn bay bông đạt đến đỉnh của sự ngất ngây thì... cả hai phải đôi diện thực tại: Cô sinh viên chưa kết hôn lại có thai khi khóa học chưa kết thúc, nếu đẻ con sẽ sống thế nào?

 

Đó là một bước ngoặt trong cuộc đời Phan Lạc Hoa, buộc ông phải đứng trước sự lựa chọn nghiệt ngã. Việc có thai ngoài ý muốn mà chưa hôn thú, "chưa báo cáo tô’chức" là vân đề rất nghiêm trọng lúc bây giờ.

 

Chế độ tem phiêu có thể nuôi sống người độc thân nhưng với một "gia đình sinh viên" chưa có hộ khẩu... thì có thể đói nhăn răng.

 

Như một cú sốc, ông mất thăng bằng một thời gian vì không biết sẽ tô’ chức cuộc sống thế nào. Ông chạy trốn thực tại và lang thang với bạn bè. Hồi tâm, ông quay về và sống với Thanh mà không cưới hỏi. Hồi ấy, sống không cưới hỏi đã là một điều ghê gớm. Nhưng việc ông mang tiếng đào ngũ khi có quyết định đi B để ở lại chăm sóc vợ đang bụng mang dạ chửa lại càng ghê gớm hơn. Việc đó đã dẫn ông phải chịu bị kỷ luật, mất biên chế, mất sổ gạo, bị "vứt ra đường".

 

Mất biên chế, đồng nghĩa với trắng tay. Không có sổ gạo, tem phiếu. Không nơi nào dám nhận ông, "một thằng đào nhiệm", Phan Lạc Hoa kể lại với Sao Hồng với chất giọng thuốc lào trong khuôn viên Khoa Tâm thần.

 

Ông nói hồi đó mình như là một người tỉnh lẻ trắng tay "trôi dạt về thủ đô" mà gánh trên vai trách nhiệm làm cha, làm chồng.

 

Ông làm bất cứ công việc gì để sống cùng vợ con. Nhưng cũng có khi, sáng đi tìm việc, chiều về hai bàn tay trắng trong cơn say bét nhè.

 

Những năm tháng bị "tống ra lề đường" bị hắt hủi, ông mang tâm trạng mặc cảm và tự ti. "Thật là hèn khi phải ăn bám vợ", nhạc sĩ thốt lên cay đắng.

 

Vợ ông, ca sĩ trẻ Nguyễn Thị Thanh, yêu chồng đôi tên là Thanh Hoa, được nhận về Đài Tiếng nói Việt Nam như một biên chế chính thức. Rồi trở nên nôĩ tiếng với nghệ danh Thanh Hoa. Nỗi dày vò mặc cảm ngày càng chồng chất, khi vợ

 

ông ngày càng khẳng định được chỗ đứng trong lòng khán giả, thì Phan Lạc Hoa phải sống vất vưởng và suy nghĩ nhiêu, bế tắc... Ông đã mắc bệnh tâm thần. Sau khi điêu trị tạm thời ôn định, ông đi tìm việc làm, tìm kế sinh nhai...

 

Đúng lúc ấy, Phan Lạc Hoa gặp ông Tạ Đình Đê" (Tổng cục Đường sắt), một nhân vật huyên thoại của thời kháng Pháp với bản tính nghĩa hiệp, giỏi thu phục nhân tâm. Ông vê"làm "lính"của ông Tạ Đình Đê.

 

Ông Tạ Đình Đê" biết nhìn người và cưu mang những người có cá tính và thất cơ lỡ vận như Phan Lạc Hoa, Lưu Quang Vũ. Ông đã tạo công ăn việc làm cho họ; tạo môi trường để phát huy sở trường của họ.

 

Thế nhưng con người vừa có tâm vừa có tầm ấy, sau khi bị bắt giam, Phan Lạc Hoa lại lang thang vê" làm công nhân sắp chữ ở xưởng in.

 

Phan Lạc Hoa đã quen lao động chân tay. Nhưng những bản kẽm, thuốc lá, thuốc lào rẻ tiên, thiếu cơm thừa rượu tạp đã "góp nhặt" chất độc để làm nên... bệnh tật của ông sau này.

 

Nước nhà thống nhất. Năm 1976, ông Tạ Đình Đê" được minh oan và trở lại làm việc. Phan Lạc Hoa vẫn vừa làm công nhân vừa làm văn nghệ.

 

Những sáng tác của ông bắt đầu có tiếng vang qua giọng hát của vợ. Giai đoạn làm quân Tạ Đình Đê"là thời điểm thăng hoa trong sáng tác của Phan Lạc Hoa..."

 

Đúng thế, trong thời gian Phan Lạc Hoa về "đầu quân" cho ông Đề là thời gian phát lộ tài ba của người nhạc sĩ này với những ca khúc nổi tiếng, còn mãi dư âm với thời gian như: Tàu anh qua núi; Tình yêu bên dòng sông quan họ...

 

Còn với trường hợp của nhà thơ, nhà biên kịch Lưu Quang Vũ thì sao, thưa ông? Tôi hỏi.

 

Nhắc tới con người rất tài hoa nhưng đoản mệnh này, Tạ Đình Đề buồn hẳn. Đôi mắt của ông nhìn xa xăm hơn. Ông kể: "Năm 1970, tôi gặp Lưu Quang Vũ, cũng rất tình cờ thôi. Sau khi tìm hiểu tôi biết, anh ta là quân nhân, nhập ngũ từ năm 1965-1970 và phục vụ trong Quân chủng Phòng không - Không quân. Xuất ngũ, Lưu Quang Vũ làm đủ mọi nghề để kiếm sống nhưng cũng rất khó khăn. Nhiều nơi không muốn nhận cậu ta vì lý lịch có những nhận xét bất lợi. Nghe bạn bè giới thiệu, Lưu Quang Vũ đến gặp tôi. Lúc gặp nhau, qua câu chuyện tôi phần nào đoán biết được đây là con người có kỷ luật, được đào tạo bài bản và từng được tôi luyện trong khó khăn, gian khổ của cuộc đời quân ngũ. Không hiểu có phải một thời mình là quân nhân hay sao mà khi tìm người về làm việc, nghe nói họ là bộ đội phục viên đang tìm công ăn việc làm, tôi đã có thiện cảm ngay. Tôi nhận Lưu Quang Vũ vào làm việc ở đơn vị mình. Qua thời gian sống và làm việc với đơn vị, tôi và Lưu Quang Vũ rất tâm đầu ý hợp. Sau một thời gian làm thợ tại Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt, Lưu Quang Vũ có nói với tôi những suy nghĩ của anh về đời sông đang xuông cấp do cơ chê' quan liêu, bao cấp sinh ra. Vũ nói sẽ viêt kịch để phản ảnh đúng hiện thực xã hội. Tôi thấy Vũ là người có năng khiêu, chịu khó, dám nghĩ, dám làm nên hoàn toàn ủng hộ và tạo mọi điều kiện để cậu ấy thực hiện ý định sáng tác của mình. Nhưng, sau đó, tôi bị bắt giam để điều tra. Việc sáng tác của Vũ như thê' nào tôi cũng không nắm được".

 

Nhắc tới Lưu Quang Vũ người ta không thể nào quên được vở kịch nói Tôi và chúng ta của anh. Một vở kịch thu hút rất nhiều người xem thời đó. Các buổi diễn Tôi và chúng ta luôn bị ngắt quãng bởi những tràng vô tay hoan hô đầy phấn khích của khán giả. Rất nhiều chất liệu cuộc sông trong vở kịch nói nổi tiêng ấy được Lưu Quang Vũ kể rằng, đã lấy từ Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt và hình ảnh người giám đôc được lấy từ nguyên mẫu của Tạ Đình Đề.

 

Đôi với Phan Lạc Hoa và Lưu Quang Vũ, ông Tạ Đình Đề không chỉ là ân nhân, mà còn là thần tượng của họ nữa. Trong kho ký ức của ông còn có những câu chuyện, những chi tiêt khác nữa về hai nghệ sĩ tài danh này mà trước hê't tôi rất muôn biêt thêm về Lưu Quang Vũ.

 

Ông kể: "Sau khi tôi được tha tù, Lưu Quang Vũ có đên thăm và đưa cho tôi xem vở kịch Tôi và chúng ta.

 

Vũ nói với tôi rằng, từ khi tôi bị bắt giam thì cậu ta nhận ra có sự oan trái, bâ't công nên cậu ta bắt đầu viết vở kịch này. Vở kịch viết xong nhưng chờ mãi, chờ hoài, người ta mới cho phép công diễn. Cậu ta còn cho tôi biết, khi công diễn vở kịch Tôi và chúng ta, người xem rât hoan nghênh vì nó đã phản ảnh đúng thực tế' của đời sống kinh tế' xã hội lúc bây giờ. Tôi cũng chỉ được nghe phong phanh như vậy thôi chứ chưa được xem bao giờ. Tôi nhận vở kịch và lật vài trang đầu đọc qua rồi gật đầu khen về tài năng của Vũ. Lưu Quang Vũ nói rằng, nhờ những tháng ngày sống, làm việc ở Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt, nhất là hình ảnh nhiệt huyết, nhưng lại bị hàm oan của Thủ trưởng Tạ Đình Đề nên em mới viết được vở kịch này."

 

Thây tôi đang háo hức râ't muốn nghe, ông kể tiếp: "Sau đó, tôi đã đọc một lèo kịch bản do Lưu Quang Vũ tặng. Đây thật sự là vở kịch hay. Nó phản ánh cuộc đâu tranh gay gắt giữa một bên là phái tiến bộ và một bên là phái bảo thủ. Trong kịch, cuộc đâu tranh này xảy ra tại Xí nghiệp Thắng Lợi. Nhưng đằng sau đó, người đọc, người xem cũng thây được toàn cảnh xã hội ta lúc bây giờ. Mục đích của cuộc đâu tranh đó là nhằm thay đổi phương thức quản lý kinh tế, kiên quyết lên án cách quản lý theo tư tưởng bảo thủ, cứng nhắc, lạc hậu, khuyến khích những việc làm táo bạo, mạnh dạn đổi mới, vì lợi ích của người lao động. Càng đọc càng thấy vở kịch Tôi và chúng ta của Lưu Quang Vũ thật sự mang tính thời sự nóng hổi và thấm đẫm chất nhân văn sâu sắc. Đọc xong vở kịch, tôi cũng không ngờ, mới ngày nào đây Lưu Quang Vũ là người lính hiền lành, ít nói, chăm chỉ, nhiệt huyết mà bây giờ đã trở thành nhà thơ, nhà viết kịch tài ba và nhân hậu".

 

Nghe ông kể, tôi thầm nghĩ, trong cuộc đời thường, không hiếm những kẻ tranh công đổ lỗi. Tạ Đình Đề thì ngược lại. Ông là người của công việc nhưng rất khiêm tốn, không bao giờ kể công. Ông cho rằng, công lao, phần thưởng phải dành cho anh em cấp dưới, cho người thợ. Khi tìm hiểu vấn đề này, tôi đã trực tiếp gặp ông Trần Thanh Bình, cán bộ theo dõi thi đua của Tổng cục Đường sắt, ông Bình kể: "Thời kỳ ông Đề phụ trách Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt và Trưởng ban TDTT đã để lại dấu ấn không thể phai mờ trong lòng người cán bộ, công nhân viên ngành Đường sắt Việt Nam. Ông không chỉ là người chỉ huy sản xuất giỏi mà còn rất quan tâm đến đời sống văn hóa, văn nghệ của anh em công nhân. Ông là người rất nhiệt huyết với công tác văn thể của Tổng cục Đường sắt. Đây cũng là thời kỳ công tác văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao ngành Đường sắt phát triển rực rỡ. Lúc đó, chúng tôi đã nói với nhau: Tạ Đình Đề là người đi tiên phong trong đổi mới quản lý của ngành Đường sắt. Vì thê, những kêt quả trong lĩnh vực hoạt động trong kinh tê' cũng như văn hóa của ông không những được lãnh đạo Tổng cục khuyên khích mà anh em công nhân cũng rất ủng hộ.

 

Hàng năm, khi bình xét thi đua, Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt luôn là đơn vị thi đua dẫn đầu của Ngành. Tổng cục trưởng Tổng cục Đường sắt Hà Đăng Ấn rất quan tâm đên công tác thi đua của đơn vị do ông Đề lãnh đạo. Nhưng cũng thật lạ, chưa lần nào ông Đề nhận mình là người đạt danh hiệu thi đua. Có lần, đồng chí Tổng cục trưởng chủ trì xét duyệt thi đua, cười hỏi: Sao chẳng bao giờ thấy ông Đề được bình xét danh hiệu thi đua nào cả? Ban thi đua báo cáo với đồng chí Tổng cục Trưởng: Phải thừa nhận Tạ Đình Đề là người chỉ huy sản xuất giỏi, lãnh đạo công tác văn thể hay, nhiệt huyêt, công tâm. Ông biêt khơi dậy tinh thần hăng say lao động của công nhân. Đơn vị có nhiều sáng kiên, cải tiên và đã đưa đên năng suất lao động lên cao. Đồng thời, ông là người thẳng thắn, quý trọng anh em công nhân và được anh em rất tín nhiệm, nhưng ông ấy rất khiêm tôn, giản dị. Môi lần bình xét danh hiệu thi đua, anh em đều suy tôn ông Đề là chiến sĩ thi đua, lao động xuất sắc, người có nhiều sáng kiên cải tiên... nhưng không bao giờ ông Đề nhận thành tích về mình. Ông Đề bảo: Thành tích là của anh em. Mình chỉ là người phát động. Vả lại, giành phần thưởng cho anh em để họ phân khởi, hăng say làm việc, đưa năng xuât lên cao. Đó là phần thưởng cao quý nhât mà cán bộ, công nhân viên trong đơn vị đã dành cho ông. Lần sau hãy tính... Thây vậy, Tổng cục trưởng chỉ còn biết gật đầu và cười, khen ông Đề là người rât khiêm tốn, giản dị, biết hy sinh quyền lợi của mình, dành quyền lợi cho tập thể và cho anh em câp dưới."

 

Tôi đã nhiều lần đến thăm nhà Tạ Đình Đề nhưng chẳng thây ông treo bâ't cứ một tâm bằng khen hoặc giây khen nào. Biết tôi muốn tìm hiểu về thành tích của ông, bà Thọ vợ ông, kể rằng: "Thời kỳ ông Đề phụ trách Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt, ông chẳng bao giờ nghỉ phép. Hàng tháng chỉ được phân phố! một bao mùn cưa như mọi người khác. Chủ nhật chẳng lúc nào ông ở nhà. Lúc thì ông chỉ huy sản xuât, lúc thì đi chỉ huy đá bóng và có lúc ông đi chỉ huy tập văn nghệ... Một con người chỉ biết miệt mài với công việc mà câp trên đã giao cho ông. Nhiều người khi gặp tôi, đã khen: Ai mà được như ông Đề. Đi đâu ai cũng nhắc tới, đàm luận về con người chỉ biết công việc, chỉ biết lo cho quyền lợi của anh chị em. Ông được câp trên qúy, câp dưới yêu".

 

Tôi suy ngẫm mãi lời bà Thọ nói về chồng mình. Phải chăng, thời hoàng kim của một con người là lúc họ cống hiến được nhiều nhât cho xã hội. Họ dành được lòng yêu mến kính trọng thực sự của người thân, bè bạn, câp trên, câp dưới. Niềm vui và hạnh phúc lớn nhât của họ là được làm việc hết mình cho tập thể, cho Tổ quốc, là che chở, bao dung, nâng đỡ những ai thiếu may mắn, là quan tâm đến mọi người khác. Họ không vun vén cho cá nhân gia đình. Họ dành những gì tốt đẹp nhât, dù chỉ là chai nước, điếu thuốc hay tâm bằng khen thi đua cho những người lao động vất vả. Có lẽ, công lao của những người lao động đã đưa đến sự lớn mạnh vượt bậc của đơn vị ông chẳng khác nào một tâm huân chương cao quý dành tặng Tạ Đình Đề. Làm một người lãnh đạo như ông Đề cũng thật khó. Có vậy ông mới được mọi người trong đơn vị quý trọng, kính nể. Có lần Tạ Đình Đề đã nói: Mình cũng phải ăn để sống, nhưng người lãnh đạo, chỉ huy không thể sống và hưởng thụ quá mức khi mà đời sống người thợ còn đói khổ.

 

Thời ây, tại cái Xưởng dụng cụ cao su, quan hệ văn hóa giữa người với người thật sự tốt đẹp. Họ nhìn nhận về nhau, đánh giá tốt xâu không bằng thành phần, lý lịch hoặc địa vị chức tước mà bằng sự cống hiến nhiều hay ít cho Xưởng dụng cụ cao su, cho đât nước và cho mọi người. Đó chính là thời hoàng kim của một con người Cộng sản chân chính mang tên Tạ Đình Đề đã gây dựng được quan hệ tố't đẹp giữa người và người trong nghèo khó.

 

Viết đến đây tôi chợt nghĩ đến một số' đơn vị, xí nghiệp thời nay. Nhiều đơn vị kinh tế công ích, công nhân làm việc rất nặng nhọc mà chỉ nhận được đồng lương ít ỏi. Trong lúc đó lãnh đạo thì "hưởng lương" hàng tỷ, tiêu tiền của dân vô lối như tiền chùa. Dẫn đến phá sản cả một loạt đơn vị kinh tế' Nhà nước. Khi nghĩ đến lòng nhiệt huyết, đạo đức, phẩm chất của con người Tạ Đình Đề và sự tha hóa, biến chất của một số' cán bộ, đảng viên ngày nay tôi có suy ngẫm nhiều về một câu hỏi gần đây đã được một tờ báo đặt ra([8]): "Với 6000 đảng viên mà tại sao Vinashin lại bị tan nát trong khi ngày xưa, chỉ với 5000 đảng viên mà Cách mạng Tháng Tám vẫn thành công?". Nhân dân thường nói, ngày nay, lãnh đạo trở thành đại gia càng nhiều, thì người dân ngày càng bị bần cùng càng lắm. Nhiều nhà máy xí nghiệp (cả quốc doanh và tư nhân) phá sản, công nhân thất nghiệp ngày càng nhiều. Trong các xí nghiệp tư nhân, giới chủ ra sức bóc lột sức lao động của công nhân đến thậm tệ. Tại những nơi này, người lao động đang hàng ngày lo lắng đến cuộc sống vật chất. Còn đời sống tinh thần của người lao động thì rất hiếm giám đốc quan tâm đến cấp dưới. Họ vin vào lý do kinh tế' khó khăn, khủng hoảng tài chính nên lo đồng lương cho công nhân đã khó,

 

lấy chi để lo văn hóa văn nghệ.

 

Ấy vậy mà, có một nơi vào thời kỳ bao cấp, của những năm 70, 80 thế kỷ trước, còn khó khăn nghèo khổ gấp nhiều lần hiện nay, nhưng họ đã làm được điều kỳ diệu, đó là đổi mới kinh tế' đi đôi với đổi mới văn hóa. Nhờ tạo được động lực của người lao động, trở thành sức mạnh to lớn trong sản xuất của đơn vị. Cốt lõi của văn hóa là quan hệ giữa người và người. Phải chăng bài học này cho thấy, lấy lý do khó khăn, khủng hoảng kinh tế' hiện nay, để không đảm bảo đời sống văn hóa cho người thợ thì đó chỉ là ngụy biện của những người phụ trách vô trách nhiệm mà thôi.

 

 

Bốn

X ____________ • Ạ _                         \         _ ________ \              4 1«* ạ' _                                     _

Lo việc làm và đời sống cho người thợ lại trở thành tội phạm

ghe Tạ Đình Đề kể về sự bứt phá đi lên của Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt,

tôi nghĩ đây là những sáng kiến táo bạo mang tính đột phá đi lên nhằm cải tiến công cụ sản xuất, kích thích người lao động hăng say làm việc và gắn bó với sản xuất. Có thể nói, Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt do ông Đề lãnh đạo là điểm sáng trong sản xuất kinh kế và văn hóa của ngành Đường sắt thời ấy. Tôi muốn tìm hiểu rõ thêm vì sao Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt lúc bấy giờ đang là điểm sáng mà bổng chốc trở thành những vấn đề phức
tạp đến vậy, để cuối cùng xảy ra vụ án nổi tiếng trong lịch sử tư pháp hiện đại ở Việt Nam?

Trước khi hỏi ông Đề về việc này, tôi đã mât rât nhiều thời gian, công sức gặp, hỏi thêm nhiều người trong cuộc để xem mâu thuẫn phát sinh như thế' nào. Họ đều nói: Sản xuât của Xưởng cao su lúc này phát triển, đời sống vật chât người thợ khâm khá hơn, thể thao, văn nghệ cũng phát triển đi lên. Nhưng khởi chuyện lúc đầu là do tham lam chức quyền. Ông P.T, lúc đó là Phó Giám đốc phụ trách sản xuât kiêm bí thư chi bộ. Từ lâu ông ta vẫn hy vọng việc nắm chức bí thư chi bộ sẽ lên chức Giám đốc, khi ông Đề chuyển công tác khác. Ông ta luôn tuyên bố ủng hộ những cải tiến trong quản lý kinh tế' của ông Đề và tự hào về tài chỉ huy sản xuât do ông P.T phụ trách. Ác một nôi, ông này kém tư cách nên đến Đại hội chi bộ, tuyệt đại đa số' đảng viên không bầu cho ông. Khi biết mình mât chức bí thư chi bộ ông trở mặt ngay với ông Đề, người lâu nay vẫn tốt bụng, trân trọng giúp đỡ ông ta.

Rồi ông ta bât mãn, tuyên bố không làm công việc chỉ đạo sản xuât nữa, ai giỏi cứ làm, xem làm có được bằng ông không? Ông Đề và câp trên không châp nhận đề nghị ây, ông ta đe dọa sẽ báo cáo câp trên. Trong khi đó, ở Xưởng ai cũng biết ông P.T có người nhà là cán bộ câp cao của thành phố'.

Nghe những người trong cuộc kể vậy, tôi suy nghĩ: Cái thứ người bất mãn, chỉ biết lợi ích cá nhân thì đâu đâu cũng có. Nhưng phản ứng của ông P.T ở trường hợp này, nếu đúng như vậy đã tạo cớ để’ những nhà chức trách thời đó đi sâu vào xem xét những việc làm "xé rào" như đi mua máy móc, tuyển thợ, chi phí cho thể thao, văn nghệ trái quy định của Nhà nước theo cơ chế' tập trung, bao cấp. Với cơ chế' này, trong thời gian đó, nếu nhà chức trách phát hiện đơn vị nào, địa phương nào và ngành nào mà có những việc làm "xé rào" cũng bị bắt bẻ, quy kế't là nghiêm trọng.

Theo các tài liệu của hồ sơ vụ án cho thấy, chính bối cảnh của đơn vị lúc đó đã nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp. Đông đảo anh em công nhân viên ở Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt cho rằng: Với cung cách làm ăn theo cơ chế' kế' hoạch hóa, quan liêu, bao cấp thì không thể khuyến khích sản xuất phát triển. Cơ chế' quản lý đó ngày càng trói buộc, làm thui chột những sáng kiến, cải tiến của công nhân. Họ mong muốn lãnh đạo Xưởng cần thay đổi phương pháp quản lý, quan tâm đến đời sống công nhân. Có như vậy, những người lao động mới gắn bó với xí nghiệp, hăng hái sản xuất, mê say cải tiến kỹ thuật. Tuy nhiên, tôi nghĩ: Cái mới khi ra đời bao giờ cũng bị những kẻ bảo thủ chống đối, ít nhất là không tán đồng. Cơ chế' quản lý kinh tế' cũ đã ăn sâu, bám rễ trong nhận thức của rât nhiều người, không ít kẻ cho đó là "khuôn vàng thước ngọc" của chế' độ xã hội nên họ khư khư cho rằng không thể làm khác được. Họ lập luận rằng sản xuât theo kế' hoạch hóa là đặc trưng của chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường duy nhât để đưa đât nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Tuy là thiểu số nhưng lực lượng bảo thủ ở đây đã vin vào những cơ chế, chính sách không còn phù hợp, tạo ra rào chắn cản trở, tạo ra sự bứt phá đi lên của Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt. Quan trọng hơn là khi ây luật lệ về tư pháp và phong cách làm việc của một số' cơ quan thanh tra và tư pháp chưa đổi mới theo kịp sự đổi mới về kinh tế.

Tôi hỏi thêm Tạ Đình Đề: Trong biên bản ghi lời khai trước đây, ông có khai đại ý rằng, trong buổi gặp tại nhà anh Huân, ông P.T là câp phó của ông, người đã phản đối việc phân công ông ta phụ trách sản xuât và có lời đe dọa nếu không thực hiện theo ý kiến của họ thì anh ta sẽ đi báo cáo câp trên. Việc này thực hư ra sao, thưa ông?

Giọng kể của ông trầm hẳn xuống, nét buồn hiện rõ trên gương mặt Tạ Đình Đề. Đôi mắt ông rưng rưng, đong đầy những kỷ niệm đau buồn. Trong dòng hồi ức oan nghiệt được diễn đạt bằng lời nói, tôi thây có lúc ông lại bật cười mỉa mai: "Sau những thắng lợi bước đầu của cách quản lý mới đem lại, tôi và đơn vị được sống trong bầu không khí hân hoan. Gặp ai cũng nở nụ cười mãn nguyện. Có thể nói, cán bộ công nhân viên Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt lúc đó không mong muốn gì hơn ngoài việc được sống và làm việc ổn định. Nhưng đúng là niềm vui chẳng được bao lâu thì xuất hiện những vấn đề phức tạp.

Trước đây, Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt được Đảng ủy cấp trên cho phép thành lập chi bộ. Lúc đầu, Ban chi ủy gồm có tôi và các ông P.T, ông Đông và ông Lương. Ông P.T được Chi bộ bầu làm Bí thư. Đầu năm 1973, trong dịp Đại hội chi bộ nhiệm kỳ, tôi đề cử ông P.T tiếp tục tham gia cấp ủy. Tôi nghĩ, nếu chi bộ nhất trí bầu P.T tiếp tục làm Bí thư thì sẽ ổn định được tình hình và sức mạnh lãnh đạo trong chi bộ và đơn vị cũng được tăng lên. Nhưng khi bỏ phiếu, PT nguyên Bí thư chi bộ và đồng chí Cát Lâm, nguyên chi ủy viên không trúng cấp ủy nhiệm kỳ mới. Trong lúc đó, tôi và ông Lương, ông Đông, ông Thường và ông Hòa lại trúng

_               _            ?                          I—I—I /V •         1                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                              •                           -o y                                                 T'l                                                    rp                                                     1                                                        \                   _            A/                     1                             \

cấp ủy. Tôi biết rất rõ răng, P.T rất kỳ vọng muốn làm Giám đốc thay tôi. Mà muốn làm Giám đốc thì phải trúng Bí thư. Đây không phải là quy định của cấp trên mà cái nếp ở Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt từ trước tới nay như vậy. Nếu P.T trúng cấp ủy, nhất là được chi bộ bầu làm Bí thư thì cái chức Giám đốc đến với ông ấy chỉ còn là thời gian.

Kê't quả trượt cấp ủy là một cú sôc choáng váng đôi với P.T. Tôi cũng lường được rằng, từ đây chắc chắn tình hình nội bộ sẽ phức tạp. Mong hóa giải sự rắc rôi và để hòa thuận trên dưới, tôi đề nghị Đảng ủy cấp trên bổ sung hai ông P.T và Cát Lâm vào cấp ủy. Tuy nhiên, cấp ủy cấp trên không đồng ý.

Sau đại hội, ban chi ủy đã họp và phân công tôi làm Bí thư chi bộ, phụ trách chung. Tiêp đó, lãnh đạo đơn vị đã nhất trí phân công ông P.T làm Phó giám đôc, tiêp tục phụ trách sản xuất. Ông Lương, Phó giám đôc, cấp ủy viên, phụ trách công tác hành chính quản trị.

Sau thời gian đại hội Chi bộ không lâu, trong cuộc gặp tình cờ tại nhà ông Huân, ông P.T đề nghị tôi phân công ông Lương phụ trách sản xuất. Tôi biêt rất rõ ý đồ P.T đưa ra đề xuất này. Ông ấy muôn khẳng định với mọi người rằng, trong đơn vị này không có ai chỉ huy sản xuất bằng ông P.T. Nêu ông Lương, người chưa có kinh nghiệm trong điều hành sản xuất mà nhận nhiệm vụ này thì chắc chắn sản xuất sẽ trì trệ, Xưởng không hoàn thành kê' hoạch đề ra.

m                              1 _ • Ạ',       4                                              /               .4 Ạ' ấ V                             1 Ạ'* Ạ? _                  _1_        '            _                           4- y _                                           _     _ _                                              4-/V'

Tuy biết được ý đồ tăm tối ẩn chứa đằng sau đề xuất này, tôi vẫn nhẹ nhàng nói với ông P.T: Đồng chí Lương mới từ cơ quan của Tổng cục chuyển về, chưa có kinh nghiệm trong chỉ đạo sản xuất, trước mắt chưa đảm nhận được nhiệm vụ này. Chúng ta nên tạo điều kiện, giúp đỡ để ông Lương nắm bắt được chu trình sản xuât. Khi đủ điều kiện, ta sẽ phân công nhiệm vụ chỉ đạo sản xuât cho ông Lương. Bây giờ cứ tiến hành công việc như đã được tập thể nhât trí phân công.

Chưa nghe tôi nói hết câu, P.T đã nổi cáu. Hai mắt mở to, ném cái nhìn thẳng vào tôi như có lửa, nét mặt tái mét. Đoạn P.T đưa tay chỉ vào mặt tôi nói như thách thức: Tôi không nhât trí. Tôi sẽ báo cáo câp trên về cách làm ăn xé rào của ông! Tôi cứ tưởng P.T nói nhầm. Nhưng khi P.T bỏ ra ngoài còn ngoái đầu nhắc lại câu vừa nói. Tôi có linh cảm, P.T sẽ "báo cáo" về chuyện bứt phá đi lên của đơn vị thời gian qua chăng? Nhưng tâ't cả đã có nghị quyết tập thể, đã được lãnh đạo Tổng cục nhất trí. Tôi vững tâm hơn".

Nghe ông kể, tôi lại nghĩ đến thời kỳ trước đây, trong sự bức bách của cơ chế' cũ, có nơi muốn bứt phá đi lên bằng cách "xé rào" nên đã bị "tuýt còi" hoặc bị đối xử tai hại. Cũng có nơi, việc "đổi mới" hay "xé rào" đã bị quy cho là "Mô hình phản động". Do vậy, tôi nghĩ, ông Đề quyết tâm đổi mới để vực dậy sức sản xuât của Xưởng dụng cụ cao su cũng chính là quyết tâm đối mặt với những thử thách phức tạp, rủi ro do lực lượng bảo thủ chống lại.

Ông kể tiếp: "Tuy phân công như vậy nhưng sau đó sản xuât của đơn vị gặp không ít khó khăn. Nguyên nhân cơ bản là vai trò, trách nhiệm giảm sút của người chỉ huy sản xuất. Trước tình trạng không hay ho đó, tôi đã phải gồng mình lên chống đỡ, suốt ngày có mặt tại đơn vị để bám công nhân, bám máy. Tôi sắp xếp thời gian xuống từng phân xưởng động viên anh chị em cho máy chạy hết công suất. Những tháng cuối năm 1973, tôi ít về nhà hơn, phần lớn dành thời gian bám Xưởng, cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm với công nhân. Và, rất phấn khởi, năm 1973, Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt đã hoàn thành kế' hoạch của cấp trên giao.

Niềm hân hoan phấn khởi hoàn thành kế' hoạch năm 1973 đang bao trùm đơn vị. Tôi đâu ngờ, tai họa đang chờ tôi phía trước. Một hôm, lãnh đạo Tổng cục Đường sắt gọi tôi lên và thông báo ngắn gọn: Có đơn tố cáo tôi và một số' người trong xí nghiệp phạm tội.

Nhận được thông báo này, tôi như sụp xuống. Trời đất quay cuồng. Lẽ nào lại như thế. Bao năm nay, Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt đã gắn liền với tôi. Tôi đã dành cho nó biết bao công sức, trí tuệ và cả tình cảm nữa. Lúc đầu Xưởng chỉ là những máy móc lạc hậu, điện nước phập phù... Thế' mà bây giờ, khi đơn vị đã khang trang, có bát ăn bát để, đời sống anh chị em công nhân khấm khá hơn thì họa lại đến với tôi. Bấy lâu nay, tôi không hề lợi dụng vun vén cho riêng mình bất cứ thứ gì. Mọi chủ trương và hoạt động của đơn vị tôi đều báo

cáo và đã được các đồng chí lãnh đạo câp trên đồng ý.

Mây hôm sau đó, Tổng cục Đường sắt thông báo cụ thể về đơn tố' cáo tôi và một số' người nữa với các nội dung:

Tổ chức móc ngoặc, chiếm dụng thiết bị máy móc của Nhà nước đem về sử dụng lung tung;

 Phá lẻ thiết bị toàn bộ nhà máy đắp lốp ô tô do nước ngoài viện trợ;

Lập quỹ trái phép, tham ô và cố' ý làm trái, đưa hối lộ, thưởng cho công nhân sai nguyên tắc...;

Tuyển dụng người vào làm việc trái nguyên tắc, lập ra Đội văn công để phục vụ Đường sắt, trái với quy định của Chính phủ. Trong việc tuyển người sai nguyên tắc, có nhiều người bị cải tạo về tội gián điệp, ngụy quân, ngụy quyền có tội ác, tham ô, móc ngoặc và buôn gian bán lậu...

Sau đó, đoàn thanh tra Liên bộ đến "hỏi thăm", yêu cầu tôi phải giải trình rât nhiều nội dung. Thời gian này, tôi phải đi làm rât sớm và về cũng rât muộn. Sau mỗi lần tiếp đoàn thanh tra đến làm việc, tôi phải chuẩn bị đầy đủ các chứng từ, tài liệu theo yêu cầu của họ. Có hôm, phải làm việc với đoàn từ sáng sớm cho đến tối mịt mà cũng không xong. Về đến nhà, trời đã khuya. Mệt. Đói. Vội lùa miếng cơm vào bụng cho xong bữa rồi lại chong đèn chuẩn bị số' liệu cho buổi làm việc


sáng ngày mai. Cứ thế, ngày nối tiếp ngày, tháng nối tiếp tháng. Hết thời gian làm việc với thanh tra thì đến lượt tiếp các cán bộ điều tra.

Tôi có cảm nhận thời kỳ này sức khỏe đang xuống câp mau lẹ. Hoa mắt, mât ngủ, áp huyết tăng, bệnh đau khớp cứ hành hạ tôi môi lúc đi làm về muộn hoặc khi trái gió trở trời. Soi gương thây mặt mình hốc hác, xám đen. Đêm nằm bắc tay qua trán, suy nghĩ miên man. Càng nghĩ, càng thây rõ tình cảm đồng chí, đồng nghiệp không phải bao giờ cũng trong sáng vô tư mà nó phụ thuộc vào đạo đức, nhân cách của từng người. Nếu con người có bản tính độc ác thì có thể biến bạn mình, đồng chí mình trở thành kẻ thân bại danh liệt về chính trị và khuynh gia bại sản về kinh tế. Càng ngày, tôi càng nhận ra mối nguy hiểm đến với mình"

Nghe ông kể đến đây, tôi cảm thây xúc động và mong muốn chia sẻ với Tạ Đình Đề. Đúng là, tai bay vạ gió. Tôi nóng lòng muốn biết ông đã giải trình với các cơ quan có trách nhiệm như thế' nào? Tôi hỏi Tạ Đình Đề: "Thế ông đã trả lời các đoàn thanh tra, cán bộ điều tra như thế' nào về nội dung đơn tố' cáo ây?"

Qua câu chuyện của "người bị nạn" tôi hình dung ra nội dung giải trình của ông. Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt được thành lập với tình trạng máy móc thiết bị nghèo nàn. Trong lúc đó nhiệm vụ của đơn vị được

Tổng cục Đường sắt giao cho rất nặng nề. Vì vậy, ngoài việc động viên tinh thần làm việc của công nhân, ông thấy cần thiết phải cải tiến máy móc thiết bị để nâng cao năng suất lao động.

Để giải quyết vấn đề hóc búa này, Tạ Đình Đề đã phải thông qua các mối quan hệ bạn bè, đồng nghiệp, giới thiệu những nơi có vật tư máy móc chưa sử dụng để’ xin về cho đơn vị. Sau khi được sự đồng ý của lãnh đạo cấp trên, ông đã cho người thảo công văn xin ý kiến của Tổng cục Đường sắt Việt Nam, Bộ Giao thông, các cơ quan hữu quan và Chính phủ xin thanh lý số' máy móc thiết bị. Như vậy, Tạ Đình Đề chỉ là người đề xuất, các cấp có thẩm quyền đã phê duyệt (đồng ý). Tại sao lại quy tội cho người đề xuất?

Ông nói: "Với các chứng cứ khách quan rõ ràng và bằng lập luận của mình, tôi đã lần lượt giải trình với cán bộ thanh tra để bác bỏ nội dung tô’ chức móc ngoặc, chiếm dụng thiết bị máy móc của Nhà nước đem về sử dụng lung tung mà trong đơn tố' cáo đã nêu lên.

Với một chiếc máy đắp lốp ở Quảng Ninh, tôi đã giải trình rằng, đơn tố' cáo tôi và một số' người có hành vi phá lẻ thiết bị toàn bộ nhà máy đắp lốp ô tô do nước ngoài viện trợ là không có căn cứ.

Về nội dung tố' cáo hành vi lập quỹ trái phép, tham ô và cố ý làm trái trong việc xây dựng cơ bản... thì tôi cũng đã giải trình rấ't cụ thể qua 23 hạng mục, trong đó có nhiều hạng mục đang thi công, chưa có quyết toán.

Việc quản lý và sử dụng, chi tiêu tài chính, chuyển séc, lập tài khoản tại ngân hàng cũng được tôi giải trình rành mạch. Tôi thấy tất cả việc làm trên được thực hiện đúng quy định. Hiện nay, năng suất và chất lượng sản phẩm của Xưởng ngày càng được nâng lên và có phần đóng góp tích cực cho xã hội. Riêng mặt hàng vợt bóng bàn đã được xuất khẩu ra nhiều nước trên thế' giới và thu về cho ngân sách nhiều ngoại tệ.

Việc tuyển dụng người thì tôi thấy những người thợ được tuyển vào đã làm việc tích cực, dù xuất thân là thế' này thế' nọ nhưng khi vào đơn vị tôi đều trở thành những người thợ cần cù, sáng tạo. Có một số' người vừa đi tù về nhưng họ làm việc thực sự có kỷ luật, có năng suất, chất lượng. Chính họ đã góp phần quan trọng trong việc mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và được xuất khẩu ra nhiều quốc gia, đưa ngoại tệ về cho đất nước. Họ là những người lao động đáng được biểu dương sao các nhà chức trách cứ bắt bẻ rằng, những người này mới đi tù về, bị kỷ luật này nọ để khép tội làm trái cho tôi. Mặt khác, việc tuyển dụng công nhân viên đã được bàn bạc, thống nhất trong tập thể. Còn hai trường hợp nhạc sĩ Phan Lạc Hoa, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ thì họ đã có những đóng góp nhất định cho Xưởng, cho Tổng cục Đường sắt Việt Nam và cho toàn xã hội.

Việc tuyển các cầu thủ bóng đá là các hàng binh như cầu thủ Sa Mát (người Phi), Diop (người Pháp gôc Phi) và Blayca (người Áo), hoặc Vũ Quang Minh đá bóng cho Câu lạc bộ Bảo chính đoàn miền Bắc (đội bóng đá Ngụy, sau đó đá cho đội Công an Hải Phòng) thì đã được báo cáo và lãnh đạo Tổng cục đã cho phép. Đây là các cầu thủ giỏi và tự nguyện vào đá cho đội Đường sắt. Thực tê' họ đã vượt qua những mặc cảm để vươn lên thành những cầu thủ bóng đá xuất sắc. Thử nhìn lại xem, chưa có người nào trong sô' chúng tôi tuyển dụng cô' ý chây ỳ, vô kỷ luật. Như vậy, họ thật sự là người có ích cho đơn vị, cho xã hội, đúng không nào. Điều ấy, thể hiện lòng nhân hậu, sự bao dung của chê' độ ta như Bác Hồ đã dạy. Ông cha ta đã từng nói đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại. Với những người giỏi, người tài cần phải động viên và tôn trọng họ. Thế mà, Thanh tra lại cho đó là việc làm vi pháp luật. Điều đáng cay nghiệt là đơn tô' cáo đã đưa ra những chi tiêt hoàn toàn suy diễn, không có thực nhằm làm cho người nghe thấy tính chất nghiêm trọng của vẫn đề tuyển người, như tuyển cả những người gián điệp.

Tôi đã giải trình rất cụ thể, vừa có lý, vừa có tình với các đoàn thanh tra. Chẳng hiểu sao, họ vẫn vặn vẹo, cật vân đủ điều để rồi không châp nhận lời giải trình của tôi. Ngày nào họ cũng yêu cầu tôi có mặt để giải trình tiếp. Có lúc bực quá tôi nghĩ: Sao những lúc đơn vị gặp khó khăn, công nhân không đủ công ăn việc làm, đời sống người lao động cơ cực thì chẳng ma nào xuống thăm. Bây giờ, đơn vị bắt đầu làm ăn phát triển, công nhân phân khởi, làm việc hăng say, năng suât lao động không ngừng nâng cao thì đoàn thanh tra vào kiểm tra, rồi Cơ quan điều tra vào cuộc."

Chẳng ai ngờ tới, đoạn đời tăm tối nhât của Tạ Đình Đề, sẽ diễn ra như thế' nào với một nhân vật huyền thoại trong kháng chiến chống Pháp, một con người trong không ít câu chuyện gắn liền với Bác Hồ kính yêu của chúng ta? Ấy là cánh cửa nhà tù không ở xa ông ây bao nhiêu nữa...

Ông kể: "Tôi có linh tính là mình sẽ bị bắt trong một ngày gần đây. Có hôm đi làm về, trời xâm xẩm tối. Đường phố đã lên đèn. Tôi vừa vào đến cổng nhà thì nhà tôi từ trong nói với ra: Sao hôm nay về muộn vậy anh? Tôi cố' giâu đi những cuộc cật vân căng thẳng xảy ra cả ngày, chỉ trả lời cốt sao cho nhà tôi đỡ lo lắng vì tôi rằng, hôm nay nhiều việc quá. Tôi ngồi xuống bàn châm lửa "bắn" thuốc lào. Bà Thọ đứng cạnh, nhìn tôi lo lắng. Đã lâu lắm rồi, ngày nào tôi cũng đều về nhà muộn. Nhìn khóe mắt rưng rưng của vợ, tôi biết bà ây muốn hỏi chuyện của tôi. Đôi mắt đong đầy sự yêu thương, lo lắng của người vợ thảo hiền, thủy chung. Đúng như suy nghĩ của tôi, bà ấy hỏi: Nghe người ta tung tin anh sắp bị bắt. Em lo quá anh ạ. Không hiểu có việc gì nguy hiểm không anh?

Nghe trọn lời vợ hỏi, tôi thấy thật chạnh lòng. Thế' là chuyện tố cáo mình ngày càng phức tạp thêm. Lúc đầu, tôi chỉ nghĩ đơn giản, đây là khúc mắc của một số' người trong đơn vị chỉ vì kèn cựa địa vị, tham lam quyền lực thôi. Nào ngờ, vụ việc ngày càng được đẩy lên quá nghiêm trọng.

Nghĩ vậy, tôi nói với bà Thọ: "Mấy hôm nay anh đã giải trình cụ thể với cơ quan thanh tra và điều tra rồi. Thế mà, họ cứ bới lông tìm vết. Trong khi những thành tích cơ bản của đơn vị anh thì họ chẳng ghi nhận chút nào. Anh nghĩ, phải chăng tội của mình là quá quan tâm đến công nhân, muốn tìm cách giảm bớt sự vất vả của anh em. Không nhẽ việc áp dụng cơ chế' khoán sản phẩm đến người lao động, thưởng cho ai có năng suất cao, tạo sự phấn khởi hăng say trong công nhân... là có tội chăng? Người ta đổ hết tội lỗi lên đầu mình mà không thấy sự vất vả, gian nan của đơn vị trong điều kiện bao cấp hiện nay. Họ không thấy mình phải dậy sớm, thức khuya để lo cho sản xuất kinh doanh của đơn vị và đời sống của anh em người thợ. Nhưng, thôi em ạ, anh nghĩ ông trời có mắt như ông bà mình dạy. Trước sau rồi người ta cũng nhận ra cái đúng của mình, trả lại công bằng cho người vô tội. Em cứ yên tâm. Em hãy cứ tin anh."

Chuyện của ông cho tôi một hình dung về tình cảnh của Tạ Đình Đề lúc ây. Nói là nói vậy thôi, nhưng lúc đó lòng ông cũng xót xa tan nát lắm rồi. Dẫu ông vẫn từ tốn giải thích cho bà Thọ biết việc mình bị tố' cáo và đang bị thanh tra.

Ông kể: "Nhìn ba đứa con đang vô tư đùa nghịch với nhau tôi thây thương chúng nó quá chừng và suy nghĩ mung lung: Nhỡ mình có bị việc gì nghiêm trọng thì chúng nó cũng sẽ bị hệ lụy theo, trước mắt là cuộc sống sẽ khó khăn vô cùng. Tôi kín đáo ngắm nhìn mây đứa con. Thằng con trai, sinh viên Đại học Bách khoa đang hồn nhiên vui đùa với các em của nó. Sinh viên rồi mà vẫn cứ hồn nhiên như trẻ nhỏ. Nếu mình bị bắt nó có làm sao không nhỉ? Người cha "gặp hạn" đưa ra dự đoán những điều bât hạnh đang rình rập con mình! Thằng thứ hai đang học câp 3, không hiểu bố' bị bắt nó còn theo học được không? Đứa con gái thứ ba mới hai tuổi, cục cưng của vợ chồng mình, không hiểu vắng hơi âm bố' nó có quây quá mẹ không? Lại thêm một câu hỏi nữa làm đầu tôi trĩu nặng, con tim nhói đau, sống lưng lạnh toát.

Ôi, những đứa con! Chúng nó vẫn vô tư nô đùa như chẳng có việc gì. Chúng nó làm sao biết được chuyện của bố' mình. Thỉnh thoảng, mấy anh em nó lại nhìn về phía bố' mẹ cười tít mắt. Chúng đâu có biết, vòng lao lý đang sắp thít chặt buộc đời của bố' mình. Cánh cổng nhà tù đang chờ đợi bố' nó. Không còn bao lâu nữa, chúng sẽ vắng bóng bố tại ngôi nhà ấm cúng này. Không hiểu chúng nó sẽ ra sao, có còn hồn nhiên vui đùa nữa không khi thiếu vắng bóng dáng, hơi hướm, tiếng nói của cha. Vợ con tôi sẽ trụ vững được không khi cuộc sống đang bộn bề gian khó? Ôi những đưa con vô cùng yêu quý và người vợ vô cùng thảo hiền của tôi, chúng ta sắp phải xa nhau rồi".

Ông kể, giọng nghèn nghẹn: "Trời về đêm. Mấy đứa con tôi theo nhau ngủ ngon lành. Ngồi bên vợ, đến nước này cũng phải nói thật với cô vợ thảo hiền mà tôi rất mực yêu thương, giọng nhỏ nhẹ: Sắp tới, nếu anh có bị bắt, chắc cũng vài tháng thôi, em ở nhà cố' lo toan cho các con học hành nhé. Mẹ con em chẳng phải lo cho anh đâu. Nhìn ba đứa con đang ngủ say, bà Thọ sụt sùi. Tôi lấy ống tay áo lau nước mắt cho vợ. Bà nhìn tôi, giọng lo lắng: Sao anh biết chỉ bị giam hai tháng? Em nghe người ta đồn, tội của anh nặng lắm cơ mà. Có người còn cố' ý đánh tiếng cho em biết là anh có thể bị tù mọt gông. Em lo quá. Con còn nhỏ, thời buổi khó khăn, đói kém thế này, không hiểu vắng anh thì mẹ con em chèo chống thế' nào đây. Tôi nhìn vợ, cố' giữ bình tĩnh: Em yên tâm. Việc làm của anh đều báo cáo với lãnh đạo Tổng cục Đường sắt và lãnh đạo Bộ rồi. Đến bây giờ, các ông lãnh đạo vẫn ủng hộ việc làm của anh cả mà. Em hãy tin sự thật của anh sẽ được làm sáng tỏ... Nghe tôi nói, bà Thọ mềm giọng: Người ta đang đồn ầm lên là cung cách quản lý sản xuât của anh trái với nguyên tắc. Việc anh áp dụng khoán sản phẩm và thưởng cho công nhân cũng trái quy định của Nhà nước. Việc tuyển người vào đơn vị cũng vậy, không đúng quy định nốt, rồi có cả tham ô, hối lộ. Hôm vừa rồi, thây nhiều công an vào khám xét Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt, em lo quá. Những lời đồn thổi của người ta làm em sợ lắm.

Tôi biết bà Thọ đang rât lo lắng cho mình trước những lời đồn đại ác độc của người đời. Tôi nhìn vợ, bình tĩnh giải thích: Anh đã kiểm tra cẩn thận và thây những việc làm của mình trong thời gian qua là xuât phát từ lợi ích của đơn vị, vì lợi ích thiết thân của anh em công nhân. Việc khám xét của lực lượng cảnh sát vừa rồi là họ nghi Xưởng dụng cụ cao su chứa hàng lậu. Nhưng kết quả khám xét không có gì càng chứng minh sự tố' cáo của kẻ xâu là vu khống độc địa. Còn việc đơn vị anh đi xin máy móc thanh lý đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đồng ý. Các khoản thu chi đã được kê' toán thực hiện nghiêm túc, minh bạch. Còn họ tô' cáo anh tham ô trong xây dựng cơ bản thì không có căn cứ. Bởi vì, công việc xây dựng cơ bản chưa hoàn thành và chưa được quyêt toán thì làm sao kêt luận là thất thoát, tham ô được. Em là người hiểu anh hơn ai hêt. Là người chồng mà anh có lo nổi nhà cửa cho mẹ con em đâu. Ngôi nhà này, các vật dụng trong căn nhà này là của bô' mẹ em để lại. Nhìn ngôi nhà anh càng cảm ơn em, cảm ơn bô mẹ em bao nhiêu thì càng uất ức bấy nhiêu về những điều họ bịa đặt vu cáo cho anh.

Trời đã về' khuya, gió đông cuối năm cứ hú lên từng cơn nghe rợn cả người. Tôi nói tiêp với vợ: Anh là người xuất thân từ ruộng đồng nên rất ghét đói nghèo và vì thê' rất thông cảm, thấu hiểu hoàn cảnh khó khăn của anh em công nhân. Làm người lãnh đạo mà để công nhân đói nghèo là có tội với họ. Vì thê, là người đứng mũi chịu sào, anh phải lo lắng sắp xêp công ăn việc làm cho anh em và động viên họ hăng hái sản xuất bằng cả tinh thần và vật chất. Chả nhẽ, như thê' là có tội. Từ khi theo Cách mạng, theo Đảng, theo Bác Hồ, anh được cấp trên dạy rằng, không được dôi trá, làm bậy, không được lấy của công đưa về làm của tư. Anh nghĩ, mình vẫn giữ được bản chất "Anh bộ đội Cụ Hồ", anh không có tội như người ta vu cáo. Anh vẫn có niềm

tin sắt đá răng việc làm của mình là đúng đắn".

Kể tới đây, Tạ Đình Đề nhìn qua tôi, nở một nụ cười thoang thoảng. Ông tiếp tục dòng hồi ức đượm buồn: "Đồng chí biết không, lúc đó, bà Thọ nhìn tôi, nhẹ nhàng hiến kế: Em biết anh có rất nhiều bạn bè, trong đó có người giữ trọng trách lớn. Hay là, còn nước còn tát, ta nên đi gặp họ để xin lời khuyên nên làm thế nào trong trường hợp này. Anh mà bị bắt giam thì gia đình mình tan nát mất. Tôi xua tay lắc đầu: Bây giờ mà nhờ vả bạn bè thì sẽ rất phiền muộn. Người ta cố ý đặt điều như vậy và các cơ quan chức năng đã vào cuộc rồi thì khó có thể xoay chuyển tình thế được. Từ khi là người lính cho đến bây giờ, đứng trước những khó khăn thách thức, anh luôn tự vận động băng ý chí và nghị lực của mình. Anh không muốn lợi dụng ô che nào cả. Anh tin chắc, việc làm của anh là chính đáng, là lẽ phải. Ngày hôm nay có thể họ cho việc làm của anh sai, nhưng nay mai chắc họ sẽ nhận thức lại, đúng đắn hơn. Anh chỉ cầu mong mẹ con em ở nhà thật khỏe, đủ sức chống chọi với những khó khăn đang ở phía trước.

Nghe tôi nói thế, bà Thọ khóc nức nở, nghẹn ngào: Sao số' phận gia đình mình lại cơ cực thế' này hả anh? Bao nhiêu năm anh phấn đấu cho Cách mạng, cho tập thể mà bây giờ lại đến nông nỗi này chăng. Mẹ con em có bao giờ hy vọng, trông chờ anh sẽ đem lại giàu sang cho gia đình mình đâu ngoài mây đồng lương ít ỏi hàng tháng. Khổ cho anh, gần hế't cuộc đời theo Đảng, theo Bác Hồ, một lòng vì Nước, vì tập thể, chỉ làm điều lành, điều tốt cho đời mà nay lại bị người ta tố cáo một cách oan uổng thế' này. Bà Thọ khóc sướt mướt, tôi dỗ mây cũng không nín. Tôi có may mắn lây được người vợ thảo hiền, biết hy sinh cho chồng con, quý trên nhường dưới. Thế' mà bây giờ, tôi đã gieo tai họa cho vợ con. Nghĩ vậy, tôi cảm thây mình có lỗi lớn với họ lắm. Đêm đã về sáng. Tiếng tàu điện leng keng ngoài phố' làm tôi giật mình, đêm qua đã là một đêm trắng".

Ông cúi đầu, trầm tư. Hẳn cái đêm trắng xa xưa ây vẫn còn hằn sâu, chạm đến tột cùng của đau khổ, như một nỗi ám ảnh chưa xóa được trong tâm trí Tạ Đình Đề. Sóng gió bâ't chợt ập đến tổ âm của ông, mau lẹ và phũ phàng như một cơn lốc lớn của cuộc đời. Cứng rắn và từng trải như ông mà còn cảm thây nao lòng huống hồ là một người phụ nữ đôn hậu như vợ ông. Quả thật, cuộc đời con người ta không thể nào lường hết mọi khúc nhôi, đường đoạn.

Pha chút ngậm ngùi, ông kể tiếp câu chuyện dở dang: "Đêm ây, tôi không chợp mắt được chút nào. Chờ cho vợ và các con ngủ yên, tôi lặng lẽ đi chuẩn bị những việc cần thiết cho trường hợp xâu nhất có thể xảy ra. Quần áo, sách vở, ảnh lưu niệm được gói kỹ.

Sáng hôm sau, ngày 27-11-1974, tôi đến cơ quan làm việc bình thường như mọi ngày. Vừa đến công sở đã thấy mấy anh công an chờ sẵn. Tim tôi đập thình thịch, sống lưng lạnh buốt, nhói đau. Mắt tôi hoa lên cứ như nhìn nhầm. Cùng lúc đó, nhà chức trách đến đọc lệnh bắt giam tôi. Cùng bị bắt với tôi còn có: Nguyễn Văn Luật, Đội phó Đội kiến thiết cơ bản; Nguyễn Văn Tý, Kế' toán Đội kiến thiết cơ bản; Nguyễn Văn Thơ, cán bộ tiếp liệu; Phạm Văn Ngọc, cán bộ thiết bị toàn bộ; Lê Phong, Kế' toán kiêm thủ quỹ Ban Thể dục thể thao...

Tiếp đó, tôi được dẫn giải đến các nơi cần khám xét như phòng làm việc và nơi ở. Khi đi qua sân xí nghiệp để lên xe về trại giam, tôi thấy nhiều anh chị em công nhân ra vẫy tay, tạm biệt. Nhiều người sụt sùi, mắt ngấn lệ. Trong đó tôi nhận ra Lưu Quang Vũ, hai mắt đỏ hoe, vừa khóc, vừa giơ tay vẫy vẫy. Tôi nhìn anh em cũng giơ cao tay vẫy từ biệt những đồng nghiệp thân yêu của mình. Nhìn anh em, mắt người nào cũng đỏ hoe, lệ nhòa, tôi tự hỏi: Không ngờ, lo việc làm và đời sống cho những con người đáng thương, đáng quý này mà lại trở thành tội và bị bắt giam ư...?"

Đôi mắt ông ngấn lệ, đỏ hoe, nhìn xa xăm. Câu chuyện về thời xa xưa vẫn làm ông xúc động. Tôi rót đưa ông một chén trà nóng, an ủi dù biết là thừa: "Thôi, dẫu sao thì mọi chuyện đã qua rồi ông ạ!". "Biết thế, vẫn biết thế, nhưng khi nghĩ đến cuộc đời cơ cực của người thợ chưa được cải thiện bao nhiêu, họ dành cho tôi những tình cảm vô bờ ây trước khi vào nhà giam, lòng tôi quặn đau, không cầm được nước mắt". Tạ Đình Đề rưng rưng nói.


Năm

Ngồi tù mơ về bến đậu bình yên

ua câu chuyện kể của các con ông, tôi thấy Tạ Đình Đề là người thương yêu

vợ con nhất mực. Xem lá đơn xin cứu xét của bà Thọ gửi các cơ quan pháp luật tôi cảm nhận tình cảm vợ chồng của bà Thọ thật sâu nặng, nghĩa tình. Trong giông tố' cuộc đời, họ vẫn luôn hướng về nhau với tình yêu thương đằm thắm và trách nhiệm cao cả.

Mạch hồi ức của ông tiếp tục khơi chảy: "Trong thời gian tạm giam, tôi đã nhiều lần bị hỏi cung và đã trả lời rành mạch những câu hỏi do cán bộ điều tra đặt ra. Các nội dung mà Cơ quan điều tra yêu cầu tôi giải trình cũng
tương tự như cơ quan thanh tra yêu cầu trước đây. Đó là: Tổ chức móc ngoặc, chiêm dụng thiê't bị máy móc của Nhà nước đem về sử dụng lung tung; phá lẻ thiê't bị toàn bộ nhà máy đắp lôp ô tô do nước ngoài viện trợ; sử dụng vôn kinh doanh sai với chính sách, chê' độ; lập quỹ trái phép; tổ chức làm ăn phi pháp và tham ô... Thời gian dài tôi mệt mỏi vì cách hỏi cung cứ lặp đi lặp lại mãi về những việc mà tôi cho rằng đã trả lời rõ ràng. Có hôm thấy tôi mệt nhoài, có người bảo tôi: Chỉ cần nhận tội là họ khép cung, chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát để truy tô' ra trước tòa. Được ra tòa càng nhanh càng tôt, nhưng nhận làm sao được cơ chứ! Khai nhận để rồi hôi hận cả đời à? Thê' rồi những lần hỏi sau đó, tôi lại khai như cũ, chẳng muôn nghĩ gì cho mệt đầu óc. Đi cung xong, tôi dành những suy tưởng của mình cho vợ con, cho đồng đội năm xưa và đồng nghiệp hiện giờ tại Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt.

Nằm trong bôn bức tường kín mít, tôi càng nhớ vợ con, nhớ đồng đội, đồng nghiệp thân yêu của mình. Có lẽ, trong khi trông vắng, cô đơn, con người ta càng nhớ về quá khứ và người thân nhiều hơn thì phải. Nhiều lúc tôi không buồn ăn uống, ngủ nghỉ mà dành trọn thời gian cho người thân. Cứ môi lần nhớ về người thân, tôi có cảm giác nôi trông vắng được vơi đi, lòng tin tưởng vào sự tôt đẹp của con người được đầy thêm. Chính điều đó


đã tiếp thêm năng lượng cho tôi trong những ngày căng thẳng ây.

Có hôm trời rét như cắt, đi cung về người tôi mệt nhoài. Nằm co ro trong phòng, bât chợt tôi nhớ lại thời kỳ mình là chiến sĩ biệt động. Đó là những lần cùng các chiến sĩ trong Đội biệt động thành Hà Nội ngụy trang khéo léo vào nội thành lây tin tức tình báo rồi khẩn trương chuyển ra ngoài. Những lần chiến đâu tại dốc Đẹt của đoàn quân Tây Tiến mà tôi và tướng Hoàng Sâm cùng đồng đội đã cản bước quân Pháp trên Đường số' 6 đang tiến vào Mai Châu... Chao ôi. Hình ảnh của các đồng đội cách đây hơn ba mươi năm trời mà vẫn tươi rói, tinh khôi. Những hình ảnh đẹp ây sẽ mãi mãi theo suốt cuộc đời tôi như là chô dựa tinh thần, nhât là trong những lúc oan trái và trống vắng, cô đơn này.

Nhớ đồng đội chưa nguôi thì lại xen vào nôi nhớ vợ con, bùng lên da diết. Có hôm tôi nằm mơ thây được về nhà gặp vợ con, khi tỉnh dậy cứ bàng hoàng tiếc nuối khôn nguôi. Tôi nghĩ: Mình mới vào trại được gần một năm mà cứ ngỡ kéo dài hơn chục năm trời. Lời xưa nói thật không sai, nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại. Tôi cứ vân vi tự hỏi: Không hiểu giờ này, vợ mình đang làm gì

_ 1                     ?0 ÍTI \ •                         _ • /       / I ,1_ Ạ' \     ,1 A’ , ___   _ ^    Ạ'               1                 \ A'            ~

nhỉ? Trời giá rét thế này, thể trạng gầy yếu, bà ây sẽ chống chọi ra sao? Các con của tôi có chơi ngoan và học giỏi không? Tôi thầm nhắn với chúng: Các con ơi. Mẹ các con đã khổ đau, héo hắt vì bố' nhiều lắm rồi. Các con hảy ngoan ngoãn để đỡ phần vât vả cho mẹ nhé!

Nghĩ xa nghĩ gần, nghĩ lui nghĩ tới càng thương vợ, nhớ con hơn. Vô tình, tôi trở thành gánh nặng và hệ lụy của cả gia đình. Bao nhiêu rủi ro, bât hạnh đã đè lên đôi vai bé nhỏ của vợ mình. Mình là người trụ cột gia đình đã bị bắt, bỏ lại người vợ hiền từ, chân mộc và ba đứa con thơ ngây. Cuộc sống gia đình bị đảo lộn tâ't cả. Cái nghèo về' vật chât chắc ai cũng trông thây nhưng nỗi tủi nhục hẳn chỉ mình bà Thọ mới thâu hiểu. Gần hết cuộc đời mà vợ chồng chưa được chút nhàn hạ. Vât vả, long đong, kể mây cũng không hết. Lúc nào, vợ mình cũng hớt ha hớt hải vì chồng con. Chỉ những ai sống trong thời đoạn đầy khó khăn ây mới thâu hiểu hết nỗi vât vả gian truân của người phụ nữ. Nhât là đối với người như bà ây. Một người phụ nữ "lá ngọc cành vàng" đài các, gốc Hà thành mà vì chồng con phải chịu đựng hết vât vả này đến khổ đau khác. Trong tình cảnh éo le trắc tréo này, cô ây vừa làm mẹ vừa làm cha, vừa lo việc nhà, vừa lo việc cơ quan, lại còn chịu đựng những búa rìu của dư luận và đối xử ghẻ lạnh của người đời: Có chồng bị coi là tham ô. Đằng sau những lời ác độc, là những kẻ vu oan, giá họa, ném đá dâu tay..."

Sau này, Tạ Đình Đề đã nghe bà Thọ kể lại những ngày tăm tối ây. Theo lời kể của ông, tôi hình dung ra cảnh xuôi ngược bươn trải để lo toan công việc gia đình của bà Thọ lúc đó như thế' nào.

Tạ Đình Đề bị bắt. Hàng tháng, gia đình được phép mang thức ăn đến phòng trực ban của Cơ quan điều tra

.46’ _ ’ • A- -ô-' 1 • Ạ' _               1      Ạ' «    1     _      y          __         _              Ạ                • ÍT!     /                             _            A-           L                 _                            \                            1                            _                            \                                                         rn|

để gửi đo tiếp tế thăm nuôi. Trước đó mấy ngày, bà Thọ phải chạy ngược, chạy xuôi, vừa bế' con, vừa xếp hàng mua thực phẩm về chế biên. Thường thì bà chuẩn bị các món tiếp tế' cho chồng khá cầu kỳ. Thức ăn dùng ngay thì có miến xào, thịt bò xào hành. Thức ăn khô thì có muối vừng, ớt khô, ruốc thịt, lạc rang... Ngày gần tết có thêm bánh chưng xanh. Tất nhiên là bà không quên mang theo những gói thuốc lào Vĩnh Bảo nổi tiếng thời bấy giờ cho ông. Đây là thời buổi rất khó khăn nên bà đã dồn gần hết lương tháng của mình mua thức ăn tiếp tế' cho chồng. Bà Thọ vừa chuẩn bị thức ăn gửi vào cho chồng vừa nghĩ: Dù cả nhà phải ăn rau với muối cũng nhất quyết không được để chồng mình bị đói khổ trong trại giam. Với những món ăn này, sắp tới chồng mình sẽ được ngon miệng đây. Nghĩ vậy, bà cảm thấy con tim mình xao xuyến niềm hạnh phúc vô biên. Bà chuẩn bị được món nào thì xếp lên bàn cho khô ráo để mang đi. Mấy thằng con ăn uống kham khổ lâu ngày, nhìn thức ăn ngon cứ thèm nhỏ cả nước dãi. Bà nhìn thằng Hùng, thằng Tiến tranh nhau mấy hạt lạc rang mà lòng như có muối xát. Thương chúng nó quá! Lúc bố' chưa bị bắt giam thì tiêu chuẩn tem phiếu của ông bà chủ yếu dành cho các con. Ông bà chỉ rau dưa đưa đẩy cho qua ngày đoạn tháng. Bây giờ, ông bị tạm giam, chỉ còn tem phiếu tiêu chuẩn của bà nên phải ưu tiên thực phẩm cho ông. Nhìn hai thăng con trai đang tuổi ăn, tuổi ngủ, bà rơm rớm nước mắt nhưng cũng nhẹ nhàng bảo: "Các con này. Bố' ở trong trại giam thiếu đủ thứ. Bố' tuổi đã cao, sức khỏe ngày càng yếu. Các con phải thương yêu bố', ưu tiên cho bố' thì bố' mới khỏe để chóng về với các con chứ. Lúc nào bố' được ra, mẹ sẽ mua thật nhiều thức ăn cho các con nhé!"

Mấy thăng con nghe mẹ nhắc đến bố sắp về là vui rồi và không tranh nhau lạc rang nữa. Sau đó, thăng Tiến lấy xe đạp lai mẹ đến Trực ban Cơ quan điều tra. Lần này bà nộp đơn xin phép vào thăm ông Đề. Bà cũng không nhớ đây là lần nộp đơn xin gặp chồng thứ bao nhiêu nữa mà vẫn chưa được đáp ứng. Nhưng bà vẫn cứ nộp đơn và hy vọng, đợi chờ...

Giáp tết năm 1975, sau một năm bị tạm giam, Tạ Đình Đề được gặp gia đình. Tạ Đình Đề nhớ lại: "Những ngày cuối năm, trời rét đậm. Người tôi vốn đã gầy, phần do kém ngủ, lo lắng nhiều nên sức khỏe giảm sút vì thế' có cảm giác rét buốt hơn. Năm nghe tiếng pháo Tết nổ giòn tan ngoài trại, tôi biết mùa xuân đang đến gần. Chắc bây giờ mẹ con bà Thọ đang bận bịu chuẩn bị Tết. Tôi nhớ những ngày năm hết, têt đên như thê' này gia đình mình cũng khá bận rộn. Nằm trong trại giam, đêm khuya thanh vắng, tôi liên tưởng đên những âm thanh quen thuộc thủa nào: Tiếng xích lô lóc cóc xen lẫn tiêng tàu điện leng keng. Ngồi trong bôn bức tường kín mít này, nghe những âm thanh quen thuộc đó, tựa hồ như tiêng gọi của sự sông. Ngày têt càng đên gần, nôi nhớ gia đình trong tôi càng nôn nao.

Tôi còn nhớ, đêm 27 tháng Chạp, giáp tê't năm 1975, tôi phải gồng mình chông chọi với cái rét như cắt da, cắt thịt. Gần sáng vẫn không ngủ được, bấm tay nhẩm tính thời gian: Đã hơn một năm nay, kể từ ngày bị bắt, tôi chưa được gặp mặt vợ con lần nào. Tôi nhìn ra ô cửa sắt trên cao, mưa bụi bay mờ mờ. Lọng dạ tôi xôn xang. Con tim tôi bồn chồn, cứ đứng lên, ngồi xuông không yên. Sáng dậy, đúng lúc buồn nhớ nhà nhất thì tôi nhận được tin, sáng nay vợ và con được phép vào thăm tôi. Con tim tôi xôn sang vui như têt. Nhưng có lẽ không có gì hạnh phúc hơn thê' nữa. Tôi coi đây như một kỷ niệm sâu sắc nhất của cuộc đời.

Tôi sửa sang áo xông cho gọn gàng. Dù sao mình cũng từng là người lính mà. Ngoài bộ quần áo của trại, tôi khoác thêm chiêc áo bông mà bà Thọ đã gửi vào tháng trước. Khi đên phòng tiêp, tôi cô' gắng giấu đi những cảm xúc nhiều chiều đang dâng lên trong mình và cô tỏ ra sức khỏe đang bình thường. Tôi đi nhanh nhẹn hơn. Cười to hơn. Những cái nắm tay chặt hơn. Nhưng tôi cứ váng vâp nỗi lo ngại, làm sao giâu được sự teo tóp gầy ốm của thân hình, da mặt thì tai tái nhợt nhạt, bước đi cũng không vững. Đặc biệt, vế't thâm quầng tại mi mắt phải làm sao dâu nổi. Tôi đưa tay lên sờ vào vết thương đã được mười bốn ngày nhưng vẫn sưng tây, là dâu tích lối hành xử của bọn đầu gâu đây. Hôm đó, nhận được đồ tiếp tế' của người nhà, đang mở thức ăn ra kiểm tra thì bị thằng đầu gâu, gã lưu manh chuyên nghiệp đã dùng tay đâm mạnh vào mắt mình và nói: Lão già ăn một mình hả. Tôi hoa cả mắt, nằm lăn ra tưởng chết vì quả đâm quá mạnh và bât ngờ. Khi tỉnh dậy, gói thức ăn mà người nhà gửi vào đã sạch như chùi...

Ngày ra gặp vợ con như một giâc mơ, tưởng như mình sống lại. Bà Thọ vừa nhìn thây tôi đã bật òa khóc. Con bé Hiền Hương cũng sợ hãi khóc thét theo mẹ. Bà Thọ trao bé Hiền Hương cho tôi bế. Bà nắn vai tôi rồi lại khóc to hơn. Tiếng nâc nghẹn ngào làm người bà run lên bần bật. Bà đưa tay lên xoa vế't thương còn sưng tây ở mi mắt và nói: Sao nông nỗi này, mình bị đánh hả? Rét mướt thế này mà không giữ âm cổ thì viêm phổi chết mât. Tôi nhìn bà cũng rưng rưng, lắc đầu. Tôi quay sang ngắm mặt bé Hiền Hương để tránh ánh mắt bà Thọ và nghĩ: Nếu nói bọn đầu gâu tranh ăn rồi đánh vào mắt sẽ làm bà càng đau đớn, lo sợ cho mình. Nghĩ vậy, tôi đánh nói dối. Có lẽ đây là câu nói dối đầu tiên với vợ mình: Không. Anh bị trượt ngã. Tôi cố' giấu đi sự việc bị đánh nhưng có lẽ không thể giấu được cách nhìn từng trải của bà. Bà vừa khóc, vừa đưa tay giật chiếc khăn đang quàng trên cổ mình quàng lên cho tôi. Bà lấy tay xoa lên vết thương. Em thương mình lắm. Mình cố ăn đi nhé. Mình gầy lắm rồi. Bà vừa nấc, vừa nói trong nghẹn ngào, khổ đau. Tiếp đó, bà Thọ kể chuyện nhà cho tôi nghe. Câu chuyện bị đứt quãng bỡi tiếng nấc vừa nghẹn ngào vừa uất hận của bà...

Hai thăng con trai của tôi, Hùng và Tiến thì vừa ôm chầm lấy bố' vừa sợ hãi ngó nhìn khắp căn phòng. Tôi xoa đầu và ôm mấy đứa con vào lòng để nó bớt sợ hãi. Bỗng tất cả chúng nó cũng khóc theo mẹ như nhà có đám ma. Tiếng khóc của mấy mẹ con vang lên thống thiết trong phòng tiếp. Nhìn thân hình mảnh khảnh, nước da xanh xao, đôi mắt ngấn lệ, trũng sâu của vợ mới thấy hết những vất vả, gian truân, cơ cực mà bà ấy đang gánh vác. Càng nghĩ, càng thương vợ vô cùng. Tôi vuốt ve lên đầu, lên vai các con, nói: Mẹ các con dạo này xanh xao và gầy lắm. Các con ở nhà nhớ thật ngoan nhé, đỡ đần công việc giúp mẹ với. Các con ngoan thì bố' mẹ mới vui và khỏe mạnh chứ. Thăng Tiến cứ vuốt râu tôi. Mấy hôm nay trời hanh heo, rét buốt nên tôi không buồn cạo râu nữa, được thể nó mọc càng nhanh. Bỗng thằng Hùng hỏi: Bố' mệt lắm không? Tôi ôm chặt nó và nói như muốn xua đi sự lo lắng đang đè nặng gian phòng: Bố khỏe con ạ!

Bà Thọ định nói với tôi một điều gì mà không hiểu sao cứ ấp a ấp úng. Chắc là tin quan trọng đây. Có lẽ bà sợ tôi buồn. Bởi vì, hơn một năm nay chúng tôi mới gặp nhau mà. Cuối cùng, bà cũng nói ra cho tôi nghe cái tin như sét đánh. Thằng Hùng đang là sinh viên năm thứ hai Trường Đại học Bách khoa thế' mà, vừa rồi đã bị đuổi học. Thằng Hùng nghe vậy, nhìn xa xăm, cố' che đi những giọt nước mắt đang lăn dài trên gò má. Vợ chồng tôi nghẹn ngào, không nói thêm được câu gì nữa. Nghe vợ nói và nước mắt Hùng giàn dụa, tôi chợt thấy ân hận vô cùng. Thế' là, việc làm của mình đã hệ lụy tới con cái. Tội nghiệp chúng quá!

Tôi nhìn thấy quà của mẹ con mang vào tiếp tế' lần này khá nhiều. Nào bánh chưng, kẹo, mứt, giò, nem... Nhìn đồ tiếp tế, tôi thầm nghĩ, món này chỉ làm béo cho bọn đầu gấu, lưu manh thôi. Tôi nói như cố' giấu đi nạn đầu gấu ăn chặn trong trại giam và động viên mẹ con bà Thọ: Sao mẹ con mang vào nhiều thế' này? Để ở nhà cho các con và mình ăn chứ. Trong này, cán bộ cũng chuẩn bị Tết đàng hoàng lắm. Bà Thọ nhìn tôi với đôi mắt mọng đầy nhạt nhòa, đỏ hoe: Mình cố' ăn đi. Ăn đi cho khỏe. Mọi việc ở nhà đã có em lo. Mình dạo này

A'                 a' 1 W                            1-1                                   \       1           1                            1 A         w             1 \  1                    A'|        a',             4- A'

gay yếu lăm. Em sợ mình không ăn là chết mất đấy mình ơi. Mình còn phải sống để về với mẹ con em chứ. Sao tai vạ lại đổ lên nhà mình khủng khiếp vậy hả mình? Thế rồi, bà gục đầu vào vai tôi khóc. Nước măt đầm đìa thấm ướt cả vai áo tôi...

Trong những giờ phút ấy, tôi như thấy lòng mình ấm lại. Tôi ao ước được sớm trở lại bến đậu bình yên của cuộc đời, được gặp bạn bè và những người thợ, được gặp vợ, gặp con và họ hàng thân thích, cả gia đình được sống bên nhau, sum họp dưới mái nhà bình yên, dù có vất vả gian lao bao nhiêu cũng chịu được. Chỉ lát nữa thôi, vợ con thân yêu lại về, tôi lại ngồi bó gối trong bốn bức tường nhà giam".

Nghe ông kể đến đây thì cả ông và tôi đều rưng rưng. Tôi hỏi ông, duyên cớ nào mà ông quen được gia đình bà Thọ, ông kể: "Trước khi khởi nghĩa năm 1945, tôi được gọi tập trung lên Hà Nội để tham gia Vệ quốc đoàn. Tôi được cấp trên phân công vào ở tại ngôi nhà số' 8 Hàng Ngang, Hà Nội. Tôi được cấp trên phổ biến, đây là nhà cụ Đặng Thị Huyên, một người tư sản nhưng rất yêu nước. Cụ Huyên sinh được 4 người con. Đó là: Đặng Thị Chăt, sau này định cư tại Pháp. Người thứ hai là Đặng Thị Thọ, sinh năm 1931. Người thứ 3 là Đặng Ngọc Lộc, sinh năm 1939, ông làm giáo viên và hiện đang ở thành phô' Hồ Chi Minh. Người thứ tư là Đặng Ngọc Long, sinh năm 1941, công tác tại Thư viện Quốc gia.

Nhà cụ Huyên còn có ông Đặng Nguyên Hồng, sinh năm 1931, là em con cậu bà Thọ. Sau này ông Hồng là sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.T)

Theo lời Tạ Đình Đề, tôi đã đên tìm gặp bác Đặng Nguyên Hồng. Về gia đình cụ Huyên, bác Hồng kể: "Năm 1940, cụ Huyên cho người bà con mượn nhà sô' 4 Hàng Vải để ở. Còn nơi ở của gia đình mình thì bà đã mua toàn bộ ngôi nhà sô' 8 Hàng Ngang cho gia đình sử dụng. Cụ ông là Đặng Đình Ứơc sức khỏe yêu và mất năm 1982, mọi việc trong gia đình đều do tay cụ bà Đặng Thị Huyên lo liệu. Ngôi nhà sô' 8 Hàng Ngang có chiều dài khoảng 40 mét. Phía mặt tiền rộng 5 mét, từ ngoài vào sâu khoảng 26 mét được xây thành 2 tầng. Phía ngoài, cụ Huyên bày vải vóc để bán. Phía trong nhà, cụ cho ông Trần Đức Tiên thuê làm trạm bưu điện tư. Phía sau dài 14 mét, nở hậu rộng 10 mét, được cụ Huyên cho xây 3 tầng. Giữa nhà trước và nhà sau có cái sân nhỏ. Đi qua sân, bên trái là nhà kho và cạnh đó có lôi đi vào khu bêp núc, nhà tắm. Phòng giữa dùng làm nơi tiêp khách được bô' trí một tủ chè, sập gụ, một bộ sa lông Tàu và treo nhiều hoành phi câu đôi. Bên trái phòng khách là phòng ăn, được bố trí một tủ buýt phê và một sập gụ để ngồi ăn cơm. Ngoài sân có một cầu thang xây bằng gạch. Tầng hai được bố trí làm nhiều phòng để ngủ và làm kho. Tầng 3 là sân thượng và nơi phơi phóng.

Nhà rộng thênh thang mà chỉ có hai cụ và bốn chị em ở nên cụ Huyên cho tôi và một số' cháu họ đến ở cho vui, tổng số' đến 9 người, có lúc đến 11 người. Lúc đầu, cụ Huyên bán các mặt hàng như vải vóc, gấm đoạn, nhiễu, sa tanh chủ yếu là hàng của Tàu. Về' sau có thêm mặt hàng vải của người Ấn Độ. Do có duyên buôn bán nên chẳng mây chốc gia đình cụ Huyên trở nên giàu có nhất nhì Hà Nội lúc bây giờ. Gia đình cụ Huyên là cơ sở Cách mạng."

Nghe bác Hồng kể, tôi biết Tạ Đình Đề vốn là trai làng quê, theo Cách mạng trở thành Vệ quốc đoàn. Thế' mà trời đã xe duyên cho ông được lây một cô gái Hà thành, sinh ra trong một gia đình giàu có nhât nhì đât Kẻ chợ này. Chắc chắn chàng trai ây phải có lực hút mạnh mẽ thế nào đó mới làm rung động trái tim tiểu thư đài các con nhà giàu như cô Đặng Thị Thọ. Tôi hỏi Tạ Đình Đề: "Ông làm sao mà cưa đổ được bà Thọ thế?"

Ông cười, giọng kể hào hứng hẳn: "Khi được phân công vào ở nhà cụ Huyên, chúng tôi thây suốt ngày cụ ở gian nhà ngoài, giáp với phố' Hàng Ngang để cùng người giúp việc nhập vải rồi xuât bán buôn. Chỉ đến tối cụ mới vào nhà trong. Phong cách, cử chỉ của cụ rất gia phong, nghiêm khắc. Nhìn đồ dùng và nếp sinh hoạt của mọi người trong nhà cũng đủ biết gia đình cụ thuộc hạng giàu có và rất sang trọng ở Hà Nội. Do vậy, lúc đầu chúng tôi thấy rất ngại ngùng khi giao tiếp với cụ.

Nhưng chỉ vài hôm, thấy mọi người trong nhà này đối xử với nhau cởi mở, chân thành nên tôi và các anh Việt Minh khá yên tâm. Nhất là khi tôi biết được cụ Huyên là người đồng hương Hà Tây thì lại càng yên tâm. Cụ Huyên ở làng Khúc Thủy, xã Cự Khê, huyện Thanh Oai. Nếp ăn ở của các thành viên trong gia đình cụ đậm chất Tràng An. ''Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An" mà. Cụ Huyên là người hoạt bát, làm ăn giỏi.

Là nhà tư sản nhưng cụ Huyên rất quý Việt Minh. Cụ Huyên thuê một người chuyên nấu ăn cho gia đình và nấu luôn cho mấy anh Việt Minh. Có hôm rảnh rỗi, cụ Huyên và cô Thọ (lúc ấy tôi gọi là cô) đi chợ Đồng Xuân mua thức ăn tươi về nấu cho chúng tôi. Khi nhàn nhã, cụ Huyên còn dạy cô Thọ cách làm bún thang, cháo xòe, cá thu kho dừ cho các anh Việt Minh ăn. Những lúc đi học về, chưa thấy các anh Việt Minh dùng cơm là cô Thọ lại xuống bếp phụ giúp mẹ thổi cơm.

Những ngày ấy, vào thời khắc cách mạng Tháng Tám bùng nổ. Trong ngôi nhà số' 8 Hàng Ngang có nhiều chiến sĩ Việt Minh nhưng mọi người trong gia đình cũng không hay biết họ làm việc gì. Chỉ biết rằng, ban ngày họ họp hành, đêm đêm rủ nhau đi đến sáng mới về... Trong thời gian này, chúng tôi bận rất nhiều việc. Tuy ở cùng nhà nhưng tôi cũng chỉ được gặp cô Thọ khi cùng nhặt rau, nấu cơm. Thi thoảng đi họp mít tinh thanh niên có gặp nhau nhưng cũng rất ít ỏi".

Nghe ông Đề tâm sự, tôi lại nhớ lời bác Hồng kể: "Chị Thọ có nhiều nét giống mẹ, dáng người thon thả, nước da trắng hồng, mắt đen tròn, trên môi luôn nở nụ cười tươi tắn, thanh lịch và học giỏi. Thời trẻ, chị Thọ có mái tóc mượt mà chảy dài. Lúc chị đi, mái tóc cứ nhảy múa sau lưng, càng tô điểm thêm vẻ đẹp thanh tao của chị. Chị Thọ đã đến tuổi cập kê, không thiếu những chàng trai con nhà giàu Hà Nội để ý nhưng cụ Huyên rất kén "rê5", chưa chấp nhận ai. Thấy con gái mình đã lớn lại hay có khách đến chơi nên cụ rất để ý. Cụ Huyên khá nghiêm khắc, không cho con gái mình đua đòi. Học sinh Hà Nội lúc bấy giờ thích hát các ca khúc của Văn Cao, thích đọc sách lãng mạn của nhóm Tự lực văn đoàn như Nửa chừng Xuân, Hồn bướm mơ tiên, Lá ngọc cành vàng...

Những lần chị Thọ trông hàng cho mẹ, nhạc sĩ Văn Cao có đến xem hàng và có đôi lần gặp gỡ chị Thọ. Thế' rồi Văn Cao đã để ý đến nét đẹp duyên dáng, tao nhã của chị Thọ. Chị Thọ lúc đó cũng là cây văn nghệ và rât thích hát những sáng tác của Văn Cao như ca khúc Thiên Thai, Suối mơ... Cho nên, mới có lời xì xầm đồn đại rằng Văn Cao đã yêu chị Thọ. Biết chuyện, có lần cụ Huyên đã gọi chị Thọ vào phòng, nghiêm khắc bảo: Con còn trẻ, cố' gắng học hành kiếm cái nghề' đã. Tuổi này mà đã yêu đương, sao nhãng học hành là người ta gọi là gái hư đây nhé. Từ đó chị Thọ rât ngại các anh con trai đến chơi nhà. Để đề phòng lửa gần rơm lâu ngày cũng bén như các cụ đã dạy, cụ Huyên phân công tôi theo dõi sát sao chị mình rồi báo cáo cho cụ biết."

Qua câu chuyện, tôi biết ông Hồng khá thân với chị mình. Từ tâm tính đến đường đi lối lại của chị Thọ không hề xa lạ với người em. Ông Hồng kể tiếp: "Tuy có nhiều bạn bè đến chơi nhưng xem ra bà chị xinh đẹp chưa "châm" anh chàng nào cả. Thật lạ, chỉ có anh chàng Việt Minh Tạ Đình Đề hiền khô, ít nói lại được chị của mình để ý nhât. Cả hai đúng là, tĩnh trong như đã mặt ngoài còn e như Cụ Nguyễn Du viết trong Truyện Kiều.

Mỗi khi về đến nhà, anh Đề hay đội mũ phớt, có bộ râu quai nón, ria mép được cắt tỉa cẩn thận, trông hao hao như những nhân vật trong phim cao bồi Mỹ. Tuy không phải trai phố thị nhưng trông anh cũng khá đẹp trai và rât ga lăng. Đặc biệt, anh rât nhiệt tình, dễ gần, thật thà và hoạt bát. Mọi người trong nhà ai cũng quý anh. Chỉ có điều, môi khi trông thấy chị mình là anh cứ lóng nga lóng ngóng thê' nào ấy.

Tôi cũng rất quý anh ở tính tình thẳng thắn, hay đùa. Vì thê, tôi đã cô' ý giữ bí mật, không cho bác tôi biê't chuyện chị Thọ và anh Đề để ý nhau. Trai gái yêu nhau rồi thì khó giấu lắm, nhìn ánh mắt và nụ cười của họ trao cho nhau là biêt ngay mà. Khi anh yêu chắc cũng như thê' chứ" - ông Hồng nói đùa với tôi - rồi tiêp tục câu chuyện: "Cả hai người dù rất kín đáo cũng không qua được mắt cụ Huyên. Lo cho con gái đang như bông hải đường mơn mởn cành tơ, bác Huyên không bằng lòng cho chị Thọ lấy anh Đề. Hai anh chị cũng biêt việc này nên rất buồn.

Khổ cho hai anh chị, một đôi trai tài, gái sắc ở cùng nhà mà không bao giờ được ngồi trò chuyện bên nhau. Thông qua tôi, anh Đề đã nhiều lần muôn cùng chị Thọ đi dạo chơi đâu đó nhưng đều bị bác Huyên tìm cách ngăn cấm. Những lúc như vậy, thấy hai người mặt buồn xo. Nề nêp gia phong nghiêm khắc là rào cản hai người không dám vượt qua dù lửa tình đã bén nồng nàn"

Tôi đã hỏi Tạ Đình Đề về chuyện này, xem thử cái thuở ban đầu lưu luyên ấy của hai người có đúng như vậy không.

Ông Đề' cười hóm hỉnh: "Thời ấy, chúng tôi có được yêu như bây giờ đâu. Thương nhau rồi nhớ nhau da diêt.

Yêu nhau mà không dám đi cạnh nhau chứ đừng nói đến chuyện nắm tay hay hôn hôn hít hít như các cô cậu bây giờ. Ngày chúng tôi xa nhau, tình hình Hà Nội cũng căng thẳng lắm. Bọn Pháp gây hấn khắp nơi. Chiến tranh đang cận kề Hà Nội từng giờ từng phút. Các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể được lệnh tản cư để thực hiện chủ trương Trường kỳ kháng chiến của Bác Hồ. Các đường phố ở Hà Nội bắt đầu thực hiện công việc chuẩn bị tiêu thổ kháng chiến. Đơn vị tôi nhận được lệnh chuẩn bị hành quân. Thời gian khẩn trương và gấp gáp, thế mà em Thọ đi đâu vẫn chưa về. Tôi và các chiến sĩ chuẩn bị tài liệu, quân trang để xuất phát. Từng phút, từng giờ trôi qua nhanh chóng. Mọi cái đang khẩn trương, gấp gáp vô cùng...

Tình yêu trong chiến tranh mới éo le làm sao. Bao nhiêu cuộc chia ly đầy nước mắt đã xảy ra. Phần lớn là läng lẽ âm thầm và gấp gáp. Tôi đang cùng anh em chuẩn bị hành trang để lên đường. Tôi nghĩ, có thể không gặp em Thọ được rồi bèn vội lấy bút giấy viết thư tạm biệt em. Lúc đó không còn thời gian nên chỉ viết vội mấy

1 \                                           A'*            , • A' ,                                                                A'                                          a' /                                                       \                   1                      1 /V /—il • A' +a'                                                                              1 A'

dòng rồi tiếp tục gấp quần áo vào ba lô. Chiếc đồng hồ trên tay chỉ còn 30 phút nữa đơn vị sẽ hành quân. Rồi, 20 phút... Ngoài đường phố' nhân dân và bộ đội đang dựng lên các chướng ngại vật để cản bước quân thù. Thi thoảng, có mấy tiếng súng nổ đì đoàng phía chợ Đồng

Xuân. Những tiếng kêu la thât thanh vọng tới. Không khí bức bối như thùng thuốc súng sắp nổ. Tôi nhìn ra cửa.

r-I                                  Ạ                   _-]                                         A'                             A rp Ạ •      _ A',                         A ,           1 • A' _  _ 1 _ '                _                                     _4Ạ'         1 _ ^                  /"ì '

Em vẫn chưa về sao? Tôi sốt ruột, liếc nhìn đồng hồ. Còn 15 phút. Còn10 phút. Giờ xuât phát đang đến râ't gần. Thôi, chẳng còn cách nào gặp được em. Tôi thoáng nghĩ, lên đơn vị, có địa chỉ mới sẽ viết thư về cho em. Đúng giờ xuât phát. Tôi truyền lệnh cho anh em chuẩn bị hành quân. Đúng lúc này, Thọ hớt hải chạy về. Thở dốc. Mồ hôi làm bệt cả mây lọn tóc đen mượt vào đôi má ửng hồng.

Hai người nghẹn ngào nhìn nhau. Im lặng. Mắt người nào cũng đỏ hoe, những giọt nước mắt chia ly mặn mòi đã ứa ra. Tôi đưa tay gạt nhẹ làn nước mắt cho người yêu rồi lóng nga lóng ngóng chỉ nói được duy nhất một câu, chỉ một câu vụng về này thôi: Anh đi nhé. Cho anh gửi lời thăm mẹ. Tôi móc trong ba lô ra quả cam chín vàng đưa cho Thọ cùng lá thư viết vội. Em đưa tay đỡ lây quả cam và cũng nhét bức thư viết sẵn từ trước của mình vào ba lô tôi. Tiếng khóc nức nở bật ra từ trái tim người con gái đài các. Tôi vội bước nhanh đến nơi tập trung. Tiếng khóc nức nở của em Thọ từ mái nhà âm áp kia cứ vọng lại làm tan nát cõi lòng... "

Kể đến đây, ông hạ giọng: "Rât tiếc, thời gian đã xa xôi, chiến tranh nay đây mai đó nên hai bức thư của tôi và em Thọ không còn nữa. Nhưng tôi vẫn còn nhớ, sau khi hành quân ra khỏi Hà Nội, tôi móc trong ba lô bức thư của em Thọ và đọc ngấu nghiến. Nội dung của lá thư em Thọ gửi cho tôi, đại ý: Em đang có chút việc ở nhà cô bạn thì nhận được tin anh đang chuẩn bị hành quân đi gap. Em vội viết thư cho anh... Chỉ còn thời gian rất ngắn ngủi nữa là anh phải xa Hà Nội, xa em và xa gia đình. Sao anh lại bỏ em mà đi lúc này? Em cũng không hiểu sao lại khước từ biết bao lời cầu hôn của thanh niên danh giá Hà Nội để đi yêu anh bộ đội Vệ Quốc đoàn? Có lẽ, tính cách dũng cảm, thật thà, nhanh nhẹn và thương yêu đùm bọc nhau của người Vệ quốc đoàn đã cuốn hút em. Anh đã làm cho em vượt qua những tiếng bấc tiếng chì của bạn bè và gia đình để yêu anh. Em chỉ mong rằng chúng mình sẽ sống, sẽ yêu nhau mãi mãi, không có lý do nào ngăn cách được. Vội quá, em chỉ viết được vậy thôi. Hành quân đến đâu nhớ cho em biết nhé...

Về bức thư của tôi gửi cho em Thọ, đại ý: Anh phải xa em rồi. Bao nhiêu câu chuyện, bao nhiêu tình cảm anh muốn dành cho em mà chẳng bao giờ thô7 lộ được. Cuộc đời của các anh Vệ quốc đoàn nay đây mai đó, vất vả gian nan là vậy. Em thông cảm cho sự vụng về và gấp gáp của anh nhé... Đêm nay anh sẽ xa em. Nhưng hình bóng em vẫn theo anh suốt chặng đường hành quân đi chiến dịch. Dù vực sâu, núi cao, anh vẫn mãi mãi nhớ em. Hy vọng rằng, hòa bình lập lại, chúng mình nhất định sẽ được hạnh phúc bên nhau..."

Dòng hồi ức hiện lên trước mắt Tạ Đình Đề: "Đêm mịt mùng, mênh mang. Đơn vị tôi lầm lũi hành quân lên miền trung du trong tiết trời se giá. Trời tối đen như mực. Bộ đội hành quân qua những ngôi làng. Xa xa, tiếng chó sủa, tiếng gà gáy vọng lại như làm con tim tôi thổn thức nhớ người yêu hơn. Gió thu từ sông Hồng thổi lên hun hút se sắt. Muôn vàn ngôi sao đang run rẩy trên bầu trời bao la. Hà Nội ngày càng xa dần, xa dần. Thi thoảng, nhớ Hà Nội, nhớ người yêu tôi ngoái đầu nhìn lại. Phải chăng, cô gái Hà thành hiền thục, tao nhã vẫn đang đứng trước thềm nhà, hướng theo mình. Đôi mắt đen muồi thấm đẫm nước mắt nhớ thương. Trong đầu tôi vang lên tiếng cô gái gọi tên mình, gọi khe khẽ thôi, gọi nhẹ nhàng thôi nhưng vẫn nghe rất rõ. Lá thư của em gửi cho tôi vẫn thì thầm bên ngực trái. Sao anh lại bỏ em mà đi lúc này?... Anh đã làm cho em vượt qua những tiếng bấc tiếng chì của bạn bè và gia đình để yêu anh. Em chỉ mong rằng chúng mình sẽ sông, sẽ yêu nhau mãi mãi, không có lý do nào ngăn cách được. Vội quá, em chỉ viết được vậy thôi. Hành quân đến đâu nhớ cho em biết nhé... "Thọ ơi, em ơi!", lúc ấy, tôi muốn gọi tên em như thế' trong đêm tối mịt mù. Tâm trạng tôi lúc này thật trùng khít với cảm xúc của những câu thơ mà tôi đã nghe ai đó đọc trong hàng quân:

Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu...

Những ký ức của một thời khói lửa tiếp tục sóng dậy và dâng trào cùng Tạ Đình Đề: "Sau này, qua em Thọ, tôi biết ngày hôm sau gia đình cụ Huyên tản cư về quê. Theo lời kêu gọi của Bác Hồ Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ, tiếng súng kháng chiến chống giặc Pháp bùng nổ khắp mọi phố' phường, làng quê. Tôi và đồng đội tiếp tục hành quân khắp các nẻo đường của chiến trường Quân khu III. Dù hoàn cảnh chiến tranh, mỗi người mỗi nơi nhưng tôi vẫn dành cho em Thọ những tình cảm sâu nặng và mong đợi ngày trở về. Mỗi lần đi công tác qua vùng quê nơi gia đình em Thọ tản cư, thế nào tôi cũng tìm cách ghé thăm cụ Huyên để có dịp được gặp lại người yêu. Lúc đầu cụ Huyên ngăn câm nhưng về sau thây chúng tôi yêu nhau tha thiết quá nên cụ cũng đỡ khắt khe hơn."

Chúng tôi đến thăm ông Nguyễn Văn ĐăngH, sinh năm 1923. Ông Đăng nguyên là sĩ quan tình báo cùng thời với ông Đề, biết khá rõ tình cảm của ông Đề và bà Thọ. Ông Đăng kể: "Trước đây, tôi cũng là cánh lính tình báo nên biết râ't rõ mối tình đẹp đẽ giữa ông Đề và bà Thọ. Năm 1949, ông Đề đã bước sang tuổi 32, bà Thọ tuổi 19. Đơn vị biết hai người yêu nhau say đắm.

Vì ông Đề là chiến sĩ tình báo nên để tạo điều kiện thuận lợi cho hai người trong việc kết hôn sau này thì bà Thọ phải vào bộ đội. Đầu năm 1951, bà Thọ đi bộ đội vào đơn vị tình báo của chúng tôi đóng quân ở Thanh Hóa. Đích thân ông Văn Phác, sau này là vị tướng của quân đội ta cùng tôi đã về nơi tản cư để gặp cụ Huyên bàn việc hôn nhân của ông Đề và bà Thọ. Lúc đầu cụ Huyên cũng rất căng nhưng nhờ sự phân tích có lý có tình của Văn Phác nên cụ Huyên nhất trí.

Đầu năm 1951, đám cưới hai người được tổ chức tại đại bản doanh đơn vị ở Hậu lộc Thanh Hóa. Đám cưới tổ chức theo "đời sống mới” và do ông Văn Phác chủ hôn, tuy đạm bạc nhưng ấm cúng và trang trọng. Sau đám cưới, bà Thọ được tổ chức giao làm văn thư tại cơ quan tình báo này. Một thời gian, bà Thọ được cử đi học lớp y tá và công tác tại Phòng Quân y thuộc Bộ tư lệnh Liên khu III. Ông Đề được điều động về giữ chức Phó Ban tình báo Liên khu III.

Cuộc đời đôi vợ chồng trẻ tình báo cũng chẳng ở được bên nhau bao nhiêu. Bà Thọ ở đại bản doanh, nhận tin tức từ mặt trận tiền phương gửi về, tập hợp báo cáo cấp trên. Còn ông Đề suốt ngày, suốt tháng lăn lộn nơi chiến trường khu III."

Về mối tình giữa bà Thọ và ông Đề được nhà văn

Chu Lai thể hiện([9]):

 

"Trong căn hộ hơn hai chục thước vuông ấy còn có một con bệnh nan y. Đó là bà Thọ, vợ ông Tạ Đĩnh Đề. Tiếng ho khan của của người đàn bà bị ung thư dạ con thỉnh thoảng lại hắt ra cùng với tiếng sòng sọc của chiếc điếu cày đã lên nước vàng óng. Lát sau, dường như ngại người chông tính tĩnh ôn ào không biết đường tiếp khách, bà khẽ khàng trở dậy đi ra. Tôi thoáng ngạc nhiên trước vẻ xanh xao nhưng vẫn còn lưu giữ rất nhiêu nét đẹp quý phái của bà. Cái cách bà pha trà mời khách cũng thật Hà Nội làm sao! Súc ấm bằng nước sôi rất kỹ rôì mới thả nhẹ những nhánh trà màu xanh đen vào. Để một chút cho ngấm, bà lượn bàn tay rót đêu vào các chén, rót thật nhẹ, không rót đầy một lần mà rót vòng quanh để chén nào cũng có độ đậm như nhau. Sau đó mới "mời anh xơi nước!". Nguyên tiếng xơi nghe đã thấy ngọt dịu dường nào chứ chưa cần nhấp môi. Chắc bà gốc người Hà Nội mà là thứ gốc của dòng dõi tiểu thư khuê các con nhà giàu? Tôi thầm đánh giá theo thói quen nghê' nghiệp mà không tiện hỏi.

 

Nhưng bằng vẻ xởi lởi, xen chút kính trọng, chính ông lại thông tin cho tôi biết cái đánh giá ấy trúng hay sai:

 

Bà nhà tôi là con gái tư sản Hàng Ngang đấy ông ạ! Giàu sụ. Có cả chục dãy nhà khang trang suốt dọc phốnhưng

 

hiến cho cách mạng đận năm 45 hết rồi.

 

Làm sao mà một trai làng ở tận vùng sông Nhuệ, Thanh Oai lại quen và lây được một tiểu thư sang trọng như vậy? Tôi hỏi đùa theo cái nhịp bỗ bã của ông.

 

Không ngờ lại chính bà nhỏ nhẹ trả lời:

 

Trước khởi nghĩa, ông ây ra vào thành hoạt động, thường lây nhà tôi làm cơ sở liên lạc. Tôi còn nhỏ, đã biết gì đâu, ai dè người ta để ý đến mình. Để ý nhưng không dám nói. Mãi sau này, vào cái dịp ta sắp tiêu thô7 kháng chiến, vụng về gửi cho tôi một quả cam, rồi ông ây cứ âp úng mãi.

 

Chắc bác trai dạo đó đẹp trai phải biết? Tôi gợi ý.

 

Cũng được. Lúc nào cũng chiếc mũ phớt, ria mép đen đen là cứ như cái anh tài tử trong phim cao bồi. Thành thử tôi cũng... "

 

Tình yêu của họ đã trải qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt và được thử thách như thế'. Trong khúc đận éo le như bây giờ bà Thọ càng thương xót chồng mình hơn, âu cũng là điều dễ hiểu. Cuộc đời ai học hết chữ "ngờ" cũng như bà Thọ chưa bao giờ nghĩ tới chuyện ông Đề bị vướng vào vòng lao lý rắc rối. Ông Đề tâm sự: "Ở trong trại giam tôi càng thấy thấm thía tình cảm vợ chồng, càng yêu quý bà ấy vô ngần. Sống với nhau gần 30 năm với 3 mặt con mà hai chúng tôi chưa bao giờ cãi cự nhau. Những năm tháng ban đầu, tôi là người lính nay đây mai đó, sau này chỉ huy sản xuất cũng ít khi có mặt ở nhà. Mọi việc trong gia đình đều dồn lên đôi vai bà Thọ. Cuộc đời tôi được nhận rất nhiều nghĩa tình, trả làm sao cho hết. ớ cơ quan đơn vị, tôi phải chịu ơn anh em đồng đội, đồng nghiệp, đối với gia đình, tôi phải chịu ơn bà Thọ. Ngôi nhà số' 8 Hàng Ngang là của hồi môn bố' mẹ bà cho vợ chồng tôi, con cái đứa lớn đứa bé cũng đều do tay bà chăm sóc. Ngẫm lại, những khúc đoạn khó khăn của gia đình hầu như tôi đều vắng nhà.

 

Dù đi đâu và làm gì, tôi vẫn luôn nghĩ đến gia đình, nghĩ đến vợ, đến con. Tôi coi gia đình là nơi bến đậu bình yên nhất trên cõi đời này. Nhưng bến đậu của tôi chẳng mấy khi được yên ả. Trong chiến tranh, mỗi người mỗi ngả. Cuộc sống hòa bình chưa được bao nhiều thì phải vướng vào vòng tù tội. Suốt gần hai năm, hơn năm trăm ngày đêm ngồi bó gối trong nhà tù, bến đậu nhớ thương vẫn là giấc mơ muôn thủa".

 

Gia đình là bến đậu bình yên nhất trên cõi đời này, suy nghĩ ấy của ông là hoàn toàn đúng, Tạ Đình Đề ạ. Tôi nghĩ, cuộc đời sẽ trống trải và đơn độc tẻ nhạt biết bao nhiêu khi ta không có bến đậu ấy. Đi đâu, về đâu, ở đâu con người ta vẫn một lòng, một dạ hướng về gia đình. Trong gian nan nguy hiểm, trong xa cách chia ly, trong lạnh lẽo cô đơn, tình cảm gia đình càng vẫy gọi ấm áp hơn bao giờ hết. Đây là thứ tình cảm mà không có gì thay thế' được. Với Tạ Đình Đề, đấy chính là vầng sáng tỏa quanh ông trong những năm tháng đen tối bị tạm giam oan khuất... Nó tiếp thêm năng lượng cho ông vượt qua khó khăn, tin tưởng vào ngày trở lại cuộc sống bình thường bên gia đình hạnh phúc, với bến đậu bình yên, bên những người bạn thời chiến tranh và những người thợ ngày nào, một phần không thể thiếu được trong cuộc đời của Tạ Đình Đề.

 

 

Cố gắng không để mất niềm tin

gười đời thường nói: Mất của cải, vật chất thì sẽ làm ra, mất lòng tin sẽ mất

tất cả. Với người chân chính, mất lòng tin còn đồng nghĩa với mất lẽ sống và tuyệt vọng. Tạ Đình Đề có lúc chán đời và gần như tuyệt vọng. Có lần ông tâm sự: Trong phòng giam tối tăm, cực khổ, ông vẫn tin có ngày sẽ được trả tự do. Không lẽ, một đất nước có hàng triệu người hy sinh cho nền độc lập tự do của Tổ quốc, lại bị tước đi quyền tự do của người cống hiến cho cuộc sống tốt đẹp? Lòng tin ấy là phao cứu sinh cho ông, cứu sống ông, tạo năng lượng cho quyết tâm và trí tuệ của ông,
vượt qua những tháng ngày giam hãm để bước ra khoảng trời tự do.

Trong quá trình bị bắt giam, ông Đề đặt niềm tin râ't lớn vào cơ quan giám sát pháp luật. Nhưng khi đọc bản cáo trạng, ông Đề đã bị choáng váng về những quy kết theo cách suy diễn. Tôi muốn biết ông Đề nghĩ gì về lúc này và hỏi: "Theo bản cáo trạng ông và một số' người có liên quan về tội cố' ý làm trái chính sách, tham ô, hối lộ... Đây là những tội rât nghiêm trọng. Vậy ông nghĩ gì và đã chuẩn bị những tư liệu, chứng cứ như thế' nào để bảo vệ quan điểm của mình?"

Ông rít một hơi thuốc lào thật kêu, thật dài rồi cười hà hà, thong thả nói với tôi: "Có chuẩn bị gì đâu. Sự việc diễn ra trong thực tế' ra sao thì khai báo đúng thế'. Chỉ có điều, tài liệu hồ sơ như vậy mà mỗi người lại đánh giá mỗi cách. Phức tạp quá!" Tôi hỏi tiếp: "Ông có thể nói kỹ hơn được không?"

Tạ Đình Đề: "Được chứ! Trong trại tạm giam, tôi đã khai báo với Cơ quan điều tra những việc làm của mình và anh em đồng nghiệp đúng như thực tế. Sự việc xảy ra như thế nào thì khai báo đúng như vậy, không thêm, không bớt. Tôi tin rằng, Cơ quan điều tra sẽ làm rõ sự thật để bác bỏ những tố' cáo, bịa đặt vu oan giá họa của kẻ bât nhân. Sau mỗi lần hỏi cung, tôi lại được ngả lưng, miên man suy nghĩ một chặp rồi thiếp đi lúc nào không hay. Có lúc, tôi mơ thấy những oan khuất của mình đã được tháo gỡ và làm sáng tỏ.

Trong các bản cung tổng hợp, Cơ quan điều tra đặt ra nhiều câu hỏi yêu cầu tôi trả lời, trong đó tập trung làm rõ hành vi phạm tội, thiệt hại gây ra... Đây là những nội dung đã được tôi chuẩn bị khá kỹ từ lúc cơ quan thanh tra vào làm việc cách đây gần hai năm cho tới thời gian nằm trong trại tạm giam. Trong đó, tôi đã đưa ra những cơ sở, lý lẽ vững chắc để chứng minh rằng việc làm của mình và đồng nghiệp đã được lãnh đạo các cơ quan có thẩm quyền cho phép và hoàn toàn đúng với các quy định của pháp luật. Nhưng oái ăm thay, Cơ quan điều tra không chấp nhận, họ vẫn khẳng định rằng, hành vi của tôi và những người có liên quan đã cấu thành các tội cô' ý làm trái, tham ô, hôi lộ... Đên lúc này, tôi thật sự thất vọng về quan điểm buộc tội của Cơ quan điều tra. Dường như, môi lần tôi đưa ra các chứng cứ để bảo vệ quan điểm của mình thì sự buộc tội của Cơ quan điều tra lại càng gay gắt và nặng nề hơn. Trước tình cảnh này, nói thật, nhiều lúc tôi cũng chán nản, lo lắng và lung lay niềm tin.

Thông qua các tài liệu, tôi nghiên cứu kỹ về' chức năng nhiệm vụ của cơ quan Viện kiểm sát. Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát mọi hoạt động điều tra của Công an nên ngồi trong bôn bức tường hiu quạnh này, tôi lại

đặt niềm tin rất cao đối với họ. Thất vọng đối với công tác điều tra bao nhiêu thì tôi lại kỳ vọng vào sự xem xét lại của cơ quan Viện kiểm sát bấy nhiêu. Tôi nhận thức được rằng, nếu việc thu thập và đánh giá chứng cứ của Cơ quan điều tra không khách quan thì sẽ có cơ quan Viện kiểm sát giám sát, xem xét lại. Nghĩ thế, lòng tôi lại tràn đầy hy vọng và niềm tin vào những điều tốt lành sẽ được củng cố'. Ai đó nói rằng: Mất niềm tin là mất tất cả, đúng thật. Tuy nhiên, nếu con người không có những nơi chốn để hướng niềm tin của mình tới đó cũng dễ chao đảo ngã nghiêng lắm. Nơi tôi hy vọng và đặt niềm tin bấy giờ là Viện kiểm sát nhân dân. Và, tôi lại tiếp tục đợi chờ...

Một hôm, sau ngày tôi bị bắt khoảng hơn 7 tháng, cán bộ của Cơ quan điều tra vào trại tạm giam công bố' bản cáo trạng truy tố' tối ra tòa.(*)

Qua xem xét tài liệu lưu trữ, tôi biết được nội dung kết luận của bản cáo trạng mà ông Tạ Đình Đề nhắc tới như sau:

Vấn đề thứ nhất: Tạ Đình Đề đã tô’ chức móc ngoặc, hốĩ lộ bằng nhiều cách để chiếm dụng tài sản của Nhà nước trị giá gần nửa triệu đồng đưa về Xưởng dụng cụ cao su để sử dụng bừa bãi, gây lãng phí và thiệt hại nghiêm trọng đến

Văn bản số' 899/XH ngày 04-7-1975...

tài sản, vật tư của Nhà nước và đã lũng đoạn làm hư hỏng số cán bộ của một số cơ quan, gây rối về mặt tô’ chức, quản lý cán bộ.

 Vấn đề thứ hai: Toàn bộ máy móc, thiết bị hoàn chỉnh để xây dựng nhà máy đắp lốp do nước ngoài viện trợ trị giá tạm tính gần một triệu đồng đã bị bọn Đề xé lẻ, giao bớt cho nhà máy đắp lốp Cục vận tải ô tô, để đưa vào sử dụng cho Xưởng dụng cụ cao su, để bán và để hoen rỉ mât mát, làm hư hỏng, trong khi Nhà nước đang có yêu cầu xây dựng.

 Vấn đề thứ ba: Trong quá trình quản lý hai đơn vị: Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt và Ban thể dục thể thao, Tạ Đình Đề đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình tô’chức kinh doanh, sản xuâỉ trái phép, chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác để lập quỹ trái phép và có nhiều hành động vi phạm khác, gây roi loạn về mặt quản lý kinh tế tài chính để tham ô, tạo ra nhiều sơ hở cho những phần tử xâu lợi dụng làm bậy.

Ngoài ba vấn đề trên, kết luận của Cơ quan điều tra còn quy kết cho Tạ Đình Đề có hành vi tuyển người vào biên chế của Xưởng một cách tùy tiện. Trong đó có nhiều người đã bị cải tạo, thuộc phần tử xâu của xã hội...

Tạ Đình Đề kể’ tiếp: "Mặc dầu đã có văn bản kết tội nhưng tôi vẫn phải tiếp tục bị hỏi cung. Hai năm trong trại giam, tôi đã dồn hết mọi sức lực và trí tuệ cho việc khai báo với hy vọng sự thật sẽ được làm rõ. Thế' mà,


•                        w                     4- /v'       _J_               4-                  /V7                  /v'                                                             /V             /v'      1                            •                            /V7                         m                           /V                          •

mọi cố' gắng đều đã đổ xuống sông, xuống biển. Tôi thây mình chẳng khác gì con dã tràng xe cát biển Đông vậy. Cay đắng lắm chứ! Bản cáo trạng đã bác bỏ mọi sự thật mà tôi đã khai báo trung thực. Sự cay đắng ây, cũng chỉ là một phần. Bởi lẽ, bản cáo trạng là do Cơ qua điều tra viết ra.

Nhưng, điều làm tôi bàng hoàng lại nằm ở dòng cuối của bản cáo trạng. Thôi chết rồi! Mắt tôi hoa lên. Tôi như bông dưng rơi tõm xuống cái hố' đen sâu hoắm, một màn tối như đang vây kín xung quanh mình. Mồ hôi rịn ra lâm tâm khắp trán. Trống ngực đánh thình thịch. Sống lưng nhói đau. Khi bình tâm lại, tôi lắc đầu, ngao ngán. Bản cáo trạng này đã được Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phê chuẩn rồi ư? Thế' là mọi hy vọng về sự thật được làm sáng tỏ bị tan biến thành mây khói. Niềm tin về việc làm công minh chính trực của cơ quan giám sát pháp luật không còn nữa".

Tôi xin nói rõ thêm điều này trước khi chúng ta cùng tiếp tục theo dõi câu chuyện của Tạ Đình Đề: Theo quy định của pháp luật thời kỳ đó, khi kế't thúc điều tra, Cơ quan điều tra làm bản cáo trạng, Viện kiểm sát cùng câp có quyết định phê chuẩn bản cáo trạng đó.

Ông Đề kể: "Ngày hôm đó tôi không ăn nổi miếng cơm. Miệng đắng. Đầu đau. Mắt hoa. Tôi có cảm giác như mình sắp ốm nặng. Cay đắng lắm chứ, gần cả cuộc đời theo cách mạng bây giờ bỗng dưng mình trở thành kẻ tội phạm. Mây ngày sau đó, người tôi gầy gộc, mắt trũng sâu. Tôi nghĩ, ngày hầu Tòa chắc cũng không bao xa nữa. Với những nội dung được liệt kê trong bản cáo trạng và đã được Cơ quan điều tra lẫn Viện Kiểm sát nhân dân tối cao kết luận thì tội của tôi là hết sức nghiêm trọng. Hai cơ quan pháp luật cao nhât đã có kết luận ghi thành giây trắng mực đen thì việc đưa ra xét xử cũng chỉ là thủ tục, hình thức thôi. Nhưng dù sao việc kế't thúc giai đoạn điều tra để truy tố' chuyển Tòa án xét xử, cũng là dịp để tôi tiếp tục được nói công khai về những sự thật của mình. Mặt khác, nếu bị Tòa án tuyên phạt tù giam thì có lẽ cũng dễ chịu hơn khi phải ngồi trong bốn bức tường kín mít của trại tạm giam này. Tôi nghĩ thế' và chuyển niềm tin mong manh từ cơ quan giám sát pháp luật sang cơ quan Tòa án. Nhưng đợi mãi, đợi hoài vẫn không thây Tòa gọi. Tôi lại phải tiếp tục bị hỏi cung, với những câu hỏi đặt ra không có gì mới, cứ đều đều như giã gạo. Có lúc tôi chán nản và không chịu nổi trước những lời dụ dỗ, có lúc đe dọa buộc tôi nhận tội của mây gả cò mồi cứ ngày ngày nện vào tai. Tôi chỉ còn hy vọng cuối cùng ngày ra Tòa được thoả sức trình bày những điều mà mình đã chuẩn bị bây lâu nay.

Những ngày sau đó, tôi dành thời gian rỗi còn lại để đọc kỹ bản cáo trạng. Càng đọc càng thây những kế't

luận trong bản cáo trạng thật phi lý. Nhiều sô' liệu, chứng cứ trong đó không hiểu các nhà chức trách lấy ở đâu ra? Điều đáng nói là, những lời khai nói lên sự thật của tôi và rất nhiều người khác, trong đó có cả công văn của những vị lãnh đạo cấp Bộ, cấp Tổng cục... đều bị Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát bác bỏ. Trong lúc đó, những lời vu oan, giá họa nhằm hãm hại, trả thù tôi của những kẻ cơ hội, gây rôi nội bộ lại được coi là căn cứ để kê't tội tôi và đồng nghiệp. Tôi đọc đi đọc lại, có nhiều đoạn gần như thuộc từng dấu chấm phẩy. Sau mấy tháng trời, tôi chuẩn bị khá kỹ về lý lẽ để tự bảo vệ mình trước vành móng ngựa. Thời gian chờ đợi ngày ra tòa sao mà lâu đên vậy. Chờ mãi, chờ hoài mà vẫn chưa thấy mở phiên tòa."

Nghe ông kể đên đây, tôi muôn biêt kỹ hơn về nguyên nhân dẫn đên ông Đề' nhận tội tham ô thể hiện trong một sô' bản cung. Tôi nhìn ông Đề, hỏi: "Không hiểu lý do gì mà trong hồ sơ vụ án, có bản cung ông lại nhận mình có hành vi tham ô?". Ông gật đầu, nhìn xa xăm, thủng thẳng đáp: "Đúng là tôi có lời khai với Cơ quan điều tra như vậy. Thực ra, sau khi bị bắt một thời gian, nằm trong trại tạm giam, tôi thấy trong người rất mệt mỏi. Nhiều lúc tưởng chừng không sông nổi. Áp huyêt cao, mắt hoa. Bụng đói cồn cào mà miệng thì đắng ngắt không ăn được. Đã vậy, tôi bị gọi hỏi liên tục, có lúc bị hỏi cả ngày, cả đêm. Nếu không nhận như ý cán bộ hỏi thì tối đó sẽ có người cùng buồng thuyết phục tôi nhận tội. Có lúc bị bọn đầu trộm đuôi cướp dọa đánh. Người tôi gầy xo, già cả thế này mà bị bọn lưu manh đánh thì không chết cũng sẽ thành cố tật ngay. Nhiều lúc nhìn bọn tù đánh nhau mà rợn cả người. Trong những lúc quá mệt mỏi, tôi cảm thây nhớ vợ con và anh em đồng nghiệp nên cũng có phút giây mềm lòng, tặc lưỡi, nhận quách đi cho xong, ra tòa hẵng hay. Khi cán bộ điều tra hỏi mãi về khoản tiền nhận ở Ban thể dục thể thao 10.000đ, tôi đã giải trình đầy đủ. Nhưng họ không chịu. Cuối cùng tôi đành khai: Số này đã chi cho tập thể là 5.200đ, còn lại 4.S00đ tôi đề nghị cán bộ điều tra xem xét. Nếu thiếu bao nhiêu tôi nhận tham ô.. .Mục đích của tôi là nhận cho xong chuyện để bớt căng thẳng, sớm được đưa ra xét xử, chứ nếu để dùng dằng thế này thì chẳng biết lúc nào được ra Tòa."

"Bắn" tiếp một bi thuốc lào nữa, Tạ Đình Đề kể: "Những ngày nằm trong trại chờ xét xử, tôi thất vọng với cơ quan truy tố' lắm. Hồ sơ vụ án được xây dựng không khách quan, cố tình suy diễn theo chiều hướng buộc tội nhưng chẳng những không được cơ quan truy tố phát hiện, khắc phục mà họ còn đồng tình rât cao với Cơ quan điều tra. Càng nghiên cứu bản cáo trạng và quyết định phê chuẩn cáo trạng của Viện kiểm sát tôi càng thấy rõ một điều: Các Kiểm sát viên trong vụ án này, dường như trở thành người hợp thức hóa cho cơ quan điều tra. Như vậy, làm sao thực hiện đúng chức năng của ngành Kiểm sát, bảo đảm tính khách quan, thận trọng, không làm oan người vô tội."

Nghe Tạ Đình Đề' phàn nàn và thất vọng về' công việc của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao khi đó, tôi có hai luồng suy nghĩ: Vừa buồn phiền pha chút sĩ diện với ngành, nghề, vừa thương ông Đề' chịu oan ức đau khổ. Bình tĩnh lại, tôi quyết định phải thẳng thắn và tâm huyết để làm rõ mọi góc cạnh của việc oan trái này nhăm lấy đó làm bài học cho các thế' hệ mai sau. Hy vọng trong tương lai, không bao giờ tái diễn vụ án đau lòng như thế này nữa. Từ đó, tôi trộm nghĩ: Ông là một chiến binh, một nhà chỉ huy sản xuất nhưng cũng rất am hiểu về pháp luật. Chứng tỏ, gần hai năm trong trại tạm giam, ông đã nghiên cứu nhiều tài liệu liên quan đến công tác pháp luật. Nghĩ vậy, tôi hỏi: "Những ngày trong trại tạm giam, chắc ông nghiên cứu nhiều tài liệu pháp luật?" Ông gật đầu: "Có chứ. Cán bộ cho mượn nhiều sách, báo tham khảo. Thời gian rỗi rãi nên cũng đọc được nhiều tài liệu. Đọc nhiều nên mới nghĩ ra những căn cứ để bảo vệ mình chứ". Tôi hỏi tiếp: "Ông có cảm xúc như thế nào khi nhận được thông tin đưa vụ án ra xét xử?"

Tạ Đình Đề kể: "Cuối tháng 5-1976, tôi nhận được quyêt định của Tòa án nhân dân thành phô' Hà Nội đưa vụ án cô' ý làm trái, tham ô tài sản XHCN, hôi lộ... ra xét xử vào các ngày 7, 8, 9, 10, 11 và ngày 12-6-1976. Như vậy, từ khi có bản cáo trạng truy tô' tôi và những người có liên quan ra trước Tòa án đên ngày có quyêt định của Tòa án đưa vụ án ra xét xử gần 1 năm trời. Với thời gian kéo dài như thê, tôi thầm nghĩ chắc vụ án phức tạp lắm. Nhưng qua đó tôi lại yên tâm, rằng Tòa án đã có thời gian rất dài để nghiên cứu hồ sơ vụ án. Chứng tỏ Tòa án đã chuẩn bị rất kỹ để đưa vụ án ra xét xử. Nhận được quyêt định này, trong lòng tôi vừa phấn khởi vừa

lo lắng.

Tôi cảm thấy rất phấn khởi vì chỉ mấy ngày nữa mình sẽ được nhìn thấy vợ, gặp con. Những con người yêu quý, thủy chung này đã xây nên tổ ấm, bên đậu hạnh phúc vững bền cho mình. Mấy lâu nay tôi chỉ gặp người thân trong mơ. Tôi nhớ vợ con đên quay quắt. Rồi mình sẽ được gặp lại, được nói chuyện, được nhìn thấy biêt bao đồng chí, đồng nghiệp, bạn bè đã gắn bó bấy lâu. Nhất là những cán bộ công nhân đã chia bùi sẻ ngọt với mình tại Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt. Những con người lao động cần cù, thật thà và nhiệt huyêt nhưng còn phải đôi mặt với bao vất vả, gian nan..."

Cảm xúc dâng trào trong ông dù năm tháng rủi ro ấy đã lùi xa lắm rồi. Tôi nghe trong giọng kể của ông có gì đó bồi hồi, nghẹn ngào khi nhắc đến những người thân, bạn bè, đồng đội, đồng nghiệp. Họ đã không bỏ ông trong lúc hoạn nạn trái lại luôn tiếp cho ông năng lượng để vượt qua sóng gió cuộc đời.

Phấn khởi bao nhiêu thì ông lại lo âu bấy nhiêu khi nghĩ tới ngày ra tòa. Ông kể: "Bên cạnh những cảm xúc phấn khởi trào dâng đó, tôi cũng rất hồi hộp lo âu. Đây là thời điểm nghiệt ngã nhất của cuộc đời. Bởi vì, nếu đúng là có tội thì tôi sẵn sàng nhận tội. Nhưng tôi nghĩ, việc làm của mình và nhiều đồng nghiệp là hoàn toàn đúng đắn. Tất cả cũng chỉ để phục vụ người lao động. Tôi và một số' người ấy không hề lấy tài sản công đưa về nhà. Thế mà cơ quan chức trách lại kết luận đó là hành vi phạm tội nghiêm trọng và tôi có thể bị tuyên phạt án tù rất nặng. Không hiểu, tuổi già sức yếu này có sống nổi mà về với vợ, với con hay chết luôn trong trại. Sức chịu đựng của con người có hạn mà?"

Tôi hỏi tiếp: "Xem chừng ông đã chuẩn bị rất kỹ cho việc ra hầu tòa. Diễn biến phiên tòa trong những ngày đầu tiên như thế' nào hả ông?"

Ông kể: "Khi được cảnh sát dẫn giải ra trước Tòa án nhân dân thành phố' Hà Nội, tôi chứng kiến một cảnh tượng chưa từng thấy bao giờ. Người dân đến dự phiên tòa rất đông. Tôi có cảm giác như đang đứng trước một rừng người. Trong đó, tôi thoáng nhận ra nhiều nét mặt quen thân, là đồng nghiệp, người thân. Xúc động và hồi hộp, phấn chấn và tự tin. Trước khi vào phòng xử án, tôi ngoái nhìn xung quanh sân Tòa án, người đứng chen cứng như nêm. Anh mắt tôi nhìn vào đâu thì nơi ấy cũng có những ánh mắt đáp lại một cách trìu mến, lo âu, đượm buồn và những cánh tay vẫy vẫy như chào đón chân tình. Tôi không ngờ mọi người lại quan tâm vụ án này đến thế'. Con tim tôi dường như cũng đập nhanh hơn, rạo rực, phấn chấn. Một niềm tin mới đang dâng lên trong tôi. Nhìn những cánh tay vẫy vẫy động viên, những ánh mặt ngậm ngùi chia sẻ của bà con, tôi như cảm thấy mình không còn đơn độc khi ra đứng trước vành móng ngựa.

Bước vào phòng xét xử, một cảnh tượng làm tôi xao lòng. Phía dưới khán phòng, không chỗ ngồi nào trống. Có nhiều người đứng ở hàng hiên. Cũng như cảnh ở ngoài sân, khi ánh mắt tôi nhìn vào đâu trong khán phòng, những người ở chỗ ấy giơ tay vẫy vẫy.

Ngày khai mạc phiên tòa trời nóng như đổ lửa. Thế' mà bà con không quản ngại đã đến dự phiên tòa rất đông. Sau này tôi được nghe kể lại, những người đến dự phiên tòa hôm đó không chỉ ở Hà Nội, không chỉ có anh chị em công nhân Tổng cục Đường sắt mà còn có rất nhiều người ở các tỉnh Hà Sơn Bình, Vĩnh Phú, Thanh Hóa,

Nghệ Tĩnh... Những người ấy từ các nhà máy, công xưởng, ruộng đồng, ở tận nơi xa tít tắp, bỏ cả công việc kéo về' Thủ đô. Có người ở luôn Hà Nội mấy ngày này để nghe xử án. Họ cơm đùm, cơm nắm cứ như đi chiến dịch. Trong đó phải kể đến những đồng nghiệp của tôi tại Tổng cục Đường sắt. Đặc biệt, ông Tổng cục trưởng Tổng cục Đường sắt rất linh động, cho anh em thay nhau trực để được tham dự phiên tòa. Những ngày sau đó, trong và ngoài hội trường xử án người ken dày như nêm. Người đến sớm còn có chỗ chen chân trong sân, người đến muộn đành phải đứng tràn ra các đường phố' Lý Thường Kiệt, Hai Bà Trưng, Hỏa Lò, thậm chí cả đường Trần Hưng Đạo. Bà con, anh em mang theo quạt giấy, quạt nan, thậm chí cả quạt mo cau để chống nóng. Người đông như nêm vậy nhưng cũng thật kỳ lạ, rất trật tự, họ chỉ tụm ba tụm bảy bàn tán rì rầm...

Theo nguyện vọng của nhân dân, Hội đồng xét xử nhất trí để Tổng cục Đường sắt mắc thêm một số' loa phóng thanh trên các cành cây để nhiều người tiện theo dõi phiên Tòa.

Ngồi vào ghế' bị cáo, tôi đưa mắt nhìn. Những người cùng ngồi hàng ghế' với mình gồm có: Nguyễn Văn Luật, Lê Phong, Nguyễn Văn Thơ, Nguyễn Trí Tý, Nguyễn Xuân Tĩnh, Nguyễn Huân, Phan Văn Ngọc, Nguyễn Văn Định, Nguyễn Công Hoan, Lê Duy Minh. Tôi gật đầu chào mọi người và cử tọa. Phía bên ghê' nhân chứng, tôi nhìn thấy có một sô' gương mặt đồng nghiệp thân quen, trong đó có ông Tổng cục trưởng Hà Đăng Ấn và ông Vạn Lịch, người được cử phụ trách đơn vị từ khi tôi bị bắt giam. Họ đưa mắt nhìn tôi, gật đầu chia sẻ, thông cảm, ngậm ngùi.

Tôi ngoái lại phía sau, đưa mắt nhìn khắp lượt khán phòng để xem vợ con có tới dự phiên tòa hay không. Đúng lúc ấy, tôi thấy những cặp mắt của cử tọa cứ nhìn xoáy vào mình. Không biêt họ thương cảm hay tiêc nuôi cho mình đây? Hay họ muôn gửi đên tôi điều gì đó? Bông tôi bắt gặp đôi mắt đỏ hoe, mọng nước, buồn bã của bà Thọ đang ôm Hiền Hương vào lòng. Ngồi cạnh bà là thằng Hùng, thằng Tiên đang nhìn chăm chăm vào tôi. Bô' con cứ nhìn nhau, nhìn nhau cho thỏa mong những ngày xa cách, trông vắng. Bà Thọ vẫn đăm đắm nhìn tôi không chớp mắt. Trong im lặng, tôi đọc được những thương yêu, an ủi của người vợ thảo hiền. Nôi thương cảm trào dâng ngùn ngụt trong tôi. Cuộc đời, ai ngờ đên cơ sự này. Vì mình mà cả nhà, họ hàng thân thích phải chịu hệ lụy, lao đao, lo lắng bấy lâu nay. Nhìn con gái Hiền Hương đang ngủ say trên đôi tay khẳng khiu của mẹ giữa phòng xử án mà ruột gan tôi như có muôi xát. Thương con quá trời mà không nói được một câu gì, không được đên gần nó. Mới hơn 3 tuổi đầu mà đã phải theo mẹ ra Tòa. Chắc nó chẳng biết người bố' của mình đang phải đối mặt với những vân đề phức tạp của pháp lý. Các con tôi chưa hiểu được sự oan trái mà bố' nó phải chịu. Râ't có thể, sau phiên tòa này, chúng nó phải xa bố mãi mãi. Tôi lo lắng, không hiểu chúng nó sẽ sống ra sao khi mang tiếng là con của một người bố' bị trọng tội phải ngồi tù. Chúng còn trẻ thế', biết có đứng vững không trước búa rìu dư luận. Thằng Hùng bị đuổi học rồi, còn thằng Tiến và con gái Hiền Hương sẽ như thế' nào? Nỗi oan khiên của bố', tai vạ của cả nhà. Thật phũ phàng. Tôi đang nghĩ miên man thì bỗng giật mình bởi giọng của người Thư ký phiên tòa công bố' quyết định đưa vụ án ra xét xử và đọc nội quy phiên tòa..."

Một lúc sau đó, Hội đồng xét xử xuât hiện. Chủ tọa phiên tòa là bà Phùng Lê Trân, Ủy viên Ủy ban Thẩm phán. Hội thẩm nhân dân gồm có ông Doãn Văn Tòng và bà Mạc Thị Diệu. Thư ký phiên tòa là ông Trần Văn Vị và Ngô Ngọc Kiên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao là ông Thang Văn Khuê, Kiểm sát viên. Luật sư bào chữa có ông Hoàng Văn Kế' và bà Phạm Thị Khang...

Theo lời Tạ Đình Đề' kể thì đây là lần đầu tiên ông mới tận mắt nhìn thây các vị quan tòa này. Bà Chủ tọa phiên tòa có ánh mắt rât nghiêm nhưng khuôn mặt trái xoan lại trông râ't phúc hậu. Càng nhìn bà, ông có cảm giác bình thản hơn, nôi lo lắng, hồi hộp dần dần được vơi đi phần nào.

Sau phần thủ tục kiểm tra căn cước tại phiên tòa, bà Chủ tọa mời vị Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao lên đọc cáo trạng. Dù đã được chuẩn bị kỹ về tinh thần nhưng khi nghe đến đây, con tim ông vẫn hồi hộp, lo lắng, nhói đau. Ông băn khoăn, sao vụ án được xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố' Hà Nội mà Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao lại ngồi ghế công tố? Ông tự trân an mình, việc đó không quan trọng, bây giờ hãy bình tĩnh lắng nghe ông Kiểm sát viên đọc cáo trạng như thế' nào. Ông Kiểm sát viên đứng dậy, cả khán phòng im phăng phắc. Trông vóc dáng ông ta rât oai phong dù cái đầu hơi bị hói. Ông bắt đầu đọc, giọng vang vang, rõ ràng, mạch lạc. Nhờ chât giọng khỏe khoắn, sang sảng nên bản cáo trạng số' S99/XH ngày 04-7-1975, dài 17 trang được Kiểm sát viên đọc liền một mạch. Trong đó có đoạn đã được ông Đề thuộc lòng từ trong trại giam:

Sau khi điều tra, xét hỏi, xác minh, thây nội dung vụ án như sau: Bộ Giao thông vận tải ra quyết định số2Q61/QĐ-TC ngày 17-S-197Q chuyển tô’ chức sản xuâỉ vợt bóng bàn cao su của Ban thể dục thể thao Tông cục Đường sắt đang mang tính chất HTX thủ công nghiệp thành xí nghiệp quốc doanh

lấy tên là Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt. Xưởng này có nhiệm vụ vừa tiếp tục sản xuâỉ vợt bóng bàn cao su phục vụ phong trào thể dục thể thao và cho ngoại thương xuâỉ khẩu, vừa sản xuất một số dụng cụ cao su phục vụ cho việc sửa chữa phương tiện vận tải của ngành Đường sắt, đồng thời tự đảm nhận nhiệm vụ kiến thiết xây dựng xưởng.

Tạ Đình Đề đang là Trưởng Ban TDTT Tông cục Đường sắt nay được giao trách nhiệm làm Xưởng trưởng Xưởng dụng cụ cao su, kiêm Trưởng ban KTCB của xưởng... Trong quá trình hoạt động về kinh doanh và xây dựng, Tạ Đình Đề đã lợi dụng những chức vụ, quyền hạn của mình để tô’ chức móc ngoặc làm ăn phi pháp, gây ra nhiều thiệt hại đến tài sản của Nhà nước trên s vấn đề lớn sau đây:

Tô7 chức móc ngoặc, chiếm dụng thiết bị máy móc của Nhà nước đem về xưởng sử dụng lung tung. Đề đã tô’ chức móc ngoặc, hối lộ bằng nhiều cách để chiếm dụng tài sản của Nhà nước trị giá gần nửa triệu đồng đưa về Xưởng dụng cụ cao su để sử dụng bừa bãi, gây lãng phí và thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, vật tư của Nhà nước và đã lũng đoạn làm hư hỏng cán bộ của một số cơ quan, gây rối về mặt tô’ chức, quản lý cán bộ.

Vấn đề phá lẻ thiết bị toàn bộ nhà máy đắp lốp ô tô do nước ngoài viện trợ. Toàn bộ máy móc, thiết bị hoàn chỉnh để xây dựng một nhà máy đắp lốp do nước ngoài viện trợ trị giá tạm tính gần một triệu đồng đã bị bọn Đề xé lẻ để giao bớt cho nhà máy đắp lốp của Cục vận tải ô tô; để đưa vào sử dụng cho Xưởng dụng cụ cao su, để bán và để han rỉ mât mát, làm hư hỏng, trong khi Nhà nước đang có yêu cầu xây dựng.

Vân đề sử dụng vốn kinh doanh trái chính sách, chế độ, lập quỹ trái phép, tô7 chức làm ăn phi pháp và tham ô. Ban TDTT Tông cục Đường sắt là một đơn vị hành chính sự nhiệp, được TCĐS câp kinh phí riêng để phục vụ cho các hoạt động TDTT của ngành Đường sắt. Nhưng trong quá trình quản lý hai đơn vị này hoạt động, Tạ Đình Đề đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình, tôôchức kinh doanh, sản xuât trái phép, chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác để lập quỹ trái phép và có nhiều hành động vi phạm khác, gây rối loạn về mặt quản lý kinh tế tài chính để tham ô, tạo ra nhiều sơ hở cho những phần tử xâu lợi dụng làm bậy...

Về' trách nhiệm của Tạ Đình Đề, bản cáo trạng nhấn mạnh: Sử dụng tiền vốn kinh doanh, sản xuâỉ trái chế độ, nguyên tắc; Tô7chức sản xuât, kinh doanh sai chế độ, nguyên tắc như in gia công, sản xuât vôi ve, buôn bán túi polyetylen; sản xuâỉ dép nhựa... Về' phần này, bản cáo trạng kết luận: Về mặt tô’chức kinh doanh, sản xuât, sử dụng tiên vốn, Đề đã có nhiều chủ trương rât bừa và ẩu, vi phạm rât trắng trợn các nguyên tắc, chế độ, thể lệ của Nhà nước. Tại bộ phận sản xuâỉ của xưởng, Đề đã cho rút tiền vốn ra chi tiêu sai chế độ nguyên tắc là 19O.O1Sđ (trong đó có cả khoản lOO.OOOđ chuyển

sang ban TDTT để lập quỹ trái phép). Đã lập ra hai quỹ trái phép: Tại bộ phận kiến thiết cơ bản của xưởng là l62.5l9đ (trong đó có tham ô và đưa hối lộ mới xác định được 6.357đ và tại Ban thể dục thể thao là 262.74lđ. Trong đó đã tham ô tập thể, tham ô cá nhân và chi sai nguyên tắc l5S.23lđ, gây thiệt hại tài sản xã hội chủ nghĩa 254.606đ...

Bản cáo trạng được ông Kiểm sát viên tiếp tục đọc: Chỉ ba vấn đê" lớn trên đây, thấy từ năm l97l-l974, Tạ Đĩnh Đê" đã lợi dụng chức vụ quyên hạn được giao để cầm đầu tô’ chức đi móc ngoặc, hối lộ, làm ăn bừa bãi bấỉ chấp mọi chế độ nguyên tắc vê kinh tế tài chính như: Chiếm dụng 79 loại máy móc thiết bị của Nhà nước trị giá gần nửa triệu đông đưa vê" xưởng sử dụng lung tung, làm mất mát, hư hỏng; Dùng thủ đoạn gian dối để được nhận toàn bộ thiết bị một nhà máy đắp lốp ô tô; Tô7chức sản xuấỉ, kinh doanh trái phép, chi tiêu sai chế độ nguyên tắc và lập ra quỹ trái phép gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản XHCN, gây rối loạn vê" mặt quản lý vật tư, tiên vốn và nhân lực. Riêng Đê"đã tham ô ll.S25đ và tạo ra nhiêu sơ hở cho đông bọn lợi dụng tham ô.

Về sai phạm trong việc tuyển người vào làm việc, Kiểm sát viên nhân mạnh: Ngoài việc tô’ chức chiếm dụng thiết bị máy móc của Nhà nước, phá lẻ thiết bị toàn bộ một nhà máy đắp lốp và tô’chức kinh doanh, sản xuất, sử dụng tiên vốn sai chế độ, nguyên tắc như trên, trong việc tuyển dụng

người vào biên chế của Xưởng, Đề cũng tùy tiện, không dựa theo chỉ tiêu kế hoạch nào cả. Theo kết quả kiểm tra của Đoàn Thanh tra Bộ Lao động, tính đến tháng 5-1974, Xưởng dụng cụ cao su có 454 người, trong đó có 70 người từ tô’sản xuất vợt bóng bàn cũ chuyển sang, 153 người do Tổng cục Đường sắt điều động từ các đơn vị khác trong ngành đến và 231 người do Tạ Đình Đề tự tuyển dụng ở xung quanh nội, ngoại thành Hà Nội. Đây là một việc làm trái với quyết định của Bộ Giao thông vận tải số 2061/QĐ-TC ngày 17-8-1970. Đặc biệt, trong số người Đề tự tuyển dụng vào xưởng có 17 người đã bị cải tạo từ 1 năm đến 20 năm, gồm đủ các loại tội: gián điệp, ngụy quân, ngụy quyền có tội ác, tham ô móc ngoặc hôi lộ và buôn gian bán lậu; có 6 người trốn nghĩa vụ quân sự và 19 người ở các cơ quan khác tự động bỏ việc hoặc bị điều động đi nơi khác không đi; Có 58% không đủ thủ tục giây tờ cần thiết. Đề còn lập ra một đội văn công 43 người (thời gian đông nhât 60 người) tuy với danh nghĩa là bán chuyên nghiệp, nhưng các năm 1973, 1974 coi như hoàn toàn thoát ly sản xuất để đi phục vụ theo yêu cầu của Tổng cục Đường sắt. Đây là một việc làm trái với Quyết định 199/CP của Hội đồng Chính phủ.

Vẫn giọng sang sảng, Kiểm sát viên đọc phần kế't của bản cáo trạng: Tạ Đình Đề, sinh năm 1917... can tội: Cầm đầu, chỉ huy đồng bọn, cốý làm trái nguyên tắc, chế độ, thể lệ về kinh tế tài chính và tô’ chức kinh doanh trái phép để

lập ra 2 quỹ trái phép là 425.26Qđ93, chi tiêu sai chế độ nguyên tắc 19Q.Q1Sđ, gây thiệt hại cho công quỹ 25Q.6Q6đ93; Chủ mưu hối lộ cán bộ trong việc chiếm dụng 79 loại thiết bị, máy móc của Nhà nước trị giá gần nửa triệu đông, thiết bị toàn bộ nhà máy đắp lốp trị giá gần 1 triệu đông. Riêng Đề mới thú nhận tham ô có 11.S25đ, phạm vào Điều S và 12 Pháp lệnh số' 149 ngày 23-1Q-197Q, Điều 1 Sắc lệnh 223/SL ngày 17-11-1946 và Điều 1 Sắc lệnh QQ1/SL ngày 19-4-1957 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Lúc này ngồi trước mặt tôi là một ông cụ gầy yếu hom hem, già trước tuổi, tưởng như ông lão 90, chỉ còn đôi mắt sáng. Ông kể’ và nói vanh vách những nội dung bản cáo trạng quy tội cho mình sao mà chính xác đến thế'. Tôi mở cặp lây bản cáo trạng được phô tô từ

h

Ạ'             A' 4Ạ’       4 A'* I* 'S'            1            1 _ ^                     _    ,1 Ạ' _ _ •       _       •           _1                __                \                  ÍTI

ồ sơ gốc để đối chiếu, không thây sai nội dung nào. Tạ Đình Đề quả là người có trí nhớ phi thường.

Sau phần nêu hành vi phạm tội của Tạ Đình Đề là phần kết tội đối với 13 bị cáo khác. Ông Kiểm sát vừa dứt lời, lúc đầu hội trường im phăng phắc nhưng sau đó thì tiếng xì xào nổi lên rồi cả khán phòng bàn tán, xì xầm.

Nghe ông Đề kể’ đến đây, tôi hỏi: Sau khi nghe Kiểm sát viên đọc cáo trạng, ông có suy nghĩ gì không? Ông nhìn thẳng vào mắt tôi, lắc đầu: "Điều đầu tiên tôi nghĩ, thế là hết niềm tin và hy vọng ở cơ quan giám sát pháp luật rồi. Vì lẽ, sự việc đi mua, đi xin máy móc bị bắn phá, để hư hỏng thì không sao, được cấp trên cho phép mua về sản xuất, người thợ có việc làm, sản xuất có lãi. Những mặt hàng do đôi tay khéo léo của người thợ chúng tôi cộng với máy móc mua về ngày càng tinh xảo, xuất khẩu đổi lấy máy hơi nước về cho ngành Đường sắt thì bị quy tội móc ngoặc, làm ăn phi pháp. Thậm chí, bản cáo trạng còn kết luận một câu nghe mà nổi cả da gà rằng, hành vi đó đã gây ra nhiều thiệt hại đến tài sản của Nhà nước. Chán quá".

Kể đến đây ông lại lắc đầu, nhìn xa xăm. Với nhịp câu chuyện đang theo mạch người kể^, tôi hỏi ông: "Còn việc tuyển dụng công nhân của ông, bản cáo trạng quy là vi phạm, tùy tiện, không theo kế' hoạch, tuyển cả những người là ngụy quân, ngụy quyền, cả những người đi tù về và có cả những người bị kỷ luật. Ông nghĩ thế nào về kế't luận này của bản cáo trạng?"

Câu hỏi này đúng với mạch suy nghĩ của ông, giọng kể sôi nổi hơn: "Tôi hỏi lại đồng chí nhé, người đi tù về, ngụy quân, ngụy quyền và những người đã bị kỷ luật thì họ cũng là con người phải không? Đã là con người thì họ cần phải ăn, phải mặc và phải nuôi vợ nuôi con. Muốn vậy họ phải có công ăn việc làm. Không cho họ có việc làm thì họ sẽ sống ra sao? Không nhẽ để họ đi ăn trộm, ăn cướp ư? Trong số họ có những người rất có

tài và mong được có việc làm lương thiện để cống hiến cho đời như nhà viết kịch nổi tiếng Lưu Quang Vũ, nhạc sĩ tài ba Phan Lạc Hoa và cầu thủ bóng đá lừng danh Vũ Quang Minh... Họ có tội tình gì mà cứ mặc cảm với quá khứ lý lịch vậy? Đất nước đã liền một giải, cùng phấn đấu đi lên xây dựng chế độ mới thì không nên nhấn mạnh đến vấn đề' lịch sử bản thân con người, mà phải        biết    sử dụng  và  khơi dậy      tài        năng    của                 mỗi

người, góp phần xây dựng đất nước".

Qua câu chuyện từ hồi ức của Tạ Đình Đề' như đã lược thuật ở trên, tôi nghĩ, ông là một chiến binh mộc mạc, thẳng thắn nhưng lại có trái tim nhân hậu, thương người, có lòng vị tha và bao dung rất mực. Những suy nghĩ và việc làm của ông luôn luôn hướng tới con người và vì con người. Thế' mà, ông lại trở thành tội phạm nghiêm trọng. Thật đau xót cho một thân phận, số kiếp con người! Trong vụ án này ông là bị cáo đầu vụ. Cho nên, trong phần thẩm vấn, ông sẽ là bị cáo được xét hỏi đầu tiên. Nghĩ vậy, tôi hỏi ông: "Trong phần xét hỏi tại Tòa diễn ra như thế' nào hả ông?"

Tạ Đình Đề: "Tôi là bị cáo được xét hỏi đầu tiên. Tôi còn nhớ, bà Chủ tọa có giọng nói rất nhẹ nhàng, trong trẻo và rõ ràng. Bà Chủ tọa mời tôi đứng lên trước vành móng ngựa. Không hiểu ai là người đã nghiên cứu ra cái vành móng ngựa, mà khi đứng vào đấy tôi có cảm thấy mình thật nhỏ nhoi mà Hội đồng xét xử thì quyền uy quá lớn. Nghĩ vậy, tôi nhìn lên Hội đồng xét xử, tim tôi đập thình thịch, hai chân run lên chựt ngã. Hội trường im phăng phắc... Tôi lướt nhìn vòng cung vành móng ngựa, chợt nghĩ đên bản cáo trạng đã dồn tôi vào thê' bị bao vây tứ phía như vành móng ngựa này, nêu không bình tĩnh, chiên đấu phá vòng vây như người chiên binh năm xưa thì chắc chắn sẽ bị tiêu diệt. Tôi nuôt nước bọt, lấy hơi, thở ra đều đều cho con tim đập chầm chậm lại để bình tĩnh trả lời các câu hỏi thẩm vấn một cách chính xác, với tinh thần tiên công, lấy sự thật và lý lẽ làm vũ khí.

Bà Chủ tọa hỏi: Theo cáo trạng, bị cáo đã có hành vi tổ chức móc ngoặc, chiêm dụng thiê't bị máy móc của Nhà nước đem về xưởng sử dụng lung tung. Bị cáo hãy trình bày rõ hành vi này? Trông ngực tôi vẫn đập thình thịch, hai đầu gối run run. Tôi nuôt nước bọt, nhìn bà Chủ tọa, trả lời đại ý: Kính thưa Hội đồng xét xử. Tôi được cấp trên giao nhiệm vụ lãnh đạo ba đơn vị: Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt, Ban thể dục thể thao và Ban kiên thiết cơ bản. Trong hoàn cảnh khó khăn do chiên tranh phá hoại của giặc Mỹ gây ra, vôn của Nhà nước giao cho thì có hạn, máy móc phương tiện sản xuất thiêu trầm trọng. Trong lúc đó, nhiệm vụ kê' hoạch được cấp trên giao ngày càng nặng nề. Bản thân thì muôn đơn vị ngày càng phát triển, có đủ các máy móc thiết bị cho anh em công nhân làm việc. Vì vậy, chúng tôi phải đi liên hệ với các cơ quan để xin nhượng lại cho đơn vị những máy móc, vật tư chưa sử dụng, để vương vãi tại các ga và cảng biển. Anh em chúng tôi bàn với nhau: Người ta cho thứ gì thì xin thứ đó đưa về cho đơn vị. Thứ gì cần thì đưa vào sử dụng, thứ gì không cần thì cho mượn hoặc nhượng bán. Riêng toàn bộ thiết bị đắp lốp được câp trên nhâ't trí cho đơn vị. Tóm lại, chúng tôi gặp cái gì cũng xin về, cũng mua về cho đơn vị. Mục đích của chúng tôi không có gì hơn là muốn có nhiều máy móc để tạo thêm công ăn việc làm cho công nhân đồng thời sản phẩm làm ra ngày càng có chât lượng tốt hơn. Thật tình mà nói chúng tôi hoàn toàn không có tư túi gì cả.

Tôi vừa nói đến đây, cả khán phòng vỗ tay nhiệt liệt. Ngoài sân cũng vang lên tiếng vỗ tay của những người đến theo dõi phiên tòa. Tôi cảm thây mình như được tiếp thêm tinh thần và sức mạnh từ những tiếng vỗ tay ây.

Chờ cho tiếng vỗ tay ngừng hẳn, bà Chủ tọa hỏi: Bị cáo khai về hành vi không châp hành nghiêm chỉnh các chính sách, nguyên tắc tài chính, gây thiệt hại đến nguồn vốn lưu động 180.518đ70. Tôi đã chuẩn bị khá kỹ nội dung này từ lúc ở trong nhà giam nên bình tĩnh trình bày trước Tòa: Theo bản kiểm kê ngày 01-4-1971, trừ các khoản nợ vay ban đầu, các khoản nợ phải trả thì kế't quả sản xuất của đơn vị thời gian qua là có lãi. Con số' lãi cụ thể là 221.888đ33. Con số' này là căn cứ vào kế't quả kiểm kê của đơn vị. Tôi đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào bản kiểm kê ngày 01-4-1971 để đánh giá thiệt hại. Bản kiểm kê đó là tài liệu chứng cứ rất khách quan. Bản cáo trạng kết luận thiệt hại 180.518đ70 là không thực tế. Không hiểu số liệu này quý Viện lấy ở đâu ra? Do đó, thực chất không có bất cứ điều gì gây thiệt hại đến nguồn vốn.

Tôi vừa dứt lời thì những tràng vỗ tay nhiệt liệt lại vang lên trong và ngoài khán phòng.

Bà Chủ tọa tiếp tục yêu cầu tôi trả lời hành vi lập quỹ trái phép. Tôi bình tĩnh trả lời: Tôi được lãnh đạo Tổng cục Đường sắt giao nhiệm vụ làm thủ trưởng ba đơn vị: Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt, Ban thể dục thể thao và Đội kiến thiết cơ bản. Mỗi đơn vị có tư cách pháp nhân riêng và có tài khoản riêng. Tuy nhiên, theo quyết định của lãnh đạo Tổng cục, các tài khoản đó đều do tôi làm chủ tài khoản. Về việc chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác là có thật. Nhưng các tài khoản đó đều do tôi làm chủ. Mặt khác, trong quá trình sản xuất do anh em nhiệt tình và cải tiến kỹ thuật nên năng suất lao động không ngừng tăng lên, nhờ vậy ngoài nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước, đơn vị đã có lãi. Chúng tôi đã sử dụng các khoản lãi đó vào lợi ích chung của đơn vị, chứ hoàn toàn không phải cho bất cứ lợi ích cá nhân nào.

Tất cả các khoản tiền thu được của từng đơn vị đều được chuyển vào các tài khoản trên đây. Các tài khoản này được lập tại ngân hàng và chịu sự giám sát của họ. Ngoài ra, đơn vị không có khoản tiền nào để riêng và cũng không có tài khoản nào cả. Như vậy, rõ ràng ba tài khoản của ba đơn vị do tôi làm chủ là được phép của cấp trên, không phải các tài khoản ấy được lập trái phép như kết luận của cáo trạng. Đến bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao cáo trạng lại quy kết tôi lập quỹ trái phép? Số' tiền của ba đơn vị thể hiện trên ba tài khoản rất rõ ràng, không thể thêm bớt được. Chúng tôi đề' nghị Hội đồng xét xử, căn cứ vào các nguyên tắc của việc thiết lập tài khoản tại ngân hàng để xem xét thật khách quan cho tôi về' quy kết này của bản cáo trạng.

Khi tôi trả lời đến đây, những tràng pháo tay lại nổ như sấm dậy. Sự bình tĩnh, tự tin của tôi một phần nhờ thế được nâng lên rất nhiều.

Bà Chủ tọa lại "xoay" sang vấn đề khác. Bà hỏi tôi: Trong bản cáo trạng của Viện kiểm sát có quy kết về hành vi chi thiết đãi và biếu xén. Bị cáo hãy khai rõ hành vi này diễn ra như thế' nào? Hậu quả ra sao?

Nội dung câu hỏi này đã được tôi khai báo đầy đủ trong quá trình điều tra. Thời gian nằm trong trại giam tôi đã suy nghĩ rât kỹ về "nó". Việc chi cho anh em như vậy là có, nhưng thật ra không lớn và cũng chỉ xuât phát từ lòng thương yêu, quý trọng công sức người lao động. Hơn nữa, pháp luật cho phép người thủ trưởng được làm việc đó. Nghĩ vậy, tôi nhìn bà Chủ tọa trả lời: Kính thưa Hội đồng xét xử. Bị cáo thừa nhận, trong quá trình chỉ đạo sản xuât, chỉ đạo thi đâu thê’ thao, văn nghệ... tôi có chi liên hoan cho anh em một số' lần. Nhưng việc sử dụng tiền đê’ chi cho các cuộc liên hoan đó là lây từ tiền lãi của đơn vị và theo chúng tôi nghĩ đó cũng là việc làm cần thiết để động viên tinh thần anh em công nhân vào các dịp lễ tết. Đối với các vận động viên thì việc chi mua nước uống và chi liên hoan cũng chỉ nhằm động viên tinh thần thi đâu của họ. Mặt khác, số' tiền bỏ ra cho những cuộc liên hoan ây cũng không đáng là bao. Trong lúc đó, nó lại có tác dụng thiết thực trong việc động viên tinh thần làm việc, tinh thần thi đâu của anh em. Đồng thời, những việc làm đó hoàn toàn không phải vì lợi ích cá nhân của bât cứ ai mà xuât phát từ lợi ích của anh chị em công nhân, của đơn vị, của tập thể.

Bà Chủ tọa hỏi tiếp: Trong bản cáo trạng có khẳng định, bị cáo đã có hành vi tham ô 11.S25đ. Bị cáo khai rõ về vân đề này? Tôi nhìn bà Chủ tọa, trả lời: Số' liệu được nêu lên trong bản cáo trạng là căn cứ vào sô' liệu của Đội kiên thiết cơ bản. Nhưng việc kiên thiết cơ bản chưa được quyêt toán do công trình chưa hoàn thành. Do vậy, không thể lấy sô' liệu của công trình chưa hoàn thành để quy kêt cho tôi phạm tội tham ô được. Trong suô't thời gian 3 năm làm công tác thể dục thể thao, môi lần tổ chức các hoạt động hay đi thi đấu thì tôi có tạm ứng tiền quỹ của Ban thể dục thể thao (trên 4.000đ) để chi nước uống, bồi dưỡng vận động viên... Việc chi này cũng là nhằm cổ vũ kịp thời anh em vận động viên, hoàn toàn không phải chi cho cá nhân. Mặt khác, tôi là Trưởng Ban thể dục thể thao nên việc quyêt định chi như vậy cũng là hợp lý.

Sau khi tôi trả lời xong câu hỏi do Chủ tọa phiên tòa đưa ra, trong phòng xử án và ngoài sân, những tràng pháo tay lại nổ ra giòn tan.

Chờ cho tiêng vô tay dứt hẳn, bà Chủ tọa mới tiêp tục đưa ra câu hỏi tiêp: Bị cáo khai rõ hành vi biêu xén, đưa và nhận hôi lộ được diễn ra như thê' nào? Về' nội dung này tôi cũng đã chuẩn bị kỹ càng. Tôi trả lời: Trong quá trình thi đấu giao lưu bóng bàn đơn vị tôi có biêu tặng các đội tham gia một sô' đôi vợt. Ví dụ như tặng cho cấp ủy và chính quyền khu Ba Đình 20 đôi. Hoặc là, trong dịp hội nghị biên giới do Tổng cục Đường sắt chủ trì và Đoàn thanh niên đi dự hội nghị nước ngoài, tôi có tặng cho mỗi đối tác khoảng 10 đôi vợt... Việc tặng vợt bóng bàn không có mục đích gì hơn ngoài việc quảng bá sản phẩm do Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt làm ra. Vả lại, giá trị các đôi vợt bóng bàn làm quà tặng đó không đáng là bao. Thiết nghĩ, đây là hoạt động bình thường của Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt chứ không phải đưa hối lộ hoặc biếu xén sai nguyên tắc mà bản cáo trạng đã quy kế't.

Còn việc tôi bị Viện kiểm sát truy cứu về tội nhận hối lộ thì bản thân đã có lời khai trước đây với cơ quan chức năng. Nay Hội đồng xét xử yêu cầu khai báo rõ, tôi xin thưa rằng: Trong thời gian vợ tôi sinh cháu gái thứ 3, sức khỏe mẹ con râ't yếu. Một số' bạn bè, đồng nghiệp có đến thăm và đã cho mây thứ như trứng gà, gạo nếp, ruốc ăn... Tôi nghĩ, việc làm ây xuât phát từ tình cảm bạn bè, đồng nghiệp đối với nhau trong lúc khó khăn chứ không nhằm vào mục đích mua chuộc hối lộ cán bộ gì cả. Cả người biếu và người nhận đều hế't sức vô tư trong sáng, thưa quý Tòa".

Nghe ông kể, không khí sôi động của phiên tòa trước đây lại ùa về trong tâm trí tôi...Khi nghe ông Đề khai trước tòa, khiến tôi có cảm xúc bán tín, bán nghi. Lúc đầu, ngắm nhìn người ông hom hem, tiều tụy, bộ mặt nhàu nhỉ, khắc khổ, tôi không muốn công nhận một sự thực đây lại là Tạ Đình Đề mà trước kia tôi vẫn tưởng tượng. Đến khi nghe ông phát biểu, trả lời các câu hỏi của Hội đồng xét xử một cách rõ ràng, giản dị, sắc sảo, khiêm nhường nhưng vẫn đầy ắp sự thuyết phục. Lúc ấy tôi mới dần dần nhận ra rằng, ông già kia đích thực là nhân vật huyền thoại trong trí tưởng tượng của tôi.

Tạ Đình Đề kể tiếp: "Vẫn như những lần trước, tiếng vỗ tay của người dự phiên tòa lại vang lên đầy phấn chấn. Bà Chủ tọa giơ tay ra hiệu giữ trật tự và yêu cầu vị đại diện đơn vị chủ quản lên phát biểu ý kiến về những thiệt hại của đơn vị do hành vi phạm tội của các bị cáo gây nên mà cáo trạng đã quy kế't. Ông kể tiếp:

"Ông Hà Đăng Ấn, Tổng cục trưởng phát biểu trước rồi đến ông Vạn Lịch, Giám đốc Xưởng dụng cụ cao su phát biểu. Hai ông đều cho rằng, việc ông Đề quyết định thưởng cho những người có sáng kiến cải tiến là hợp lý. Chi tiêu tuy có sai nhưng không gây thiệt hại cho đơn vị. Hai ông còn biểu dương ông Đề đã chỉ huy đơn vị sản xuất phát triển, hoàn thành tốt nhiệm vụ trên giao. Từ một đơn vị ban đầu còn nghèo nàn đến nay Xưởng dụng cụ cao su Đường sắt đã được mở rộng khang trang, giải quyết công ăn việc làm cho rất nhiều người và thực sự làm ăn có lãi.

Khi phát biểu về nội dung bản cáo trạng quy kế't việc xé lẻ thiết bị, các ông đã nói rõ việc xé lẻ thiết bị là được phép của lãnh đạo cấp trên và việc làm này của ông Đề đã góp phần tạo công ăn việc làm cho công nhân viên, sản phẩm làm ra ngày càng có chất lượng. Về công tác kiến thiết cơ bản, các ông khẳng định: Dưới sự chỉ huy của ông Đề, mới chỉ 2 năm đơn vị đã hoàn thành khối lượng công việc mà chương trình đề ra là 4 năm. Đây là sự cố gắng rất lớn của đơn vị và cá nhân ông Đề. Mặt khác, những khoản mà cáo trạng quy kết cho ông Đề có hành vi tham ô, chi tiêu sai nguyên tắc, chế' độ liên quan đến phần kiến thiết cơ bản thì đã được Cơ quan điều tra tách ra để điều tra sau. Nên thiết nghĩ không được coi là căn cứ kết tội cho ông Đề.

Khi bà Chủ tọa hỏi những quy kết của bản cáo trạng về việc bị cáo lập ra đội văn công và chi sai nguyên tắc cho 60 người của đội văn công Đường sắt, ông Hà Đăng Ấn phát biểu: "Việc lập ra đội văn công Đường sắt là có quyết định của Tổng cục Đường sắt. Mọi chi phí cho đội văn công lấy từ quỹ phúc lợi của Xưởng dụng cụ cao su. Hơn nữa, trong thời gian chiến tranh phá hoại ác liệt, đội văn công Đường sắt đã không quản gian khổ, hy sinh để phục vụ anh chị em công nhân và bà con nhân dân. Hoạt động của đội văn công Đường sắt đã góp phần khơi dậy tinh thần lao động quên mình của anh chị em công nhân Đường sắt, dưới mưa bom bão đạn của giặc Mỹ. Đó là thành quả rất lớn, đáng ghi nhận của đội văn công Đường sắt. Sau đó, cả hai ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho tôi.

Tôi rưng rưng trong lòng khi nghe hai ông thay mặt cho đơn vị chủ quản phát biểu. Như vậy, trong cuộc chiến đâu vì công lý và lẽ phải tôi không hề bị đơn độc chút nào. Xung quanh mình còn có rât nhiều người trung thực dám đứng ra bảo vệ cái đúng mà không sợ bị hệ lụy tới vị trí công tác của mình. Còn người dân thì nhiệt thành ủng hộ cách làm của tôi đối với quá trình sản xuât. Nghĩ vậy, khóe mắt tôi cay cay, không hiểu tôi có ứa nước mắt hay không nhưng phải nói là rât xúc động. Niềm xúc động càng dâng cao thêm khi tiếng vỗ tay, tiếng hò reo của quần chúng nhân dân vang lên sau phát biểu của ông Hà Đăng Ấn và ông Vạn Lịch".

Do chuẩn bị kỹ càng nên tôi cảm nhận được lời khai của mình trước phiên tòa râ't rõ ràng, mạch lạc. Hy vọng của tôi ra trước phiên tòa để giải bày sự thật, quả là được đền đáp. Có lẽ nhiều người dự phiên tòa cũng rât ngạc nhiên khi thây tôi trả lời các câu hỏi của quý Tòa một cách sắc sảo và có lý có tình như vậy. Âm sắc giọng nói tương phản với vóc dáng gầy gò và nước da xanh xao của tôi. Thực ra, tôi chỉ nói ra đúng sự thật những việc mình và đồng nghiệp đã làm mặc dầu sự thật ây đã bị bóp méo, bôi bẩn. Từ trong ngục tù tôi đã cố' gắng không để trượt mât niềm tin. Tại phiên tòa hôm nay, tôi đã trình bày với một niềm tin ngày càng được củng cố' là sự thật nhất định sẽ được soi sáng, như bầu trời sau mưa sẽ trong trẻo trở lại. Chẳng hiểu sao lúc ấy tôi bất chợt nhớ tới một câu thơ của Bác Hồ: Hết mưa là nắng hửng lên thôi. Có lúc tôi đã mất niềm tin với việc điều tra, với người lập bản cáo trạng. Người xưa đã nói: Tạo dựng niềm tin rất khó, nhưng đánh mất nó thì rất nhanh. Tuy nhiên, tôi không thể mất lòng tin vào Đảng và Bác Hồ mà cả đời tôi đã chiến đấu hy sinh và tận tâm xây dựng."

Phiên tòa tiếp tục diễn ra suố't sáu ngày. Mỗi ngày qua đi lại cho tôi niềm tin vào công lý, cho tôi thấy rõ thế' nào là sức mạnh của sự thật và sự đồng cảm của của nhiều người cổ vũ cho cái mới, cái tốt được nảy nở vì hạnh phúc của con người!



[1] Nhà số' 221B/1A, phố' Trần Huy Hiệu, quận Phú Nhuận, thành phố' Hồ' Chí Minh.

   

[2]    Số' 106, nhà A3, ngõ 221, đường Lê Duẩn, Đống Đa, Hà Nội.

   

[3] Văn bản số 320/G6-TL ngày 05-10-1954 do Thiếu tướng Trần Sâm, Cục trưởng Cục Quân lực ký.

[4]    Bản án sơ thẩm số' 56-HS2/ST ngày 12-6-1976, trang 17.

   

[5]    Tạp chí Giáo dục và thời đại tháng 7 năm 1994.

   

[6]         Số' nhà 220, đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 21, quận Phú Nhuận, thành phố' Hồ Chí Minh.

   

[7]    Báo Thể thao và Văn hóa ngày 15-10-2012.

   

[8] Báo Thanh niên ngày 02-5-2014.

   

[9] Tạp chí Giáo dục và thời đại tháng 7-1994.

   

Chia sẻ cảm nhận của bạn

Tin liên quan

TẠ ĐÌNH ĐỀ - NHỮNG GÓC KHUẤT CUỘC ĐỜI

TẠ ĐÌNH ĐỀ - NHỮNG GÓC KHUẤT CUỘC ĐỜI

Bình luậnNgười đăng: Admin

TẠ ĐÌNH ĐỀ - NHỮNG GÓC KHUẤT CUỘC ĐỜI Xem thêm

KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT ÁN PHỤ NỮ

KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT ÁN PHỤ NỮ

Bình luậnNgười đăng: Admin

KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT ÁN PHỤ NỮ Xem thêm

THƠ: NHỮNG ĐÊM TRĂNG MÊNH MANG

THƠ: NHỮNG ĐÊM TRĂNG MÊNH MANG

Bình luậnNgười đăng: Admin

THƠ: NHỮNG ĐÊM TRĂNG MÊNH MANG Xem thêm

TUYỂN CHỌN CÁC VỤ ÁN GĐT

TUYỂN CHỌN CÁC VỤ ÁN GĐT

Bình luậnNgười đăng: Admin

TUYỂN CHỌN CÁC VỤ ÁN GĐT Xem thêm

THEO DÒNG CÔNG LÝ

THEO DÒNG CÔNG LÝ

Bình luậnNgười đăng: Admin

THEO DÒNG CÔNG LÝ Xem thêm