Dương Thanh Biểu và những âm hưởng tình người trong phá án!

8 tháng trước - Bởi Admin

Hơn nửa cuộc đời cống hiến cho ngành Kiểm sát, bao nhiêu năm trong nghề, để được như ngày hôm nay ngoài sự nỗ lực của bản thân, ông luôn  học hỏi, tự rút  kinh nghiệm sau mỗi thành công hoặc  thất bại, sau những thuận lợi hoặc khó khăn. Và trong mỗi vụ án, ông luôn tự răn mình rằng, dù trong hoàn cảnh nào cũng phải làm đúng lương tâm và trách nhiệm cao nhất, bởi vì đằng sau những trang hồ sơ vụ án, không chỉ là tội phạm mà còn là số phận của mỗi con người… Đảm nhận trọng trách một Công tố cấp cao, ông từng tham gia quyết định sinh mệnh của không ít những nhân vật đặc biệt. Ông là TS. Dương Thanh Biểu – nguyên Phó Viện Trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao ( VKSNDTC).

TS Dương Thanh Biểu, nguyên Phó Viện trưởng VKSNDTC

Bài học đầu đời

Ông là người dễ gần, dễ chia sẻ và thẳng thắn. Ấn tượng của tôi về ông là như thế. Ông bảo, làm nghề như ông mà né tránh sự thật, né tránh dư luận thì không bao giờ mang lại công bằng, công lý cho xã hội được. Vì sự thật là sức mạnh nên cái gì là sự thật, thì hãy luôn đối thoại với nó bằng sự thật. Kinh nghiệm 35 năm trong nghề và chất lính của một cựu chiến binh nên tâm đức ông đã tỏa sáng bản lĩnh đó.

Sinh thời cùng ông, chắc rằng giờ chẳng có bao nhiêu người tự hào ngày xưa là mình sung sướng và có cuộc sống no đủ cả. Với ông cũng thế. Sinh ra khi đất nước đang trong cuộc chiến chống thực dân Pháp, cả ông và gia đình bên dòng Lam Giang êm đềm phải ly tán mỗi người một ngả. Lớn lên, khi mới qua tuổi thiếu niên, năm 1968 ông đang học gần hết cấp 3 đã xung phong vào bộ đội rồi đi B trong cuộc chiến chống Đế quốc Mỹ. Khi Hiệp định Paris được ký kết, ông ra Bắc điều trị cùng vết thương trên người. Loáng một cái, 35 năm trôi qua. Giờ ông đã nghỉ hưu, yên bề cùng vui với con cháu. Và ông gọi đó là tuổi xế chiều như câu thơ ông tặng đồng đội: Cuộc sống xế chiều hay nghĩ lại ngày xưa/Những năm tháng hào hùng không có gì đổi được/…

Những hồi tưởng của ông trong ngôi nhà riêng với tôi thường ngắt quãng bởi những cuộc điện thoại của người con hỏi ông về việc đưa cháu đi học. Rồi ông kể cho tôi những câu chuyện về những ngày đầu vào ngành Kiểm sát, những ký ức về cuộc sống thời bao cấp bằng tem phiếu và nhiều hơn cả là bao kỷ niệm về 35 năm trong nghề.

“Tính mình hay hồi tưởng, hay nhớ về ký ức một thời khó khăn, bom đạn, cả những người đồng đội đã ngã xuống cho sự bình yên của đất nước. Thời gian rảnh, tôi dành để ghi lại những ký ức đó trên những trang sách tặng bạn bè. Đó cũng là một niềm vui tuổi xế chiều”, ông bắt đầu câu chuyện với tôi như thế.

Ông sinh ra và lớn lên ở làng Ngũ Phúc, xã Nam Lộc, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Làng quê mà ông bảo “nghèo khó lam lũ trong cảnh thiên nhiên xứ Nghệ thơ mộng nhưng cũng rất khắc nghiệt” đã nuôi ông khôn lớn. Ở đó, có một gia đình yêu dấu và cả một người bạn gái là mối tình đầu của ông

Năm 1973, trong trận đánh cắm cờ phía bắc Võ Định (Kon Tum), ông bị thương nặng phải chuyển ra tuyến sau điều trị. Viết thương đỡ được phần nào, ông hối hả trở về quê nhà để thắp lên mộ song thân nén hương muộn mằn mà trong những ngày ở chiến trường ông không thể về kịp. Rồi ông nóng lòng sang nhà người bạn gái, sau bao nhiêu năm xa cách, nhớ nhung, ông hồ hởi mong gặp để thưa chuyện lâu dài, nhưng hỡi ôi… tình yêu đầu đời của ông đã bị bom Mỹ giết chết ở bến sông bên dòng Lam Giang trong một lần đi học về muộn.

Những ngày trở về thăm quê hương, ông chứng kiến cảnh anh em ly tán mỗi người một nơi, ngôi nhà nhỏ ngày xưa đầy ắp tiếng cười giờ chỉ là mái lá mục nát, hoang tàn.

Mang nặng trĩu nỗi buồn của ngày trở về, ông cùng những thương binh trước cùng điều trị được chuyển về đoàn 235 thuộc Quân khu Việt Bắc đóng ở Bình Xuyên, Vĩnh Phúc. Một buổi sáng tháng 10/1974, ông và các đồng đội nhận lệnh có mặt đúng từng giây, từng phút tại Ban chỉ huy Đoàn. Đồng chí thủ trưởng Đoàn 325 giới thiệu có các đồng chí ở Vụ Tổ chức cán bộ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao lên đây làm việc về công tác nhân sự. Và bắt đầu giây phút này, ông chính thức bước vào ngành Kiểm sát nhân dân và phục vụ liên tục 35 năm tiếp sau đó.

Những đồng đội của ông cùng thế hệ được tuyển chọn và đi học ngành kiểm sát ngày ấy sau này đều rất thành đạt, giữ những chức vụ quan trọng trong ngành kiểm sát hay ngành nghề khác.
Ngày cùng đồng đội đạp xe về Hà Nội nhận nhiệm vụ, lòng ông phơi phới niềm vui – vui vì được về thủ đô – nơi mà ông từng bao lần mong ước một lần được đặt chân đến. Ông kể, “suốt chặng đường đạp xe ra số 44 Lý Thường Kiệt, dọc đường bao nhiêu câu chuyện nổ ra sôi nổi lắm. Nhưng có điều, bao nhiêu khát khao được đặt chân lên Hà Nội giờ đây lại tan biến. Tôi lại nhớ đến quê nhà nghèo khó. Hình ảnh mái tranh, vách đất nằm bên dòng Lam Giang hiền hòa, cùng cha mẹ, anh chị em và tình yêu đầu đời của tôi cứ ẩn hiện. Một cảm xúc dâng tràn trong con người tôi lúc ấy”.

Rồi ông được đi học. Ba tháng lý thuyết về ngành Kiểm sát ở VKSND tỉnh Thái Bình cũng chóng qua. Ông và các học viên được đi thực tế ở các đơn vị kiểm sát huyện. Học viên Dương Thanh Biểu được cử về VKDND huyện Đông Hưng cùng một người khác. Đây là những ngày tháng ông bước vào thực tế của nghề công tố. Và bài học đầu đời của ông trong nghề không phải là giải quyết một vụ án mà là giải quyết một lá đơn tố cáo theo… tin đồn.

Theo như ông, thời đó việc người chồng đi mặt trận chiến đấu, vợ ở nhà nếu có chuyện tằng tịu trai gái thì bị đưa ra xử lý rất nghiêm. Ngày đó, ông được giao phối hợp với một nữ Chủ tịch xã xử lý những tin đồn râm ran của một cô “gái một con trông mòn con mắt” nhưng lại “có vấn đề” với ông anh họ. Tuy không ai bắt tận tay, day tận mắt, nhưng thời đó tin đồn kiểu thế này trở thành “đề tài nóng” cần phải được xử lý ngay. Sau khi đi xác minh, ông thấy sự việc chỉ là tin đồn, không đủ căn cứ để xử lý. Nhưng bà Chủ tịch xã thì lại gay gắt bức xúc, bà “yêu cầu đồng chí Viện trưởng phải giúp đỡ chính quyền và nhân dân xã mở ngay cuộc vận động trong quần chúng phê và tự phê về hành vi quan hệ không lành mạnh của đôi trai gái đó”.

Ít hôm sau, vào một buổi tối, UBND xã đã cho tổ chức một buổi họp với sự có mặt của tất cả nhân dân trong xã. Khi buổi họp bắt đầu, người đồng nghiệp của ông đang đọc báo cáo về “Tăng cường pháp chế XHCN” thì những tiếng râm ran ở dưới, sau đó là tiếng la hét, chửi bới om sòm. Khi sự việc chưa định thần được thì có tiếng thét của một ai đó: Ôi làng nước ơi, tôi bị cắt tai rồi… Tiếp đến là lộn xộn như có loạn. Các đồng chí an ninh phải vất vả lắm mới ổn định lại trật tự, còn ông và các cán bộ xã thì hốt hoảng tìm nơi ẩn náu trong trụ sở UBND. Mọi người tá hóa vì người bị cắt tai là chồng của “cô gái một con” kia. Bởi vì sau khi về quê thăm vợ, nghe tin đồn về người vợ, từ anh em họ hàng, trở thành thù địch. Phe ủng hộ ông anh họ, phe ủng hộ người chồng. Vì quá bức xúc với hành vi của người chồng nên đã có ai đó lén lút cắt tai của ông chồng. Sự việc này sau cũng chẳng tìm ra được thủ phạm. Suốt đêm đó, ông không ngủ được…

Qua sự việc, ông thấm thía rằng, học nghề kiểm sát không chỉ học thật giỏi về pháp luật mà phải rèn luyện cho mình phong cách làm việc, phương pháp tư duy sáng tạo, cẩn trọng, khách quan và khoa học. Mọi sự qua loa, đại khái, chủ quan, nóng vội cả về nhận thức và phương pháp tiến hành đều rất dễ dấn đến sai lầm. Chuyện về người đàn ông bị cắt tai giữa cuộc họp toàn dân ở Đông Hưng, Thái Bình không chỉ là kỷ niệm đầu đời đối với ông mà là một bài học đắt giá đối với nghề công tố theo suốt cuộc đời của ông sau này.

Hé lộ những trang hồ sơ quyết định sinh mệnh không ít những nhân vật đặc biệt.

Với hơn nửa cuộc đời cho đến lúc nghỉ hưu, ông dành hết tâm huyết của mình cho ngành Kiểm sát. Trong thời gian công tác ở Viện KSNDTC, ông đã cùng đồng nghiệp xử lý hàng ngàn vụ án. Mỗi vụ có một đặc điểm, cách xử lý khác nhau và mang lại cho ông những cảm xúc khác nhau. Kể ra thì nhiều, nhưng với ông có những vụ đã lui vào quá khứ gần 40 năm, nhưng nó vẫn như hiển diện trước mặt ông, trong tâm trí ông. Có nhiều vụ thật sự gắn liền với ông về những niềm vui và nỗi, những ngọt bùi và cay đắng, những thành công và thất bại của mình và của đồng nghiệp.

Thời thụ lý vụ án trùm ma túy Vũ Xuân Trường, ông phải vượt qua muôn vàn khó khăn để đảm bảo sự an toàn cho bản thân và gia đình.

Sau đợt thực tập ở Thái Bình, ông được điều về Vụ Kiểm sát điều tra án trị an an ninh (Vụ 2B). Ông công tác ở đây cho đến khi lên giữ vị trí cao nhất là Vụ trưởng, sau đó được tín nhiệm cử lên Phó Viện trưởng, VKSNDTC. Thời ông về công tác, lúc này Viện trưởng là ông Hoàng Quốc Việt (tức Hạ Bá Cang) một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong 16 năm giữ chức Viện trưởng, ông Hoàng Quốc Việt là tấm gương mẫu mực để lại trong lòng các cán bộ nhân viên trong cơ quan về sự khâm phục, ngưỡng mộ và học tập noi theo.

Khi ông về nhận công tác tại Vụ 2B được một thời gian ngắn, ông đã cùng với Vụ 2B thụ lý một vú án oan, mà hình ảnh của người bị oan cúi lạy cây si già trong khuôn viên Viện KSNDTC đã trở thành kỷ niệm khó quên trong ông.

Đó là vụ án oan của ông Nguyễn Thế Bưu, từng là một thầy giáo nhưng sau đó vì sự thật thà, tốt bụng của người vợ mà ông và người cháu dính vào vòng lao lý, tù đày oan uổng, khắc nghiệt.
Ngày đầu được đi tiếp dân cùng đồng chí Phó vụ trưởng Đặng Huy Phúc, ông đã gặp ông Bưu đến kêu oan về bản án mà Tòa án thành phố Hà Nội đã xét xử. Sau này, vụ việc đã được Viện trưởng Hoàng Quốc Việt trực tiếp nghe và chỉ đạo xác minh. Sau khi nghe báo cáo của các đơn vị nghiệp vụ VKSNDTC, Viện trưởng Hoàng Quốc Việt đã kết luận, bản án sơ thẩm trước đó đã có nhiều vi phạm nghiêm trọng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Bản án sơ thẩm đã được Viện trưởng VKSNDTC đích thân ký quyết định kháng nghị, yêu cầu TAND thành phố Hà Nội xét xử lại theo hướng hủy án để điều tra lại.

Sau một thời gian điều tra tỉ mỉ, cẩn thận, nội dung vụ án đã được lật ngược. Ông giáo Bưu và người cháu của ông đã được minh oan. Đồng thời, những kẻ cướp nhà của ông Bưu và 2 bị can nguyên là cán bộ Tòa án và Phó chủ tịch quận đã bị xử lý nghiêm. “Tôi vẫn nhớ mãi hình ảnh sau khi tuyên án, hàng trăm người dân có mặt tại phiên tòa đã vỗ tay hoan nghênh, đồng tình với bản án hợp tình, hợp lý, lúc đó một cảm giác xúc động cũng trào dâng mãnh liệt trong tôi”, ông chia sẻ.

Qua vụ án này, ông rút ra một điều, là người nắm quyền năng pháp lý, người cầm cân nẩy mực xác định đúng sai khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, luôn luôn liên quan tới sinh mạng chính trị của con người… cho nên hơn ai hết, không ai khác, chính những người trong ngành Kiểm sát phải có đạo đức trong sáng và có phẩm chất chính trị vững vàng, kiên định lập trường.

Tiếp đến, một vụ án mà đến bây giờ ông vẫn xúc động, rưng rưng khi kể thuộc lòng từng chi tiết. Đó là vụ án về Tạ Đình Đề, một con người đã đi vào lòng người như một huyền thoại, vào sách báo lẫn truyền tụng trong dân gian. Thời đó, từ người già cho đến trẻ con, không ai là không biết Tạ Đình Đề, con người cả cuộc đời như một thiên tiểu thuyết, là thần tượng của biết bao nhiêu người.

Cũng cần nói rõ thêm một chi tiết, ở thời điểm xét xử vụ án Tạ Đình Đề, Vụ Kiểm sát điều tra án an ninh (2C) vừa được tách ra từ Vụ 2B. Thời gian này, Vụ 2C được giao nhiệm vụ thụ lý kiểm sát điều tra vụ án Tạ Đình Đề phạm tội về tội an ninh. Ngày 15/9/1985, Tạ Đình Đề bị bắt giam, sau hơn 1 năm, Cơ quan điều tra đề nghị Viện KSNDTC gia hạn giam đặc biệt.

Có thể điểm lại đôi nét về vụ án trước đây. Ngày 4/7/1975 Tạ Đình Đề đã từng bị bắt giam, tuy tố, xét xử về tội Cố ý làm trái chế độ, tham ô và Hối lộ. Tuy nhiên, khi xét xử, Chủ tọa phiên tòa lúc đó là bà Phùng Lệ Trân đã phân tích sâu sắc và lần lượt bác bỏ thẳng thừng các lập luận của cáo trạng đã quy kết cho bị cáo. Khi Hội đồng xét xử quyết định Tạ Đình Đề không phạm và tuyên bố tha bổng ông tại phiên tòa thì hàng nghìn người dự khán đã vỗ tay nhiệt liệt hoan hô.

Với người thanh niên trẻ Dương Thanh Biểu, lúc đó đến tham dự nhằm để bổ sung thêm kinh nghiệm cho mình. “Khi tòa tuyên án Tạ Đình Đề, một cảnh tượng xúc động hiện ra mà tôi chưa gặp lần nào trong đời: Rất nhiều người ào ào vào công kênh Tạ Đình Đề lên vai. Rất nhiều bó hoa, bông hoa tươi thắm tặng cho người huyện thoại ấy. Những chiến sĩ công an trước đây khóa tay dẫn giải ông thì giờ mở còng và dẫn đầu mở lối cho ông ra với nhân dân, đồng đội, bạn bè và người thân… Tất cả như hòa trộn vào nhau như bản hòa ca chân thực chứa đựng nhiều cung bậc và âm hưởng của tình người…”, ông bồi hồi nhớ lại.

Hình ảnh xúc động đó mới ngày nào mà đã gần chục năm. Ngày đó, trong tay ông là bộ hồ sơ Tạ Đình Đề bị truy tố về một tội an ninh. Ông kể, khi ôm tập hồ sơ trên tay mà đồng chí Phan Xuân Bá, Phó vụ trưởng giao nghiên cứu hồ sơ và đề xuất phê chuẩn theo đề nghị gia hạn giam đặc biệt của cơ quan an ninh điều tra, lòng ông trĩu nặng. Bởi vụ án gần 10 năm về trước, trong ông còn hiện hữu, “lúc ấy, tôi không hiểu vì sao một vụ án nghiêm trọng, được huy động lực lượng điều tra và kiểm điều tra hùng hậu, các ngành chuẩn bị khá công phu, chu đáo nhưng rốt cuộc bản cáo trạng của VKSNDTC lại bị TAND thành phố Hà Nội bác bỏ một cách thẳng thừng như vậy? Sự bác bỏ đó nghe ra đầy thuyết phục, được dư luận nhân dân tham dự tại phiên tòa nhiệt liệt hoan nghênh”.
Và sự băn khoăn trên đã giúp ông thấm thía một điều mà sau này khi đã trở thành cán bộ cao cấp của của ngành cũng luôn luôn tâm niệm: Công tác điều tra, truy tố, xét xử một con người, nhất là người đó lại có ảnh hưởng trong xã hội phải hết sức thận trọng, khách quan và toàn diện.

Với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ông thấy hành vi lượm lặt ca dao hò vè có tính chất châm biếm của Tạ Đình Đề xuất phát tự động cơ bất mãn chứ không có ý thức chống đối chế độ, Nhà nước. Và quy định trong Bộ luật hình sự thì hành vi đó không phạm tội. Ông bảo, mặc dù đã được cấp trên yêu cầu “nghiên cứu thế nào, báo cáo như vậy” nhưng ông cảm thấy lo lắng khi báo cáo quan điểm vụ án này vì trong hồ sơ có những vị chức sắc quyền cao, chức trọng đã khẳng định chắc nịch phải xử Tạ Đình Đề về tội chống đối chế độ. Do vậy, ông cũng không vội vàng gì, lại tiếp tục nghiên cứu hồ sơ.

Trở lại vụ án, khi nghiên cứu mấy tập hồ sơ vụ án Tạ Đình Đề dày cộm, có quá nhiều tài liệu khiến ông băn khoăn. Đặc biệt là những công văn báo cáo cấp trên hoặc trao đổi thông tin xoay quanh việc bắt Tạ Đình Đề, việc gia hạn tạm giam đặc biệt. “Không ít lần tôi tự nhủ, hãy cứng cỏi và vững vàng thể hiện bản lĩnh một cán bộ bảo vệ công lý”, ông nhớ lại cảm xúc đan xen về thời khắc phải lựa chọn  trước khi  quyết định báo cáo vụ Tạ Đình Đề.

Tuy nhiên, ông vẫn giữ vững quan điểm ban đầu nhưng nghĩ đến việc báo cáo ông đã hơi run rồi. “Nếu lãnh đạo không đồng ý với mình thì không những sẽ kéo thêm những ngày tháng đau khổ cho Tạ Đình Đề mà mình còn bị đánh giá là hữu khuynh, không kiên quyết đấu tranh chống tội phạm. Nhiều lúc mệt mỏi quá, tôi chặc lưỡi hay cứ báo cáo đề xuất đề nghị của cơ quan điều tra, có khi lại hay cho mình. Nhưng cuối cùng, cái tâm con người giúp tôi vượt qua mọi trở ngại trong báo cáo của mình, tôi mạnh dạn đề xuất không cần thiết phải tiếp tục tạm giam bị can thêm nữa”, ông nói.

Những ý kiến phân tích về vụ án Tạ Đình Đề của ông sau đó được Phó Vụ trưởng Phan Xuân Bá gật đầu đồng ý. Nhưng ở trên thì còn rất rắc rối, thậm chí còn có ý kiến quy kết cho ông như đã từng nghĩ trước đó: Tư tưởng hữu khuynh, không kiên quết đấu tranh chống tội phạm…

Trải qua một thời gian nghiên cứu hồ sơ và chỉnh sửa chi tiết bản báo cáo, phân tích tích đúng sai về hành vi của Tạ Đình Đề, ngày 8/1/1987, Viện trưởng VKSNDTC lúc đó là ông Trần Lê đã có công văn trả lời Bộ Công an về việc không cần thiết giam cũng như đưa Tạ Đình Đề ra truy tố, xét xử. Sau đó là các báo cáo của VKSNDTC được gửi đi cũng như tổ chức nhiều cuộc hợp liên ngành, bởi quan điểm vẫn chưa thống nhất. Sau một thời gian dài, với những lập luận đầy cơ sở, ngày 7/12/1987, VKSNDTC đã quyết định trả tự do cho Tạ Đình Đề.

Sau vụ án Tạ Đình Đề, thêm một vụ án mà ông cũng day dứt khi nghiên cứu đề xuất giải quyết, đó là vụ án N2 ở Đồng Nai. Đây là vụ án mà các bị can từng giữ những chức vụ rất quan trọng trong ngành Công an tỉnh Đồng Nai. Vụ án N2 được phát hiện sau khi có đơn tố cáo của quần chúng nhân dân. Để xử lý vụ án này, ông cùng một số đồng chí trong Vụ 2C vào trong Đồng Nai phối hợp với địa phương để giải quyết. Trong vụ án N2, đáng chú ý có một nhân vật liên quan là ông Bùi Đình Kiểm, nguyên Phó giám đốc công an tỉnh. Trong quá trình xác minh chứng cứ, cũng có ý kiến cho rằng ông Bùi Đình Kiểm cần áp dụng biện pháp bắt tạm giam đẻ điều tra. Tuy nhiên cũng có ý kiến cần xem xét lại cẩn trọng hơn vì từ trước tới nay, ông Kiểm là cán bộ tốt, sống chân thành, bao nhiêu năm trong ngành chưa có điều tiếng gì. Vấn đề này được giao cho ông nghiên cứu xác minh làm rõ.

Ông đã cùng với một đồng chí trong Ban Chuyên án xuống nhà ông Kiểm để thu thập thêm chứng cứ. “Khi nghe ông tâm sự về những mệt mỏi trong thời gian liên quan đến vụ việc mà tôi không cầm lòng được. Tôi nghĩ Phó giám đốc công an tỉnh, một chức danh đầy uy lực khi tại vị. Thế mà giờ đây bóng chiều cuộc đời đã đổ xuống mái đầu bạc trắng và đôi vai gầy xo của ông. Sức khỏe và sự thanh thản là cái mà ông cần nhất lúc này”. Nghĩ thế, nên trong vụ án này, không chỉ có ông mà nhiều thành viên trong ban chuyên án đều rất cẩn trọng để không làm oan một con người trung trực, thanh liêm như ông Kiểm.

Và thật may mắn, trong chuyến đi xuống nhà ông Kiểm lần thứ hai, ông và đồng nghiệp trong Ban Chuyên án đã tìm ra được chứng cứ minh oan cho ông vị nguyên Phó giám đốc công an tỉnh Bùi Đình Kiểm.

Ông bảo, muốn kể lại cho tôi vụ án này để thấy được yêu cầu chính xác, thận trọng trong điều tra lập án quan trọng đến mức nào. Dù rằng, sau điều tra còn nhiều quy trình khác nữa nhưng chính ngay trong quá trình điều tra mà cán bộ tuân thủ pháp luật, có tâm huyết, thận trọng thì sẽ có kết quả tốt, hạn chế oan sai. Bởi đằng sau mỗi bản án, mỗi trang hồ sơ là nhân phẩm, thân phận mỗi con người.

Tạm dừng câu chuyện về vụ án N2, ông nhấp ngụm trà rồi tiếp tục câu chuyện mà ông cho là sẽ vui hơn. Câu chuyện về gã không tặc thèm… thịt chó.

Có lẽ khi nói tên nhân vật này chẳng ai không biết: Lý Tống. Kẻ mới đây khiến cho giới truyền thông, báo chí ở Việt Nam tốn khá nhiều giấy mực về hành vi giả dạng rồi xịt hơi cay vào mặt ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng tối ngày 18/7/2010 tại sân khấu Trung tâm Hội nghị Santa Clara (Califonia – Mỹ). Lý Tống tên thật là Lê Văn Tống, sinh năm 1948 tại Thừa Thiên – Huế, là một kẻ ảo tưởng điên cuồng về bản thân. Nhiều lần gã đã dùng máy bay để rải truyền đơn ở Việt Nam, với hi vọng nhân dân sẽ nổi dậy lật đổ chính quyền, gã sẽ là người hùng và được đưa lên làm… tổng thống. Gã từng tham gia trong đội quân chế độ cũ và từng tham gia ném bom ở vùng Tây Nguyên. Sau 1975, y bị bắt đi cải tạo, sau đó trốn sang Thái Lan, vượt biên sang Mỹ.

Ngày 4/9/1992, Lý Tống uy hiếp phi công lái chiếc máy bay A310 của Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam bay qua thành phố Hồ Chí Minh rồi thả truyền đơn. Lý Tống nhảy dù xuống và bị bao vây, sau đó đã bị cơ quan chức năng Việt Nam bắt và giam giữ tại trại giam Chí Hòa.

Trở lại nội dung vụ án trước khi được xét xử. TS Dương Thanh Biểu cho biết, trong quá trình hỏi cung và tống đạt cáo trạng đối với Lý Tống gây cho ông nhiều ấn tượng. Nhất là sự ảo tượng, lỳ lợm và rất hay lý sự cùn của hắn. Có nhiều nội dung mà khi ông kể lại, không bao nhiêu người được biết như việc hắn yêu cầu ra tòa phải có luật sư người Mỹ, được mặc comle và có báo chí nước ngoài tham dự. Sau này khi hắn chịu khuất phục, ra tòa còn muốn được xin lỗi và… tặng cho cho các tiếp viên mà hắn đã đe dọa trên máy bay.

Ông kể lại, khi mới bắt đầu hỏi cung, sau vài câu chào hỏi, hắn đã bảo thèm thịt chó. Mặc dù thời gian này, thời tiết ở đây nóng nực nhưng hắn bảo, nếu được ăn thịt chó vào thì “mát như tắm sông cán bộ à”. Tuy nhiên, sau đó việc lấy cung đối với hắn cũng rất khó khăn, khi nghe hắn khai về lý lịch, trong đó có thời gian ném bom ở vùng Đắc Tô, Tân Cảnh (Kon Tum).

“Khi hắn kể về việc bị quân giải phóng bắn rơi máy bay vào sáng ngày 13/2/1973, tôi đưa mắt nhìn hắn, hạ giọng: Anh có biết người bắn máy bay của anh bị thương không? Hắn gãi tai, gãi tóc bảo không biết. Lúc đó, bác Lương đi cùng tôi hỏi hắn của muốn gặp người đã bắn máy bay hắn bị rơi không. Hắn ngạc nhiên và mong gặp lắm. Bác Lương nhìn vào mắt hắn và nói: Anh Biểu đây. Chính anh Biểu là người chỉ huy đơn vị bắn máy bay các anh đấy (lúc đó ông là Đại đội trưởng, Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 28, Sư đoàn 10 – PV). Nghe đến đây, Lý Tống trố mắt nhìn tôi. Một tình huống mà tôi chưa bao giờ gặp là Lý Tống đứng dậy cúi người về phía trước đưa hay tay nắm chặt lấy hai tay tôi. Bỗng hắn đổi giọng: Không ngờ người hỏi cung tôi hôm nay là người mà năm xưa ở bên kia chiến tuyến đã bắn tôi. Để kỷ niệm một thời chinh chiến, cán bộ cho phép tôi gọi là thủ trưởng nhé”.

Và nhờ việc được “lên chức” một cách bất ngờ như vậy, nên việc tôi hỏi cung sau đó đối với Lý Tống cũng thuận lợi hơn. Vụ án được đưa ra xét xử 24/2/1993 tại TP Hồ Chí Minh, Lý Tống bị kết án 20 năm tù vì tội cướp máy bay. Tháng 9 năm 1998, chính quyền Việt Nam quyết định tha và trục xuất Lý Tống trong một đợt đặc xá. Nhưng sau đó y vẫn chứng nào tật nấy với hàng loạt hành vi cướp máy bay, rải truyền đơn ở Việt Nam, Cu Ba, Hàn Quốc…

Những vụ án kể trên, theo ông thì vấn đề phức tạp nhưng không ảnh hưởng đến gia đình ông, đến vợ và hai người con của ông.

Chỉ đến khi tham gia vụ án buôn bán ma túy của Vũ Xuân Trường và đồng bọn những năm 1996-1997 thì mối hiểm nguy của ông và gia đình mới bị đe dọa, rình rập. Đây là khoảng thời gian mà ông đã được bổ nhiệm Vụ trưởng Vụ 2C thay ông Bùi Quang Nam về nghỉ hưu theo chế độ.

Hẳn chúng ta còn nhớ vụ án Vũ Xuân Trường là một vụ án mà nhiều cán bộ các cơ quan pháp luật ngành bị truy tố và nhận nhiều bản án nghiêm khắc nhất. Trước đó, vụ án Siêng Phênh và Siêng Nhông (quốc tịch Lào) bị bắt giữ, đưa ra xét xử, Siêng Phênh bị tuyên án tử hình. Khi đang làm thủ tục thi hành án thì Siêng Phênh đã khai thêm nhiều tình tiết mới mà chưa bao giờ có trong vụ án. Với “công trạng” này, Siêng Phênh được Chủ tịch nước ân giảm từ án án tử hình xuống chung thân (ngày 29/8/2010 Siêng Phênh được đặc xá tại trại giam Thanh Xuân nhưng ngày 8/4/2012 lại bị bắt khi đang mang 39 bánh hê-rô-in từ Lào sang Việt Nam, theo Luật Hình sự của Lào thì Siêng Phênh khó có khả năng thoát án tử hình).

Trở lại vấn đề, sau khi được điều tra, vụ án có gần 22 bị can bị truy tố, trong đó có đến 10 bị can nguyên là công an và bộ đội biên phòng.

Khi vụ án đang trong giai đoạn điều tra triệt để thì một tờ báo đưa tin liên quan đến 2 bị can trong vụ án. “Theo nội dung bài báo thì việc ký quyết định trả tự do cho Siêng Nhông trước đây là do VKSNDTC quyết định, mà lúc đó người ký là tôi, Phó Vụ trưởng 2C. Hôm tôi về nhà, vợ tôi cũng biết và rất lo cho tôi, vì trong vụ án này có nhiều bị can nguyên là cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật đã bị truy tố. Vợ tôi sợ cán bộ ngành Kiểm sát cũng khó tránh khỏi. Hai vợ chồng đang trao đổi thì con gái tôi cầm tờ báo chạy về nói với tôi sự việc tương tự. Tuy nhiên, khi đọc kỹ thì tôi biết báo đã viết sai tên tôi, dựa vào đó, tôi đã an ủi vợ và con yên tâm, tôi không bị sao cả. Nhưng một sự việc mà giờ con gái nói tôi mới biết, là có điện thoại gọi đến đe dọa tôi và gia đình. Nghe con gái kể chuyện bị cuộc gọi đe dọa, vợ tôi nước mắt lưng tròng, con gái ôm lấy tôi khóc nức nở”, ông kể cho tôi nghe những ngày lo lắng cho vợ con trong giai đoạn điều tra vụ án “nhạy cảm” này.

Nhìn cảnh vợ khóc, con sụt sùi, lòng ông se lại. Ông nghĩ, trong bước đường cùng, bọn tội phạm có thể làm liều, chúng có thể bắt cóc, giết người không ghê tay. “Sau đó, tôi phải dặn vợ con ra đường cẩn thận, không được nghe điện thoại…”, ông chia sẻ.

Những khó khăn, rắc rối mà ông gặp phải trong vụ án này còn nhiều. Thậm chí còn có thông tin cán bộ Viện dính líu đến vụ án. Tuy nhiên, ông cho biết, “việc giải trình theo nội dung bài báo, cũng như đơn kêu oan của một số bị can sau đó đã được chúng tôi chứng minh, lập luận việc làm của mình là hoàn toàn chính xác”.

Bản án phúc thẩm sau đó đã chấm dứt cuộc tranh cãi mà báo chí khi đó mất nhiều thời gian đăng tải. Nhưng bài học và kỷ niệm của vụ án thì đi theo ông suốt mãi cuộc đời. Sau này khi là cán bộ cấp cao của ngành thì bài học đó vẫn luôn nhắc nhủ ông, trong đấu tranh phòng chống tội phạm phải luôn thể hiện tinh thần kiên quyết, không khoan nhượng với bọn tộ phạm nhưng cũng phải hết sức thận trọng khi xem xét, đánh giá, kết luận một vấn đề chẳng bao giờ thừa đối với một cán bộ ngành kiểm sát.

Một vụ án nữa, mà theo ông cũng để lại nhiều dấu ấn và kỷ niệm. Vụ án Lã Thị Kim Oanh. Đây là vụ án mà có hai bị can nguyên là Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, thậm chí còn có liên đới đến Bộ trưởng Lê Huy Ngọ, Nguyên Bộ trưởng, Phó thủ tướng Nguyễn Công Tạn.

Đây là vụ án mà lần đầu ở nước ta, có Bộ trưởng sẵn sàng ra Tòa để đối chất với bị can, cũng có Phó Thủ tướng duy nhất đối chất trước máy quay để làm bằng chứng tại tòa. Ông chia sẻ, rất có ấn tượng với Bộ trưởng Lê Huy Ngọ lúc đó, với cương vị là Bộ trưởng NN&PTNN rồi Trưởng ban phòng chống lụt bão. Ông Ngọ đã làm được rất nhiều việc mà người dân mong chờ, nhưng khi vụ án Lã Thị Kim Oanh xảy ra, ông đã bị tổn thương ghê gớm lắm.

“Những hệ lụy của vụ án Lã Thị Kim Oanh làm cho ông Ngọ day dứt nhiều. Tôi đã có nhiều lần gặp và làm việc với ông Ngọ, cứ mỗi lần gặp lại thấy ông Ngọ như già nhanh hơn, tôi nghĩ tuổi tác một phần, còn dư luận, nhất là sau phiên tòa sơ thẩm kết thúc mới là chính. Những ai từng bị dư luận đưa tin không chính xác về mình mới thông cảm được nỗi khổ của người bị báo chí “kết tội” sai”.  Ông nói thêm, “khi vụ án khép lại, tôi và ông Lê Huy Ngọ cũng ít gặp nhau. Bỗng một hôm nghe tin ông Ngọ từ chức. Từ sâu thẳm đáy lòng, tôi thấy vừa thương, vừa tiếc cho một con người cần mẫn như ông Ngọ. Thương cho ông Ngọ gần chục năm lăn lộn, cống hiến, hi sinh cho nghề nông, với bà con nông dân, ngư dân vất vả tạo tần, một cán bộ đầy trách nhiệm và tình thương như ông ấy nay lại phải treo ấn từ quan… Nhưng nghĩ lại, tôi thấy ông Ngọ ứng xử đúng với lương tâm và trách nhiệm”.

Và ông đúc kết với tôi một điều: cái gì cũng vậy, sau sóng gió, con người ta cần những bến đậu, những khoảng lặng bình yên. Không gì thú vị hơn khi được sống thanh thản.

BSMOnline

Chia sẻ cảm nhận của bạn

Tin liên quan

Kỳ án hiện đại - Báo PLTP Hồ Chí Minh

Bình luận Người đăng: Admin

Kỳ án hiện đại - Bài 1: Tạ Đình Đề hai lần bị xử (*Pháp luật TPHCM - 1 tháng trước 204 lượt xemSau lần được tuyên trắng án, được người dân công kênh như người hùng từ trận mạc... Xem thêm

Trong mắt bạn bè

Bình luận Người đăng: Admin

(Dân trí) - Đừng nghĩ cô ấy là “thứ sinh vật mồm năm miệng mười” suốt ngày phàn nàn, chỉ trích. Nếu bạn là ông chồng thực hiện tốt 10 điều sau đây, cô ấy sẽ... Xem thêm